điều tra, đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội nghề cá tại huyện đảo phú quý – tỉnh bình thuận - Pdf 25

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN QUỐC TUYỂN

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI
NGHỀ CÁ TẠI HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ – TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nha Trang - 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Nha Trang - 2011
- 1 - BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN QUỐC TUYỂN
ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI NGHỀ CÁ
TẠI HUYỆN ĐẢO PHÚ QUÝ – TỈNH BÌNH THUẬN LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Nuôi trồng thuỷ sản
Mã số: 60.62.70

2.2.3.1 Xử lý số liệu. 21
2.2.3.2 Phân tích số liệu. 21
2.3. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 22
CHƢƠNG III 22
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THẢO LUẬN 23
3.1. Hiện trạng dân số, văn hoá - xã hội, giáo dục và y tế 23
3.1.1. Dân cư, lao động 23
3.1.2. Y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội 25
3.1.3. Cơ sở hạ tầng 26
3.2. Hiện trạng hoạt động kinh tế - xã hội cộng đồng cƣ dân đảo Phú Quý 29
3.2.1. Khai thác hải sản: 29
3.2.2. Chế biến hải sản: 31
3.2.3. Nuôi trồng hải sản: 31
3.2.2. Nông Lâm Nghiệp 33
3.2.3. Dịch vụ hậu cần, du lịch 33
3.2.4. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 34
3.2.5. Các giải pháp cho sự phát triển của huyện đảo Phú Quý 35
3.2.6. Một số cơ chế, chính sách ưu đãi đối với huyện đảo Phú Quý 37
ii 3.3. Những tác động chủ yếu đối với môi trƣờng, nguồn lợi và đa dạng sinh học tại Phú
Quý 38
3.3.1. Những tác động chưa tích cực của con người đến môi trường, nguồn lợi và đa
dạng sinh học Phú Quý 38
3.3.1.1. Khai thác hải sản 38
3.3.1.2. Nuôi trồng hải sản 41
3.3.1.3. Du lịch- dịch vụ 42
3.3.1.4. Xây dựng cơ sở hạ tầng 43
3.3.1.5. Tác động của bão, sóng 43

Hình 3.3. Một số hình ảnh về cơ sở hạ tầng huyện đảo Phú Quý 29
Hình 3.4. Nuôi lồng bè ở Bãi Dù -Phú Quý 31
Hình 3.5. Biến động sản lƣợng cá biển nuôi tại đảo Phú Quý giai đoạn 2006 – 2009 32
Hình 3.6. Biến động sản lƣợng và năng suất khai thác hải sản vùng biển Phú Quý, năm 2005-
2009 40
Hình 3.7. Bờ biển Phú Quý bị sạt lở do biến đổi khí hậu 44

iv Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn này đƣợc hoàn thành dựa trên các số liệu của dự án
“Khảo sát, xây dựng báo cáo Qui hoạch, lập bản đồ Qui hoạch thuộc dự án Xây
dựng qui hoạch chi tiết khu bảo tồn biển Phú Quý - Bình Thuận. thuộc Nhiệm vụ
số 8 của Đề án 47: Điều tra tổng thể đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy, hải sản
vùng biển Việt Nam; Quy hoạch và xây dựng hệ thống các khu bảo tồn biển phục
vụ phát triển bền vững” . Các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chƣa
đƣợc dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác.
Tác giả Trần Quốc Tuyển
TS: Tiến sĩ
USD: Đơn vị tính tiền đô la
WB: World Bacnk
1 MỞ ĐẦU
Trên thế giới, thế kỷ XXI đƣợc coi là thế kỷ của nền kinh tế biển. Các quốc gia
có biển trên thế giới đã và đang xúc tiến các kế hoạch hành động khai thác biển, ven


Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá đƣợc hiện trạng kinh tế - xã hội nghề cá trong cộng đồng ngƣ dân
huyện đảo Phú Quý.
Đề xuất các giải pháp kinh tế - xã hội để phát triển nghề cá nhằm cải thiện đời
sống cho cộng đồng ngƣ dân huyện đảo Phú Quý.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đào tạo nâng cao trình độ, kinh nghiệm và khả năng nghiên cứu khoa học cho
bản thân học viên.
Giúp cho các nhà quản lý có đƣợc những thông tin chính xác về cơ cấu kinh tế-
xã hội nghề cá tại huyện đảo Phú Quý là cơ sở khoa học phục vụ cho việc xây dựng
chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội nghề cá tại huyện đảo Phú Quý một cách bền
vững.
Trên cơ sở điều tra, đánh giá đƣợc thực trạng kinh tế-xã hội nghề cá tại đảo Phú
Quý giúp các nhà khoa học đƣa ra đƣợc các giải pháp nhằm quản lý, khai thác hợp lý
nguồn tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Nội dung nghiên cứu
1. Điều tra, nghiên cứu hiện trạng và xu thế phát triển kinh tế - xã hội nghề cá
huyện đảo Phú Quý.
2. Đề xuất một số giải pháp khoa học, kỹ thuật nhằm cải thiện cuộc sống cộng
đồng ngƣ dân huyện đảo Phú Quý.
3 CHƢƠNG I
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu về biển đảo ở một số quốc gia trên thế giới
Ở nhiều nƣớc trên thế giới, nhất là một số nƣớc có trình độ phát triển kinh - tế xã
hội cao nhƣ Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Hà Lan, Na Uy, Nhật Bản, vấn đề quản lý tổng hợp
và khai thác hợp lý nguồn lợi các vùng lãnh thổ ven biển, đảo kết hợp phát triển kinh

tài phán quốc gia trên thế giới, ngay từ những năm 1998, Úc đã hòan thành báo cáo
chính sách với tiêu đề "Chính sách biển của Úc: Chăm sóc, hiểu và sử dụng khôn
ngoan (Australia’s Ocean policy: caring, understanding, using wisely)" với nguyên tắc
phát triển bền vững sinh thái, Úc cũng đã và đang rất nỗ lực quản lý tổng hợp biển
thông qua các hành động cụ thể đó là: Thành lập Ủy ban Bộ trƣởng Biển Quốc gia,
trong đó Bộ trƣởng Bộ Môi trƣờng và Di sản làm chủ tịch để giám sát phân chia vùng
biển quản lý rộng lớn theo hệ sinh thái biển, rồi lựa chọn các khu vực để triển khai qui
hoạch biển theo khu vực đã đƣợc đông đảo các cơ quan ban ngành và các bên có liên
quan tham gia xây dựng với sự tham vấn nhiều tầng lớp xã hội nhằm quản lý tổng hợp
biển. Đến nay, qui họach cho khu vực Đông Nam trong vùng thuộc quyền tài phán của
Úc đã đƣợc hòan tất và kế họach cho khu vực khác cũng đƣợc triển khai.
Canada, hiện là quốc gia giữ vị trí số 5 về diện tích thủy vực trong 200 hải lý,
cũng đã sớm triển khai công tác quản lý tổng hợp biển thông qua việc sớm giao cho
Bộ Ngƣ nghiệp đảm nhiệm, phụ trách công tác liên quan đến an ninh/an toàn trên biển,
giao thông trên biển, thủy sản và vấn đề môi trƣờng biển. Năm 1997, Canada đã xây
dựng và ban hành Luật biển, đây là bộ Luật phổ quát liên quan đến biển của Canada,
trong đó điều 30 của Luật qui định nguyên tắc cơ bản của chiến lƣợc biển quốc gia bao
gồm (1) Nguyên tắc phát triển bền vững, (2) Nguyên tắc quản lý tổng hợp các họat
động và (3) Nguyên tắc dựa trên cách tiếp cận phòng ngừa (Precaution approach). Dựa
trên cơ sở của bô Luật này đến tháng 7 năm 2002, Bộ Ngƣ nghiệp của Canada cũng đã
xây dựng chiến lƣợc và chƣơng trình hành động biển.
Một số quốc gia khác, bên cạnh những nỗ lực của các quốc gia hiện đang sở hữu
vùng biển rộng lớn nhƣ Mĩ, Úc, Canada vừa kể trên, thực tế cho thấy rằng đối với các
quốc gia có biển khác, việc khai thác, sử dụng, phát triển và bảo vệ tài nguyên môi
trƣờng biển đều là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, hiện tại các quốc gia này cũng
đang rất nỗ lực trong công tác quản lý tổng hợp tài nguyên môi trƣờng biển.
5 Nhìn qua Châu Á, công tác xây dựng pháp luật, chính sách biển và thành lập các

6 cơ bản về biển, tăng cƣờng quản lý lãnh hải đƣợc mở rộng của quốc gia và hợp tác
quốc tế. Có thể nói báo cáo đề xuất này là cơ sở quan trọng cho Luật cơ bản về biển
của Nhật bản. Báo cáo này đã nhận đƣợc sự quan tâm của hầu hết các đảng chính trị
của Nhật bản, trong không gian chính trị vào thời gian đó, các cuộc thảo luận và mối
quan tâm đến chính sách biển ngày càng tăng, kết quả một nhóm nghiên cứu về Luật
cơ bản về biển đƣợc thành lập vào tháng 4 năm 2006. Nhóm nghiên cứu này đã có
nhiều cuộc hội thảo trong đó có sự tham gia của nhiều thành phần xã hội từ các bộ
ngành đến các chuyên gia liên quan về lĩnh vực biển, công nghiệp…và đi đến đƣợc kết
luận cuối cùng trong báo cáo “Hƣớng dẫn chính sách sách biển” (Guideline for Ocean
Policy) và “Khung của Luật cơ sở về biển” (Outline for a Basic Ocean Law).
Các quốc gia khu vực châu Á khác có biển, đảo nhƣ Thái Lan, Singapore,
Malaysia Philippin, Indonesia, họ cũng đã có những công trình nghiên cứu và triển
khai quản lý, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên biển, đảo phục vụ cho mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội. Trung Quốc là một ví dụ điển hình, trong nhiều năm qua họ đã
tích cực khai thác tiềm lực kinh tế biển, sự ƣu tiên trong đầu tƣ và những kế hoạch cụ
thể trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội vùng duyên hải và các đảo ven biển.
Cùng với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hƣớng ra biển, họ đã cho xây dựng nhiều
trung tâm kinh tế, các khu công nghiệp, các đặc khu kinh tế mở nhƣ đảo Hải Nam,
Hồng Kông hiệu quả của chúng đã đƣợc khẳng định hết sức rõ nét.
Có thể thấy rằng do có những ƣu thế đặc biệt về tài nguyên biển, các điều kiện tự
nhiên thuận lợi cho phát triển đa dạng các ngành sản xuất, kinh tế, hệ thống các đảo
ven bờ biển của các quốc gia có biển hiện đang đƣợc quan tâm và đầu tƣ khá mạnh mẽ
cho nhiều mục đích kinh tế khác nhau.
1.2. Tình hình nghiên cứu về biển đảo ở Việt Nam
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nghề cá Việt Nam trong những năm qua đã có
những bƣớc phát triển đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nƣớc. Sự phát triển của nghề cá Việt Nam dựa trên 2 lĩnh vực chính đó

Sau giai đoạn 1975 đến nay, các hoạt động điều tra khảo sát vùng biển này
đƣợc tăng cƣờng hơn. Trong giai đoạn này việc điều tra khảo sát về tài nguyên, môi
trƣờng, khí tƣợng, thuỷ văn, nguồn lợi, đa dạng sinh học tại đây đƣợc thực hiện chủ
yếu bởi các cơ quan, tổ chức đầu ngành nhƣ: Tổng cục Khí tƣợng thuỷ văn, Viện
Khoa học Việt Nam, chƣơng trình Thuận Hải - Minh Hải (1977-1980), chƣơng trình
48-06 (1986-1990), chƣơng trình KT-03 (1991-1995) v.v. Những kết quả nghiên cứu
chủ yếu qua các giai đoạn đƣợc khái quát nhƣ sau:
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên, khí tượng - thuỷ văn vùng biển Phú Quý
8 1.2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên, địa hình, địa chất
Cụm đảo Phú Quý gồm 10 đảo lớn nhỏ, trong đó thuộc nhóm Phú Quý có đảo
Phú Quý (10
o
29'N - 10
o
33'N, 108
o
55'E - 108
o
58'E) và 5 đảo nhỏ khác; thuộc nhóm
Hòn Tranh có Hòn Hải và 3 đảo nhỏ khác. Đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết
(Bình Thuận) trên 100km về phía Đông Nam. Huyện đảo Phú Quý có tổng diện tích
1.808,06 ha ≈ 18 km
2
[1]. Đƣờng bờ đảo Phú Quý cấu tạo phức tạp, cấu tạo đất đá chủ
yếu là vành đai đá đen (huyền nham) cùng lớp đá san hô và xâm nhập. Đƣờng bờ là
đƣờng phân cắt giữa bề mặt biển và lục địa. Sự phân bố và vị trí đƣờng bờ thƣờng
không cố định, phụ thuộc vào thuỷ triều, bồi tụ và xói lở [11] và đƣợc chia làm 5 dạng

lƣợng nƣớc khai thác cấp khoảng 1.200 m
3
/ngày. Lƣợng nƣớc dƣới đất trên đảo có thể
cung cấp nƣớc sinh hoạt cho 24.000 ngƣời với mức sử dụng 50 lít/ngày/ngƣời.
1.2.1.1.2 Khí tượng - thuỷ văn
Phú Quý có chế độ gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa gió Nam bắt đầu từ tháng 6
đến tháng 9, mùa gió Bắc từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau. So với nhiều vùng ở đất
liền, khí hậu ở đây do chịu ảnh hƣởng trực tiếp của không khí biển nên quanh năm mát
mẻ, nhiệt độ trung bình từ 26,9 – 27,3
0
C [11].
Từ năm 2002 đến năm 2008, nhiệt độ nước biển dao động trong khoảng từ 23,8-
30,6
0
C. Sự tăng dần nhiệt độ nước biển hàng năm thể hiện rõ trên đường biến trình
nhiệt độ ở khu vực này (hình 1.1).
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10
2003
2002
2008

tiểu mản, nhưng đôi khi lượng mưa vào thời kỳ này cũng khá lớn. Tổng lượng bốc hơi
năm xấp xỉ bằng tổng lượng mưa (1.059 mm). Mùa khô ở Phú Quý kéo dài từ tháng 12
đến tháng 4.
0
2
4
6
8
10
12
14
16
T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10 T1 T4 T7 T10
2003
2002
2008
2007
2005
2004
2006

Hình 1.2. Biến động lượng mưa (mm/ngày) tại đảo Phú Quý, năm 2002-2008
Nguồn: http://disc2.nascom.nasa.gov/Giovanni/tovas/
Vùng biển đảo Phú Quý ít bị bão (trung bình 0,66 cơn bão/năm), nhƣng gió mạnh
nhất là vào mùa gió Tây Nam có thể gây sóng lớn làm phá huỷ bờ biển, các công trình
cảng, các đầm nuôi cũng nhƣ gây khó khăn cho việc nuôi lồng trên biển. Ở phía Đông
Bắc đảo thƣờng chịu ảnh hƣởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, lại chỉ có các đảo
nhỏ chắn sóng, nên hiện tƣợng xói lở bờ đảo cũng diễn ra khá mạnh [11].
Chế độ thuỷ triều mang tính chất chung của vùng biển Bình Thuận là nhật triều
không đều. Số ngày nhật triều chiếm khoảng 18 ngày và bán nhật triều chiếm khoảng

sinh vật biển, khí tƣợng - thuỷ văn, điều kiện kinh tế - xã hội v.v.) nhằm xây dựng quy
hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tại Phú Quý. Năm 2005 - 2007, Viện Nghiên
12 cứu Hải sản đã tiến hành đề tài độc lập cấp Bộ để điều tra đánh giá nguồn lợi cá rạn
san hô và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở một số khu vực dự kiến thành lập
khu bảo tồn, trong đó có Phú Quý, nhằm đề xuất các biện pháp sử dụng bền vững
nguồn lợi. Ngoài ra các đề án phát triển kinh tế - xã hội và phát triển ngành đối với đảo
Phú Quý của UBND tỉnh Bình Thuận cũng đã đƣợc triển khai thực hiện.
Tổng hợp kết quả nghiên cứu từ các công trình trên cho thấy, vùng biển Phú
Quý có nhiều điều kiện thiên nhiên thuận lợi, tạo nên một ngƣ trƣờng có tính đa dạng
sinh học cao, giàu nguồn lợi hải sản. Vùng biển này không có mùa đông lạnh, nhiệt độ
trung bình năm 27
0
C, độ muối ít biến đổi. Đây là khu vực giao nhau của 2 dòng biển
ven bờ: dòng biển ấm từ vùng biển Đông Nam Bộ trong mùa gió Tây Nam mang lên
nhiều chất dinh dƣỡng gặp dòng chảy lạnh ven bờ có nhiệt độ thấp tạo ra môi trƣờng
phù hợp cho các loài sinh vật biển quần tụ sinh sống.
Trong hệ sinh thái thuỷ vực, thực vật phù du (TVPD) là mắt xích đầu tiên trong
chuỗi thức ăn tự nhiên, đồng thời là yếu tố chỉ thị cho đặc tính các chất dinh dƣỡng vô
cơ trong môi trƣờng nƣớc. Theo Nguyễn Dƣơng Thạo (2001), thành phần loài TVPD ở
khu vực miền Nam Việt Nam (trong đó có vùng biển đảo Phú Quý) có 170 loài thuộc
3 ngành: tảo giáp (Pyrrophyta) có 64 loài, tảo silic (Bacillariophyta) 103 loài và tảo
lam (Cyanophyta) 3 loài. Sinh vật lƣợng cao, dao động trên 2 triệu đến trên 5 triệu
tb/m
3
[15]. Về ĐVPD đã xác định đƣợc 168 loài [8], cùng nhiều ấu thể của giáp xác
(Crustacea), giun nhiều tơ (Polychaeta), da gai (Echinodermata), trứng cá và cá con.
Mật độ khá cao, ngƣỡng dao động lớn, từ 0,6 đến trên 5 nghìn cá thể/m

2
, trữ lƣợng
cá 44.070-62.320 tấn, khả năng khai thác 15.960 tấn; mật độ 7,04 tấn/km
2
.
1.2.1.3 Tài nguyên nước
Trên đảo Phú Quý không có sông suối. Tài nguyên nƣớc ngọt duy nhất là nƣớc
ngầm. Kết quả điều tra bƣớc đầu của Đoàn địa chất 705 (1989) cho thấy rằng trữ lƣợng
nƣớc ngầm tập trung chủ yếu ở:
- Tầng chứa nƣớc có áp lực cục bộ - cát chứa sỏi sạn nguồn gốc biển tuổi
Pleixtoxen sớm-giữa, phân bố chủ yếu ở ven biển Triều Dƣơng, Tam Thanh, Ngũ
Phụng, Long Hải. Đây là tầng chứa nƣớc phong phú nhất trên đảo, nƣớc thuộc loại
bicacbonat-cloruanatri, độ pH = 7,0-7,6, tổng khoáng hoá 0,4-0,6 g/l (nƣớc nhạt).
Động thái của tầng này biến hoá theo mùa với biên độ 1,5 đến 3,0m và chịu ảnh hƣởng
của thuỷ triều về mùa khô. Hiện nay, nƣớc tầng này đang đƣợc sử dụng rộng rãi trong
sinh hoạt. Tuy vậy, cần đề phòng hiện tƣợng nhiễm mặn vào công trình lấy nƣớc nếu
khai thác nƣớc ở quy mô lớn về mùa khô.
- Đới chứa nƣớc khe nứt trong các thành tạo phun trào bazan tuổi Plioxen-
Pleixtoxen dới. Nƣớc thuộc loại hình bicacbonat, độ pH = 6,5-7,0, tổng khoáng hoá
thấp hơn 1 g/l. Nƣớc ít bị nguy cơ nhiễm mặn. Động thái nƣớc ngầm của đới này thay
đổi theo mùa, biên độ 2-3m. Nƣớc ở tầng này đang đƣợc dùng rộng rãi trong sinh hoạt.
Đới chứa nƣớc khe nứt bazan là đối tƣợng cung cấp nƣớc quan trọng của đảo,
nhƣng việc khai thác nƣớc trong bazan đòi hỏi phải có các thiết bị khoan và bơm hút
cồng kềnh; ở nơi địa hình cao, mực nƣớc nằm sâu, việc khai thác nƣớc khó khăn.
Ngoài hai tầng chứa nƣớc chủ yếu trên, một số phức hệ có khả năng cung cấp
nƣớc cho các cụm dân cƣ nhỏ nhƣ: tầng chứa nƣớc cát đỏ, phức hệ chứa nƣớc các trầm
tích lục nguyên.
14
kinh tế chính ở đảo Phú Quý giai đoạn 1998 -2001 và giai đoạn 2005-2010 đƣợc thể
hiên tại bảng 1.1
Bảng 1.1. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế qua các năm (theo giá so sánh 1994)
ĐVT: triệu đồng
Ngành nghề chính Năm
Nông
nghiệp
Thủy sản
Công
nghiệp
Tổng giá trị
sản xuất
1998
13.481
37.978
26.608
78.067
1999
15.098
42.535
27.602
85.235
2000
19.268
48.197
28.461
95.926

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2001 huyện Phú Quý, 2/2002, Kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội 5 năm (2011-2015) huyện Phú Quý, 8/2009
1.2.2.3 Lực lượng lao động nghề cá
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999, thì năm 1999 toàn huyện
có 3.964 lao động hoạt động chủ yếu các nghề câu mực, nghề câu, vó mành, vây rút
chì, cụ thể số liệu theo các xã của huyện nhƣ sau: Bảng 1.2. Lao động nghề cá ở huyện Phú Quý, năm 1999

Số ngƣời tham gia khai thác hải sản
Năm 1999
Năm 2009
Long Hải
1.515
1.737
Ngũ Phụng
1.034
1.289
Tam Thanh
1.415
1.814
Tổng số
3.964
4.840
16 Nguồn: Niên giám thống kê năm 2001 huyện Phú Quý, 2/2002. Báo cáo tình hình
thực hiện nhiệm vụ năm 2009, phương hướng thực hiện năm 2010 UBND Phú Quý

nhất ở huyện Phú Quý, không chỉ vì nó chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GDP trên địa
bàn huyện, mà còn vì các nguyên liệu từ đánh bắt hải sản là nguyên liệu để cho các
ngành công nghiệp chế biến phát triển. Hoạt động nuôi trồng tuy đã phát triển, nhƣng
chƣa tính đƣợc vào giá trị sản xuất thuỷ sản. Giá trị sản xuất thuỷ sản (chỉ tính riêng
khai thác) đƣợc thể hiện tại bảng 1.5. Sản lƣợng khai thác thuỷ sản của huyện Phú Quý
giai đoạn 1998-2001 và giai đoạn 2005-2009 đƣợc thể hiện tại bảng 1.4.

Trích đoạn Y tế, giáo dục, văn hoá, xã hội Những tác động chưa tích cực của con người đến môi trường, nguồn lợi và đa Những giải pháp về chính sách và giáo dục xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế-xã hội nghề cá Phú Quý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status