BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------------
Võ Thị Kim Liên
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ
(TỈNH BÌNH THUẬN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------------
Võ Thị Kim Liên
PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ
(TỈNH BÌNH THUẬN)
Chuyên ngành : Địa lí học
Mã số
: 60 31 05 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
liên quan đến đề tài và giúp đỡ tôi trong quá trình thực địa, điều tra phục vụ đề tài.
Cuối cùng, xin cám ơn bạn bè và người thân đã nhiệt tình ủng hộ, động viên,
khích lệ, chia sẻ những khó khăn và là nguồn động lực cần thiết để tôi hoàn thành đề
tài luận văn này.
Thành phố Hồ Chí Minh, 2017
Tác giả luận văn
Võ Thị Kim Liên
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Danh mục các biểu đồ, bản đồ
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH SINH THÁI ...........8
1.1. Cơ sở lí luận về phát triển du lịch sinh thái ..........................................................8
1.1.1.
Các khái niệm và vấn đề liên quan.............................................................. 8
1.1.2.
Các đặc trưng của du lịch sinh thái ........................................................... 19
2.1. Khái quát về huyện đảo Phú Quý .......................................................................36
2.1.1.
Vị trí địa lí .................................................................................................36
2.1.2.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển huyện đảo Phú Quý................39
2.1.3.
Đặc điểm tự nhiên .....................................................................................40
2.1.4.
Đặc điểm kinh tế - xã hội ..........................................................................46
2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển DLST Phú Quý .................................49
2.2.1.
Nhân tố tự nhiên ........................................................................................49
2.2.2.
Nhân tố văn hóa ........................................................................................52
2.2.4.
Chính sách và mục tiêu phát triển du lịch sinh thái huyện đảo Phú Quý .59
Định hướng phát triển du lịch tỉnh Bình Thuận ........................................82
3.1.2.
Định hướng phát triển du lịch Phú Quý ....................................................83
3.1.3.
Thực trạng phát triển du lịch sinh thái Phú Quý .......................................83
3.2. Định hướng phát triển DLST Phú Quý............................................................... 84
3.2.1.
Định hướng chung .....................................................................................84
3.2.2.
Định hướng phát triển các điểm và tuyến DLST ......................................85
3.2.3.
Định hướng phát triển sản phẩm và loại hình DLST Phú Quý .................86
3.2.4.
Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng – vật chất kĩ thuật du lịch ...............87
3.2.5.
Định hướng phát triển nhân lực du lịch Phú Quý .....................................88
3.3.7.
Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong DLST ................95
3.3.8. Giải pháp tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, các làng nghề gắn với đời
sống người dân nhằm nhằm tạo cơ sở phát triển DLST văn hóa bản địa ..96
Tiểu kết chương 3 ..........................................................................................................97
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................................................98
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................102
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nội dung
BTTN
Bảo tồn thiên nhiên
CĐĐP
Cộng đồng địa phương
CSHT
Cơ sở hạ tầng
Hệ sinh thái
KTXH
Kinh tế-xã hội
MTTN
Môi trường tự nhiên
PTBV
Phát triển bền vững
SPDL
Sản phẩm du lịch
TDL
Tuyến du lịch
TNDL
Tài nguyên du lịch
TNDLNV
Tài nguyên du lịch nhân văn
Biểu đồ 2.2. Số lượt khách và doanh thu du lịch tại Phú Quý giai đoạn 2010 – 2015 .63
Biểu đồ 2.3. Tỉ trọng khách du lịch phân theo nội địa và quốc tế của Phú Quý giai
đoạn 2010 – 2015 .......................................................................................65
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
Bản đồ 2.1. Bản đồ hành chính huyện đảo Phú Quý ..................................................... 38
Bản đồ 2.2. Bản đồ hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại đảo Phú Quý ................. 74
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, du lịch sinh thái (DLST) đã và đang phát triển nhanh
chóng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Du lịch sinh thái góp phần bảo tồn tự nhiên, bảo
vệ đa dạng sinh học và văn hóa cộng đồng, tạo nguồn lợi kinh tế to lớn, tạo cơ hội tăng
thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho quốc gia cũng như cộng đồng người dân các
địa phương, nhất là người dân ở các vùng sâu, vùng xa - nơi có các khu bảo tồn tự
nhiên và các cảnh quan hấp dẫn. Xuất phát từ nhận thức về lợi ích của DLST đối với
môi trường, đối với đời sống, kinh tế, văn hóa – xã hội, nhiều nước trên thế giới xem
DLST là một giải pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường sinh thái thông qua quá trình
làm giảm sức ép khai thác nguồn lợi tự nhiên phục vụ nhu cầu của khách du lịch, của
người dân địa phương khi tham gia vào các hoạt động du lịch.
Việt Nam với cảnh quan thiên nhiên đa dạng, giàu tiềm năng để phát triển DLST.
Trong đó, Bình Thuận là tỉnh Cực Nam Trung Bộ có điều kiện tự nhiên thuận lợi để
phát triển mạnh loại hình DLST. Đặc biệt có đảo Phú Quý với diện tích 17,82 km2
đang được Nhà nước quan tâm đầu tư, phát triển thành một trong 06 trung tâm DLST
biển đảo của cả nước.
Phú Quý được đánh giá là nơi có nhiều tiềm năng để phát triển DLST: các bãi
biển, các đảo lân cận, sự đa dạng về sinh học biển, hệ sinh thái biển; tài nguyên nhân
Thuận đến năm 2020 tầm nhìn 2030.
3. Giới hạn của đề tài
Phạm vi không gian: Nghiên cứu toàn bộ lãnh thổ huyện đảo Phú Quý.
Về thời gian: Sử dụng các thông tin nghiên cứu tập trung trong giai đoạn 2010 –
2015, định hướng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.
Về nội dung: Tập trung phân tích, đánh giá tiềm năng và thực trạng phát triển du
lịch sinh thái huyện đảo Phú Qúy. Đề xuất hướng và giải pháp phát triển DL phù hợp,
hiệu quả cao, phát triển bền vững (PTBV).
4. Các quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Các quan điểm
4.1.1. Quan điểm tổng hợp – hệ thống
Trong nghiên cứu địa lý du lịch, quan điểm tổng hợp – hệ thống luôn được vận
dụng một cách triệt để. Mọi sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ biện chứng với
nhau, tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh. Quan điểm này yêu cầu người nghiên
3
cứu cần phải nghiên cứu tất cả các các hợp phần cấu tạo nên hệ thống, không nghiên
cứu riêng rẽ một số hợp phần trong hợp thống. Để từ đó có cái nhìn khái quát và tổng
hợp đúng những yếu tố liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Sự phát triển du lịch sinh thái huyện đảo Phú Quý phải được nhận định, đánh giá
trong tương quan hữu cơ và tổng hợp giữa các yếu tố về tự nhiên và kinh tế xã hội.
Vận dụng quan điểm tổng hợp – hệ thống vào luận văn, cần phân tích các nhân tố ảnh
hưởng đến sự phát triển du lịch sinh thái huyện đảo Phú Quý, bao gồm vị trí địa lí, tài
nguyên du lịch và các nhân tố kinh tế - xã hội, nhằm tạo cơ sở cho sự phân tích thực
trạng phát triển du lịch sinh thái huyện đảo Phú Quý cũng như định hướng phát triển
chúng trong tương lai.
4.1.2. Quan điểm lãnh thổ
Mọi sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát triển trong một không gian lãnh
thổ xác định. Các lãnh thổ du lịch thường tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua
Phú Quý gắn với sự phát triển bền vững, không ảnh hưởng đến thế hệ sau.
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp tiếp cận hệ thống
Đây là phương pháp quan trọng, giúp cụ thể hóa quan điểm hệ thống lãnh thổ.
Luận văn sử dụng kế thừa các công trình nghiên cứu về du lịch sinh thái của Việt Nam
nói chung, của các đảo nói riêng để hệ thống hóa các cơ sở lý luận về du lịch sinh thái;
cung cấp thông tin nền phục vụ nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch
sinh thái huyện đảo Phú Quý.
4.2.2. Phương pháp thu thập và xử lí thông tin
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập các số liệu, tư
liệu từ nhiều nguồn khác nhau: sách, báo, internet, Ủy ban nhân dân huyện đảo Phú
Quý, Phòng Văn hóa thông tin huyện đảo Phú Quý,…
4.2.3. Phương pháp thực địa
Tác giả đã tiến hành khảo sát thực địa trên toàn huyện đảo Phú Quý để luận văn
mang tính thực tiễn hơn. Những địa điểm du lịch mà tác giả đã thực địa trên địa bàn
huyện đảo Phú Quý: Bãi tắm Doi Dừa, Bãi Nhỏ - Gành Hang, Mộ Thầy, Vịnh Triều
Dương, Hòn Tranh, v.v…
4.2.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập số liệu, tư liệu từ
nhiều nguồn khác nhau để tổng hợp, đánh giá chính xác, toàn diện sự phát triển du lịch
5
sinh thái huyện đảo Phú Quý.
Tác giả đã tiến hành phân tích tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu, số liệu tại các cơ
quan khác nhau: Cục Thống kê tỉnh Bình Thuận, Phòng Kinh tế huyện đảo Phú Quý,
thư viện huyện đảo Phú Quý, thư viện ĐH Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, thư viện Khoa
học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
4.2.5. Phương pháp bản đồ, biểu đồ
Trên cơ sở các bảng số liệu đã được tổng hợp, tác giả đã xây dựng chúng thành
nhiều hội nghị, hội thảo về DLST được tổ chức ở Việt Nam được nhiều nhà nghiên
cứu trong và ngoài nước quan tâm thảo luận.
Hội nghị Quốc tế về Du lịch bền vững ở Việt Nam do Tổng cục Du lịch Việt
Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (Cộng hòa Liên Bang Đức) tổ chức tại Huế (tháng
5/1997) . Các vấn đề về DLST, du lịch với môi trường Hội thảo về DLST với Phát
triển du lịch bền vững ở Việt Nam diễn ra tại Hà Nội (tháng 4/1998)…
Với chiến lược phát triển du lịch chung của cả nước, Phú Qúy được chú trọng
đầu tư phát triển du lịch thời gian tới, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu
cụ thể về sự phát triển DLST tại huyện đảo Phú Quý mà chỉ có những nghiên cứu
xung quanh có liên quan đến đảo Phú Quý.
Luận án Tiến sĩ ngành Địa lí học của NCS. La Nữ Ánh Vân mang tên “Phát triển
du lịch tỉnh Bình Thuận trên quan điểm phát triển bền vững” là chìa khóa để tác giả
tham khảo nghiên cứu những vấn đề du lịch hướng tới sự phát triển bền vững.
Luận văn Thạc sĩ ngành Địa lí học của học viên Lê Duy Thông “Phát triển du
lịch Biển – Đảo tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2003 - 2013” cũng đã có những đóng góp
trong việc làm tăng thêm cơ sở lí luận cho ngành du lịch tỉnh Bình Thuận.
Luận văn Thạc sĩ ngành du lịch của học viên Nguyễn Thị Lê “Nghiên cứu sự
tham gia của cộng đồng vào hoạt động du lịch tại huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình
Thuận” nghiên cứu mức độ tham gia và thái độ, nhận thức của cộng đồng đối với phát
triển du lịch dựa vào cộng đồng tại huyện đảo Phú Quý.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt khoa học: Đề tài góp phần củng cố thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về
việc phát triển du lịch sinh thái Việt Nam và Phú Quý theo hướng bền vững.
- Về mặt thực tiễn:
+ Làm rõ các tiềm năng hiện có về du lịch sinh thái huyện đảo Phú Quý.
7
+ Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại huyện đảo Phú Quý giai
đoạn 2010 – 2015.
Mariot cho rằng du lịch là “Tất cả các hoạt động, tổ chức, kĩ thuật, và kinh tế
phục vụ các cuộc hành trình và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú với nhiều mục
đích ngoài mục đích kiếm việc làm và thăm viếng người thân”.
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of
Official Travel Oragnization: IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến
một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải
để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…”
Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên
gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và
các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập
thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình.
Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc: “Hoạt động du lịch là tổng hoà hàng loạt
quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở,
lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện”.
Theo Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization): “Du lịch bao gồm
tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám
phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như
9
mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không
quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có
mục đích chính là kiếm tiền.”
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005, ban hành ngày
14/6/2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: “Du lịch là một trong
những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước
nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi
cho nhân dân địa phương” [2].
Ở mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đều phát triển những định nghĩa riêng của
mình về DLST.
Định nghĩa của Nêpan: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham gia
của nhân dân vào việc hoạch định và quản lí các tài nguyên du lịch để tăng cường
phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời
sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào”
[6].
Định nghĩa của Malaixia: “Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch và thăm viếng
một cách có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên
vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn
hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác
bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa
phương được tham dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế” [6].
Định nghĩa của Ôxtrâylia: “Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên nhiên, có
liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản lí bền
vững về mặt sinh thái”. Định nghĩa của Hiệp hội DLST quốc tế: “Du lịch sinh thái là
việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và
cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương” [6].
Năm 1994, nhấn mạnh đến yếu tố bảo vệ TNDL và giáo dục môi trường,
Buckley đã tổng quát khái niệm DLST như sau: “Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên,
11
được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được xem là
DLST” [6].
Luật Du lịch Việt Nam 2005, định nghĩa về DLST: “Là hình thức du lịch dựa
vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng
nhằm phát triển bền vững”.
+ Tăng cường nhận thức của cả du khách và người dân địa phương về sự cần
thiết phải bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa.
1.1.1.2. Phát triển và phát triển du lịch sinh thái
Trước hết cần làm rõ khái niệm “phát triển”, “phát triển” tuy ban đầu được các
nhà kinh tế học định nghĩa là “tăng trưởng kinh tế”, nhưng nội hàm của nó từ lâu đã
vượt khỏi phạm vi này, được nâng cấp sâu sắc hơn và chính xác hơn. Theo Từ điển
Tiếng Việt “phát triển” được hiểu là quá trình vận động, tiến triển theo hướng tăng lên,
ví dụ phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, phát triển xã hội…
Qua cách tiếp cận từ các khái niệm trên, có thể hiểu “phát triển du lịch sinh
thái” là một quá trình phát triển của loại hình du lịch mà hoạt động của nó dựa trên sự
khai thác nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên (TNDLTN) và tài nguyên du lịch nhân văn
(TNDLNV). Sự phát triển ấy được thể hiện qua nhiều mặt như sự tăng trưởng về
lượng khách và doanh thu du lịch do khu du lịch (KDL) mang lại, sự tiến bộ rõ rệt
trong nguồn nhân lực cũng như cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ cho DLST cũng như sự
biến đổi về môi trường trong phát triển DLST, v.v… trong một thời gian nhất định.
1.1.1.3. Loại hình du lịch và loại hình du lịch sinh thái
Loại hình du lịch theo tác giả Trương Sỹ Quý định nghĩa: “Loại hình du lịch
được hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng
thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một
nhóm khách hàng, hoặc chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như
nhau, hoặc được xếp chung theo một mức giá nào đó” [19].
Để định hướng và đưa ra các chính sách phát triển đúng đắn về du lịch, các nhà
quản lý vĩ mô về du lịch cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp du lịch cần phân du
lịch thành các loại hình du lịch khác nhau.
Loại hình DLST cũng là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên như một số loại
hình du lịch truyền thống, tuy nhiên nó có một số đặc trưng phù hợp với tình hình hiện
đại.
13
14
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung
ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất
kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng hay một địa phương nào đó.
Sản phẩm DLST là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu
hình và vô hình phục vụ cho hoạt động DLST, đó là tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên
nhân văn, cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng, dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân
viên du lịch.
“Sản phẩm DLST là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách
du lịch trong chuyến đi DLST”
1.1.1.5. Khách du lịch và khách du lịch sinh thái
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khách du lịch đứng ở trên các góc độ khác
nhau.
Liên đoàn quốc tế các tổ chức du lịch ( tiền thân của tổ chức du lịch thế giới):
“Khách du lịch là người ở lại nơi tham quan ít nhất 24h qua đêm vì lý do giải trí, nghỉ
ngơi hay công việc như: thăm thân, tôn giáo, học tập, công tác”.
Đến năm 1968, tổ chức này lại định nghĩa khác: “Khách du lịch là bất kỳ ai ngủ
qua đêm”.
Uỷ ban xem xét tài nguyên Quốc gia của Mỹ: “Du khách là người đi ra khỏi nhà
ít nhất 50 dặm vì công việc giải trí, việc riêng trừ việc đi lại hàng ngày, không kể có
qua đêm hay không.”
Địa lý du lịch Việt Nam định nghĩa: “ Du khách từ bên ngoài đến địa điểm du
lịch chủ yếu nhằm mục đích nâng cao nhận thức với môi trường xung quanh, tham gia
vào các hoạt động thư giãn, giải trí, thể thao, văn hoá kèm theo việc tiêu thụ những
giá trị tự nhiên, kinh tế, dịch vụ và qua đêm tại cơ sở lưu trú của ngành du lịch”.
Khách DLST khác với khách du lịch thông thường thể hiện qua sự quan tâm của
khách DLST về các giá trị tự nhiên và giá trị nhân văn ở những khu vực thiên nhiên
hoang dã cao hơn so với những khách du lịch thông thường. Gồm có những đặc điểm
cơ bản sau [2]:
- Đó thường là những người đã trưởng thành, có thu nhập cao, có giáo dục và có