Nghiên cứu khả năng cố định một số kim loại nặng của than sinh học (biochar) và tro bay để xử lý đất ô nhiễm do khai thác khoáng sản - Pdf 48

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN NHẬT HIẾU

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH MỘT SỐ
KIM LOẠI NẶNG CỦA THAN SINH HỌC (BIOCHAR)
VÀ TRO BAY ĐỂ XỬ LÝ ĐẤT Ô NHIỄM
DO KHAI THÁC KHOÁNG SẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN NHẬT HIẾU

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG CỐ ĐỊNH MỘT SỐ
KIM LOẠI NẶNG CỦA THAN SINH HỌC (BIOCHAR)
VÀ TRO BAY ĐỂ XỬ LÝ ĐẤT Ô NHIỄM
DO KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Chuyên ngành: Khoa học môi trường
Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Đặng Văn Minh


Cuối cùng, em xin dành một tình cảm biết ơn đến gia đình và bạn bè,
những người đã luôn ở bên cạnh, động viên, chia sẻ cùng em trong suốt thời
gian học tập cũng như quá trình thực hiện luận văn thạc sĩ.
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2017
Học viên

Nguyễn Nhật Hiếu


iii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1.

Quy định mức giới hạn kim loại nặng trong đất ..................................... 6

Bảng 1.2.

Một số loài thực vật có khả năng tích luỹ kim loại nặng cao ................. 8

Bảng 1.3.

Một số loài thực vật cho sinh khối nhanh có thể sử dụng để xử lý
kim loại nặng trong đất ............................................................................ 9

Bảng 1.4.

Số lượng rơm tính theo các loại cây trồng ở Trung Quốc năm 2002.......... 18

Bảng 1.5.



Bảng 3.3.

Phân tích mức độ ô nhiễm kim loại trong đất mỏ chì kẽm Làng Hích ........... 44

Bảng 3.4.

Lượng rơm rạ phát sinh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên ........................ 45

Bảng 3.5.

Tiềm năng sản xuất than sinh học từ rơm rạ tại tỉnh Thái Nguyên ....... 46

Bảng 3.6.

Thành phần, tính chất của than sinh học sản xuất từ rơm rạ ................. 46

Bảng 3.7.

Bảng kết quả phân tích thành phần của đất trước phân tích .................. 47

Bảng 3.8.

Bảng kết quả các chỉ tiêu pH trong quá trình ủ Biochar, tro bay .......... 48

Bảng 3.9.

Bảng kết quả các chỉ tiêu Eh trong quá trình ủ Biochar, tro bay .......... 49

Bảng 3.10. Bảng kết quả các chỉ tiêu EC trong quá trình ủ Biochar, tro bay .......... 50


Biểu đồ lượng tro bay tạo thành, tro bay sử dụng và phần trăm sử
dụng tro bay ở Trung Quốc từ 2001-2008............................................. 30

Hình 3.1.

Sơ đồ hành chỉnh tỉnh Thái Nguyên ...................................................... 40


v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................. iii
DANH MỤC HÌNH ................................................................................................... iv
MỤC LỤC ................................................................................................................... v
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................... 1
2. Mục tiêu .............................................................................................................. 2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn ............................................................... 2
3.1. Ý nghĩa khoa học ......................................................................................... 2
3.2. Ý nghĩa thực tiễn ......................................................................................... 2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 3
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài ............................................................ 3
1.1.1. Cơ sở khoa học ......................................................................................... 3
1.1.2. Thực tiễn đề tài ......................................................................................... 3
1.2. Tổng quan về nghiên cứu ô nhiễm KLN trong đất do khai thác khoáng sản ...... 4
1.2.1. Tại Việt Nam ............................................................................................ 4
1.2.2. Tại nước ngoài .......................................................................................... 5
1.2.3. Ngăn chặn ô nhiễm kim loại nặng ............................................................ 6

3.1. Thực trạng việc khai thác khoáng sản và đất bị ô nhiễm KLN trên đất
khai thác khoáng sản tại Thái Nguyên .................................................................. 40
3.2. Đánh giá nguồn nguyên liệu sản xuất than sinh học (biochar) và tro bay
tại tỉnh Thái Nguyên ............................................................................................. 42
3.2.1. Tình hình phát sinh và thành phần tính chất của tro bay nhà máy
nhiệt điện .......................................................................................................... 42
3.2.2. Nguồn nguyên liệu rơm rạ và thành phần tính chất của than sinh
học sản xuất từ rơm rạ ...................................................................................... 44
3.3. Nghiên cứu khả năng hấp phụ kim loại nặng của than hoạt tính, tro bay
trên đất sau khai khoáng ....................................................................................... 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................ 54
1. Kết luận ............................................................................................................. 54
2. Kiến nghị ........................................................................................................... 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 56
PHỤ LỤC


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có số lượng mỏ khoáng sản lớn Đất tại những vùng sau khi khai
thác khoáng sản rất nghèo kiệt và suy thoái nghiêm trọng (Đặng Văn Minh và cs,
2011). Việc suy thoái và ô nhiễm môi trường đất đã làm cho những vùng đất này
không có khả năng canh tác nông nghiệp hoặc nếu trồng được cây nông nghiệp
nhưng hiệu quả thấp và sản phẩm nông nghiệp trồng trên đất này không an toàn cho
người sử dụng (Đặng Văn Can và Đào Ngọc Phong, 2000, Phạm Quang Hà, 2002). Một số
nguyên tố kim loại nặng có tính độc hại cao trong đất sau khai khoáng có thể gây
hại tới động, thực vật và con người (Trịnh Thị Thanh, 2002).
Kim loại nặng (KLN) có thể tồn tại ở trạng thái phản ứng (linh động), hay
không phản ứng (cổ định). Để xử lý kim loại nặng trong đất thường cổ định và ngăn

- Đánh giá nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ sau thu hoach) để tạo
than sinh học và nguồn nguyên liệu tro bay tại Thái Nguyên.
- Nghiên cứu khả năng hấp phụ KLN của các loai than sinh học (sản xuất từ
phế phẩm nông nghiệp như rơm rạ) và tro bay từ phê thải của các nhà máy nhiệt
điện để xủ lý đất bị ô nhiễm KLN do khai thác khoáng sản.
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu về tính chất của than sinh học và tro bay và thành phần kim loại
nặng có trong đất sau khai khoáng. Phân tích, đánh giá được những chỉ tiêu trong
đất và hàm lượng kim loại nặng trong đất thay đổi như thế nào với các công thức ủ
than sinh học và tro bay khác nhau.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu khả năng xử lý đất bị ô nhiễm do bị ô nhiễm kim loại nặng do
khai thác khoáng sản bằng các vật liệu rẻ tiền và sẵn có tại các địa phương như than
sinh học, tro bay.


3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
1.1.1. Cơ sở khoa học
Than sinh học (TSH) được sản xuất từ rơm rạ hiện thường được coi là phế phụ
phẩm nông nghiệp. Các loại TSH đều có đặc điểm chung: Độ xốp cao có khả năng
giữ không khí, giữ nước, chất dinh dưỡng, môi trường sống thích hợp cho một số vi
khuẩn và sự phát triển của thực vật, đồng thời có khả năng hấp thụ của các KLN.
Tro bay là một loại chất thải rắn sinh ra từ quá trình đốt than từ các nhà máy
nhiệt điện. Mỗi năm, các nhà máy nhiệt điện Việt Nam tiêu thụ gần 14 triệu tấn than
và thải ra khoảng 4,5 triệu tấn tro xỉ phế thải. Đến năm 2020, lượng tro xỉ thải lên
đến 16 triệu tấn/năm. Thành phần hóa học của tro bay chủ yếu là hỗn hợp các ôxit

loại bỏ KLN trong nước và sử vật liệu hấp phụ bằng thực vật.
Đất là một trong những thành phần chủ yếu của môi trường, do đó công tác
quản lý đất là hết sức quan trọng và cấp thiết có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến
chất lượng, môi trường đất. Các hoạt động đô thị, khai khoáng, nông nghiệp là
nguyên nhân gây suy giảm chất lượng đất và các hình thức bảo vệ nguồn tài nguyên
đất là yêu cầu khẩn cấp, đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng trong đất.
Việc khai thác, sản xuất và sử dụng các sản phẩm hóa học (ví dụ như ắc quy,
chất thải công nghiệp, cặn bùn,…) gây ô nhiễm kim loại nặng trong đất. Bản thân kim
loại nặng cũng tồn tại tự nhiên trong đất nhưng hiếm khi tồn tại ở mức độ độc hại.
Sự tích lũy kim loại nặng quá mức trong đất gây độc hại cho người dân và
những động vật khác. Các thói quen thải kim loại nặng bừa bãi (trong thời gian dài)
làm thay đổi chuỗi thức ăn. Ngộ độc cấp tính từ kim loại nặng hiếm khi do ăn vào
hoặc tiếp xúc qua da nhưng cũng hoàn toàn có thể. Việc tiếp xúc với kim loại nặng
lâu ngày sẽ gây nên các loại bệnh:
- Chì: Gây thần kinh mệt mỏi và rối loạn
- Cd: Ảnh hưởng đến gan, thận và bộ phận GI
- Arsenic: Đầu độc da, thận và hệ nơ ron trung ương.
Vấn đề thường gây ra bởi các cation kim loại (những nguyên tố trong đất là
do các cation Pb2+ …) như Hg, Cd, Pb, Niken, Cu, Zn, Cl và Mn. Các anion xung
quanh thường là (những nguyên tố trong đất kết hợp với oxy và có điện tích âm:
MnO42- …) Arsenic, molybdenum, Solenium và Bo. (Theo GS. Lê Huy Bá, Viện
KHCN và QLMT thành phố HCM).
Bên cạnh đó, tro bay và diatomit được biến tính sau đó đưa vào đất ô nhiễm
KLN để khảo sát khả năng hấp phụ Pb2+ và Cd2+ của chúng. Sử dụng vật liệu điều


5
chế cho đất ô nhiễm Cd, Pb cho thấy khả năng làm giảm hàm lượng linh động và
trao đổi của những nguyên tố này trong đất. Hiệu suất hấp phụ Pb, Cd trong đất ô
nhiễm Hưng Yên của vật liệu biến tính từ Diatomit Hòa Lộc cao. Lượng vật liệu bổ

6
Gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm và đầu tư cho các nghiên cứu
phát triển công nghệ xử lý KLN trong nước thải ((Dong, Ma, & Li, 2011), và đất.
Các nghiên cứu tập trung phát triển các loại vật liệu có khả năng kết tủa hóa học,
hấp phụ, trao đổi ion, và màng lọc... Xu hướng chung trong kỹ thuật phát triển các
loại vật liệu này đều tập trung vào nghiên cứu các thành phần và cấu trúc carbon.
Các cấu trúc này có thể được xử lý và tăng cường hoạt tính bằng một số phương
pháp nhiệt độ, hóa chất xúc tác. Năm 2012, Ademiluyi và công sự đã thực hiện
nghiên cứu hiệu quả của một số loại than sinh học như tre, vỏ dừa, vỏ hạt cọ để hấp
thụ các chất kim loại (Cr2+, Cu2+, Ni2+, Pb2+, Fe2+, Zn2+). Các loại sinh khối này
được nhiệt phân ở nhiệt độ 400◦C-500◦C sau đó biến tính hoạt hóa ở 800oC bằng 6
loại chất xúc tác gồm (H2SO4, HCl, ZnCl2, H3PO4, NaOH, và HNO3). Quá trình xử
lý có ảnh hưởng đáng kể các khoảng hổng trong than, làm tăng kích thước vi lỗ, do
đó có ảnh hưởng đáng kể đến sự hấp thu KLN (Ademiluyi & David-West, 2012).
1.2.3. Ngăn chặn ô nhiễm kim loại nặng
Ngăn chặn ô nhiễm kim loại nặng rất quan trong bới vì công việc làm sạch
đất ô nhiễm rất khó khăn và tốn kém. Việc sử dụng chất thảo công nghiệp hay bùn
phải tuân theo quy định giới hạn do US Environmental Protection Agency (EPA) đề
ra trong bảng 1.1.
Bảng 1.1. Quy định mức giới hạn kim loại nặng trong đất
(Adapted from USEPA, 1993)
Nồng độ
Tốc độ ô nhiễm hàng năm
lớn nhất
(mg/kg
(kg/ha/năm) (lb/A/năm)
hoặc ppm)
Arsenic
75
2

100
5
4
Zine
7500
140
125
Kim loại
nặng

Tốc độ ô nhiễm
tích lũy
(kg/ha)

(lb/A)

41
39
3000
1500
420
300
17
18
100
2800

36.6
34.8
2.679

đất lên thân nhanh, chống chịu được với nồng độ các chất ô nhiễm cao và cho sinh
khối nhanh. [1,3,6]. Xử lý KLN trong đất bằng thực vật có thể thực hiện bằng nhiều
phương pháp khác nhau phụ thuộc vào từng cơ chế loại bỏ các KLN như:
- Phương pháp làm giảm nồng độ kim loại trong đất bằng cách trồng các loài
thực vật có khả năng tích luỹ kim loại cao trong thân. Các loài thực vật này phải kết
hợp được 2 yếu tố là có thể tích luỹ kim loại trong thân và cho sinh khối cao. Có rất
nhiều loài đáp ứng được điều kiện thứ nhất (bảng 1.2), nhưng không đáp ứng được
điều kiện thứ hai.
- Phương pháp sử dụng thực vật để cố định kim loại trong đất hoặc bùn bởi
sự hấp thụ của rễ hoặc kết tủa trong vùng rễ. Quá trình này làm giảm khả năng linh


8
động của kim loại, ngăn chặn ô nhiễm nước ngầm và làm giảm hàm lượng kim loại
khuếch tán vào trong các chuỗi thức ăn.
Bảng 1.2. Một số loài thực vật có khả năng tích luỹ kim loại nặng cao [17]
Nồng độ kim loại
STT

Tên loài

tích luỹ trong thân
(µg/g trọng lượng

Tác giả/năm công bố

khô)
1

Arabidopsis halleri

5

Thlaspi geosingense

12.000 Ni

Reeves & Brooks, 1983

6

Alyssum bertholonii

13.400 Ni

Brooks & Radford, 1978

7

Alyssum pintodasilvae

9.000 Ni

Brooks & Radford, 1978

8

Berkheya codii

11.600 Ni


cho thấy chi phí trung bình của phương pháp truyền thống trên 1 hecta đất từ
0,27 đến 1,6 triệu USD, trong khi phương pháp sử dụng thực vật chi phí thấp
hơn 10 đến 1000 lần [17].
Có ít nhất 400 loài phân bố trong 45 họ thực vật được biết là có khả năng hấp
thụ kim loại [33]. Các loài này là các loài thực vật thân thảo hoặc thân gỗ, có khả
năng tích luỹ và không có biểu hiện về mặt hình thái khi nồng độ kim loại trong
thân cao hơn hàng trăm lần so với các loài bình thường khác. Các loài thực vật này


9
thích nghi một cách đặc biệt với các điều kiện môi trường và khả năng tích luỹ hàm
lượng kim loại cao có thể góp phần ngăn cản các loài sâu bọ và sự nhiễm nấm [17].
Bảng 1.3. Một số loài thực vật cho sinh khối nhanh có thể sử dụng để xử lý
kim loại nặng trong đất [17]
STT

Tên loài

Khả năng xử lý

Tác giả và năm công bố

1

Salix

KLN trong đất, nước

Greger và Landberg,
1999

5

Helianthus

Pb, Cd trong đất

EPA, 2000 và Elkatib
etal., 2001

6

Typha sp.

7

Phragmites australis

KLN trong chất thải mỏ
khoáng sản

Massacci et al., 2001

8

Glyceria fluitans

KLN trong chất thải mỏ
khoáng sản

MacCabe và Otte, 2000


10
1.3. Tổng quan về than sinh học
1.3.1. Than sinh học (TSH) là gì?
Than sinh học (biochar) là loại than được hình thành khi nhiệt phân các chất
hữu cơ ở nhiệt độ khoảng 400 – 500oC trong điều kiện yếm khí. TSH có hạt mịn
được SX bằng phương pháp nhiệt phân từ nguyên liệu có nguồn gốc sinh khối thực
vật (gỗ, thân, cành, lá và phụ phẩm nông nghiệp, rác thải hữu cơ). Nhiệt phân là sự
phân hủy hóa học của vật liệu hữu cơ bằng cách đun nóng trong sự vắng mặt của
oxy. ... Thuật ngữ biochar trở nên thông dụng trong ngành nông nghiệp để chỉ loại
than được tạo ra từ các loại chất thải hữu cơ trong sản xuất nông lâm nghiệp như
trấu, rơm rạ, thân cà lá cây, vỏ hạt cà phê, đậu đỗ, cùi bắp, mùn cưa, phoi bào, gỗ
vụn… với cấu trúc cacbon xốp tồn tại bền vững và có tác dụng tăng độ phì nhiêu
cho đất đặc biệt với các loại đất nghèo, đất axit (độ pH thấp).
1.3.2. Tổng quan những nghiên cứu về tính chất của TSH
1.3.2.1. Tổng quan những nghiên cứu về tính chất của TSH trên thế giới
Một nhóm các nhà khoa học thuộc nhiều tổ chức khác nhau tại Mỹ đã tiến
hành một nghiên cứu tính chất của TSH sản xuất từ những nguồn nguyên liệu khác
nhau ở những nhiệt độ khác nhau và ảnh hưởng của chúng đến đất cát pha. Đứng
đầu nhóm nghiên cứu là Nhà khoa học đất – Jeff Novak, công tác tại Trung tâm
nghiên cứu đất, nước và thực vật vùng đồng bằng ven biển trực thuộc tổ chức Dịch
vụ nghiên cứu Nông nghiệp (ARS – Agricultural Research Service) ở Florence.
Trong dự án này, nhóm nghiên cứu của Novak đã sử dụng vỏ lạc, vỏ hồ đào, rơm
trộn phân gia cầm, cỏ switch và các phế phẩm từ gỗ cứng để sản xuất 9 loại TSH
khác nhau. Tất cả các nguyên liệu trên được nhiệt phân ở hai nhiệt độ khác nhau để
sản xuất TSH (từ 250oC đến 700oC). Nhiệt phân là một quá trình phân hủy hóa học,
là kết quả của việc làm nóng nhanh các nguyên liệu thô trong môi trường không có
oxy. Các nhà nghiên cứu cho rằng, TSH nhiệt phân ở nhiệt độ cao hơn thì sinh khối
than thu được ít hơn, diện tích bề mặt lớn hơn, pH cao, hàm lượng tro cao và tổng
điện tích bề mặt là nhỏ nhất. Việc mất đi các hợp chất bay hơi ở nhiệt độ nhiệt phân

liệu)

ở nhiệt độ nhiệt phân cao hay thấp là như nhau (Jeff Novak và cộng sự, 2009).
Tổng lượng các bon cao trong các cấu trúc thơm giải thích cho sự thiếu hụt

tổng điện tích âm bề mặt trong hầu hết các loại TSH sản xuất ở điệu kiện nhiệt độ
nhiệt phân cao. Các nhóm chức năng mà phổ biến là những điện tích âm này như OH hay –COOH cũng bị mất đi cùng với sự mất đi của các vật chất dễ bay hơi (Jeff
Novak và cộng sự, 2009) [25].
Tại Anh, trung tâm nghiên cứu về TSH đã thực hiện nhiều nghiên cứu liên
ngành về vai trò của than sinh học như một biện pháp lưu giữ các bon và công nghệ


12
năng lượng bền vững để cung cấp các hiểu biết về tác động nông học, môi trường
và kinh tế - xã hội của than sinh học. Hiện nay TSH được sử dụng rộng rãi ở các
vườn ươm đã đem lại kết quả cao.
Trung tâm nghiên cứu về TSH New Zealand nhằm mục đích thúc đẩy sự
hiểu biết của than sinh học cho sự giảm nhẹ biến đổi khí hậu toàn cầu, đặc biệt là
các lĩnh vực nông nghiệp và lâm nghiệp.
Ở Ấn Độ, sử dụng TSH như là một phần của tập quán truyền thống và văn
hóa của người dân với các mục đích khác nhau. Than không bao giờ được coi là
một vật liệu phế thải. Dư lượng cây trồng bị cháy được chuyển đổi thành than củi
và tro. Than, một sản phẩm phụ của các bếp lò truyền thống được thêm vào phân
trang trại hay phân hữu cơ, luôn luôn là một nguồn có giá trị để cải thiện độ màu
mỡ của đất. Bộ lạc Munda sống trong phần Orissa, Jharkhand và bang Tây Bengal,
Ấn Độ, sử dụng than sinh học trong việc tăng năng xuất cây trồng. Than sinh học
chủ yếu là sản phẩm phụ từ các bếp nấu sinh khối (nhất là bếp ba lò hoặc bếp lò
bằng đất sét đơn giản). Họ pha trộn than với phân trang trại bón vào đất đá ong màu
đỏ ít màu mỡ để trồng rau.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều quốc gia tiếp tục nghiên cứu, sản xuất và

rất lớn. Mặt khác, bụi than tương đối nặng do giàu silic, nhờ đó có thể rải vãi bằng
tay hay bằng cơ giới. Nước ta đã có thói quen lấy tro lò đốt đem ra bón ruộng,
nhưng tỉ lệ TSH trong đó thường thấp hơn tro đen. Trong loại tro xám này có đến
trên dưới 40% tro trắng vốn có hoạt tính rất mạnh và thường có hại cho cây, cho
đất. Để có TSH vỏ trấu người ta cần đốt trong điều kiện thiếu khí để chúng cháy
ngún chứ không cháy ngọn. Có rất nhiều cách để đốt than, phổ thông nhất theo kiểu
hầm than đắp ngoài bằng vỏ đất sét. Khi trấu đã bắt lửa thì lấp miệng lại chỉ chừa
mấy ống cho khói thoát ra. Nhưng ở đồng bằng sông Cửu Long nổi tiếng với những
dòng sông trấu trôi ra từ các nhà máy xay xát tập trung, việc sản xuất TSH nên được
thực hiện trên dây chuyền khí hóa để một mặt lấy nhiệt sản xuất điện năng, mặt
khác thu hồi TSH thương phẩm để bán trong nước hay đem xuất khẩu. Nhu cầu sử
dụng TSH vỏ trấu trên ruộng vào khoảng 16 tấn mỗi hecta, tương đương với
khoảng tỷ lệ 1,4% trong lớp đất mặt từ 0 đến 0,1 mét. Việc rải bón có thể thực hiện
nhiều lần, nhiều vụ mà không ngại mật độ quá cao vì TSH có tính trung hòa chứ
không có tính axit như tro xám. Người ta tính toán kinh tế bằng cách lấy giá trị tăng
thêm sản lượng và giảm bớt phân bón trong các năm sau bù vào đầu tư sản xuất hay
tiền mua TSH. Việc cân đối này luôn có lợi và lợi lớn cho các nông gia [3].


14
1.3.3. Đặc điểm của TSH
Thông tin về các đặc tính lý hóa học của TSH rất hạn chế (Golchin et al.
1997). Tuy nhiên tổng hợp từ nhiều nguồn TSH Glaser et al, (2002) cho thấy lượng
TSH thu được là 28,5%, hàm lượng carbon trong TSH là 79,6% và năng suất
carbon là 49,9%.
Tuy nhiên, tất cả các loại TSH đều có đặc điểm chung:
- Độ xốp cao có khả năng giữ không khí, giữ nước, chất dinh dưỡng, môi
trường sống thích hợp cho một số vi khuẩn và sự phát triển của thực vật.
- Có các đặc tính hóa lý giúp hấp thụ của các chất và kiểm soát độ ẩm [29].
Các yếu tố chính quyết định chất lượng của TSH là:

năng suất có thể tăng 200% nếu được bón lượng TSH cao. Ngoài việc TSH cung cấp
các chất dinh dưỡng cần thiết, các axít humic còn chứa các hóc môn có khả năng tăng
trưởng cây trồng (Nardi et al, 2000). Tất nhiên để tìm ra lượng TSH tối ưu bón cho
cây trồng thì cần phải xác định cho từng loại đất và cây trồng nhất định. Một số
nghiên cứu gần đây còn cho thấy tác dụng của TSH đối với sinh trưởng và năng suất
cây trồng còn cao hơn nếu bón kết hợp với phân khoáng (Lehmann et al, 2002).
1.3.4.3. Giảm phát thải khí nhà kính
Biochar giúp làm sạch không khí bằng hai cách: Ngăn chất thải hữu cơ thối
rữa giải phóng khí CO2 vào khí quyển và cho phép cây trồng lưu trữ CO2 mà nó hấp
thu từ không khí trong quá trình quang hợp dưới dạng bền vững. Và được tăng
thông qua tăng trưởng thực vật tăng lên nhờ bón TSH.
Theo nhà khoa học James Hansen (Cơ quan hàng không vũ trụ quốc gia
(NASA) của Mỹ), nếu cả thế giới sử dụng biochar, lượng khí CO2 phát thải vào khí
quyển trong vòng 50 năm tới có thể giảm khoảng 8 phần triệu (ppm) [29].
1.3.4.4. Sự thấm hút của kim loại nặng
Trong than sinh học, người ta đã tìm thấy khả năng thấm hút một loạt các
kim loại nặng, bao gồm chì (Pb), asen (As) và Cadimi (Cd). Một loại than sinh học
từ phân bò sữa được sấy ở nhiệt độ ở 350°C có khả năng thấm hút Pb nhiều hơn
nhiều lần so với than hoạt tính (Cao et al., 2009). Trong trường hợp này, sự thấm
hút bề mặt bởi than sinh học hầu hết (85%) được cho là Pb phản ứng với tro hiện
hữu trong than sinh học, và cũng là trực tiếp thấm hút (15%) trên bề mặt của than


16
sinh học. Các tác giả của nghiên cứu này kết luận rằng: tro trong than sinh học phân
chuồng chủ yếu chịu trách nhiệm cho việc làm giảm nồng độ Pb trong nước, cũng
như một thực tế hiển nhiên là than hoạt tính (rất ít tro) có khả năng thấm hút số
lượng Pb nhỏ hơn nhiều so với than sinh học phân chuồng.
1.3.5. Sản xuất TSH
1.3.5.1. Nguyên liệu

chất hữu cơ than sinh học trên quy mô công nghiệp, sản xuất gần 50% than [14].
1.4. Tổng quan về phế phụ phẩm nông nghiệp
1.4.1. Định nghĩa và nguồn gốc phát sinh của phế phụ phẩm nông nghiệp
Phế phụ phẩm nông nghiệp là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động
nông nghiệp (OECD, 1997) [37]. Phụ phẩm nông nghiệp đều là những chất hữu cơ,
có thể còn non, xanh; có thể đã xơ cứng vì silic hoá như trấu hay lignin hoá như gỗ.
Chúng còn có thể được xem như là một dạng tích trữ năng lượng từ mặt trời nhờ quá
trình quang tổng hợp và các quá trình sinh học khác trong sản xuất nông nghiệp.
Nguồn gốc phát sinh phế phẩm nông nghiệp là quá trình sản xuất nông nghiệp hay
chế biến nông sản bao gồm: chế biến các loại cây công nghiệp, cây lương thực, cây hoa
màu, sản xuất hoa quả, thực phẩm, sinh ra từ hoạt động chăn nuôi…
1.4.2. Hiện trạng phế phụ phẩm nông nghiệp trên thế giới và trong nước
1.4.2.1. Hiện trạng phế phụ phẩm nông nghiệp trên thế giới
Các chất thải trong nông nghiệp chiếm hơn 30% sản lượng nông nghiệp trên
toàn thế giới. Theo thống kê, hàng năm có khoảng 5 tỷ tấn sinh khối được tạo ra từ
sản xuất nông nghiệp, và khối lượng sinh khối này đã được sử dụng vào các mục
đích khác nhau của cuộc sống, ví dụ: làm thức ăn chăn nuôi, lương thực, năng
lượng sinh học, chế biên thực phẩm, hoặc làm phân bón, hoặc ứng dụng trong sản
xuất công nghiệp (UNEP, 2009). Tuy nhiên, có một lượng không nhỏ sinh khối
nông nghiệp đang bị lãng phí và không được quản lý hiệu quả để tái sử dụng vào
các mục đích kinh tế khác.
Ấn Độ và Trung Quốc là hai quốc gia Châu Á có lượng phế phụ phẩm nông
nghiệp lớn nhất, chiếm trên 2/3 tổng lượng phế phụ phẩm nông nghiệp của khu vực.
Cụ thể: Ở Ấn Độ, sản xuất nông nghiệp đã tạo ra trên 500 triệu tấn phế phụ phẩm.
Sự gia tăng sản lượng lúa và lúa mỳ đã tạo ra một lượng đáng kể phế phụ phẩm cây
trồng, trong đó lượng phế phụ phẩm từ lúa, ngô, lúa mỳ và kê chiếm 70% (khoảng
352 triệu tấn) tổng lượng phế phụ phẩm cây trồng (Singh và Sidhu, 2014) [40].
Ở Trung Quốc, lượng phế phụ phẩm từ các cây trồng chính (ngô, lúa mỳ,
lúa, kê và cao lương) đạt khoảng 490 triệu tấn, chiếm khoảng 50% tổng lượng phế
phụ phẩm cây trồng ở Châu Á (Devendra, 1997).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status