BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Ngô Thị Thanh Trúc
THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
TẠI TRƯỜNG MẦM NON HƯỚNG DƯƠNG,
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Ngô Thị Thanh Trúc
THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
TẠI TRƯỜNG MẦM NON HƯỚNG DƯƠNG,
HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Và cuối cùng, tôi chân thành gửi lời chúc sức khỏe và thành công đến tất cả
mọi người.
Bình Đại, ngày 20 tháng 09 năm 2017
Học viên
Ngô Thị Thanh Trúc
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI...............................................................6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................................6
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới .........................................................................6
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam ........................................................................15
1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài.........................................................16
1.2.1. Khái niệm hành vi ......................................................................................16
1.2.2. Sự xuất hiện động cơ hành vi của trẻ mẫu giáo qua các thời kỳ ...............18
1.2.3. Sự xuất hiện ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lí
trẻ 5 - 6 tuổi ................................................................................................20
1.2.4. Khái niệm đạo đức - Hành vi đạo đức .......................................................21
1.2.5. Môi trường giáo dục .................................................................................27
1.2.6. Vai trò của môi trường giáo dục ................................................................37
1.2.7. Yêu cầu về môi trường giáo dục cho trẻ mầm non ....................................38
2.5.2. Môi trường tinh thần ...................................................................................69
Chương 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HƯỚNG DẪN ĐIỀU KHIỂN
HÀNH VI CỦA TRẺ ...............................................................................74
3.1. Cơ sở đề xuất giải pháp ......................................................................................74
3.2. Những đề xuất giải pháp nhằm cải thiện môi trường giáo dục hành vi cho
trẻ 5 – 6 tuổi ..............................................................................................................78
3.2.1. Nhóm giải pháp cung cấp thông tin ............................................................78
3.2.2. Nhóm giải pháp xây dựng môi trường giáo dục hành vi đạo đức ..............79
3.2.3. Tính hợp lý và áp dụng được của các giải pháp cải thiện môi trường
giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo ...............................................82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................89
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ
CHỮ VIẾT TẮT
1
N
Tổng
2
Tr
Trang
8
TLH
Tâm lý học
9
GD
Giáo dục
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Thông tin của giáo viên được khảo sát ......................................................45
Bảng 2.2.
Mức độ hiểu biết của giáo viên về hành vi đạo đức ..................................46
Bảng 2.3.
Nhận thức của giáo viên về vấn đề cần thiết của việc giáo dục hành
vi đạo đức cho trẻ mẫu giáo .......................................................................48
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định vai trò của giáo dục đối
với sự hình thành nhân cách con người. Một mặt, giáo dục là sự tác động có mục đích,
có hệ thống, theo một tổ chức chặt chẽ, nó phác thảo trước mô hình nhân cách cần đạt
đến. Mặt khác, giáo dục truyền lại những thành tựu của nền văn minh xã hội theo con
đường ngắn nhất, hiệu quả nhất. Nhân cách con người được hoàn thiện bởi một nền
giáo dục xã hội và tự giáo dục toàn diện sẽ trở thành những người vừa “hồng”, vừa
“chuyên”; vừa có phẩm chất, vừa có năng lực; những công dân tốt, những cán bộ tốt,
sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam mới. Để có những con
người vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bác Hồ thường xuyên quan tâm việc xây dựng một
nền giáo dục toàn diện và khẳng định: “Nền giáo dục đó phải kết hợp một cách nhuần
nhuyễn giữa đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục, nhằm đào tạo ra những con người có tri
thức, có lý tưởng, có đạo đức, có sức khỏe, có thẩm mỹ”.
Trong quá trình xây dựng xã hội hài hòa văn minh, con người ngày càng chú ý
đến việc tôn trọng người khác. Tôn trọng nghĩa là xem trọng nhân cách, giá trị và
thành quả lao động của người khác trên cơ sở bình đẳng. Thế nhưng hiện nay có rất
nhiều những đứa trẻ do được gia đình nuông chiều quá mức mà không biết thế nào
là khiêm nhường, hễ có mâu thuẩn là cho rằng mình đúng và đẩy trách nhiệm cho
người khác.
Thế nhưng, quá trình trưởng thành và hình thành nhân cách của mỗi người là khác
nhau, giáo dục và nuôi dưỡng là hai yếu tố then chốt quyết định tạo nên tài năng và
tính cách của mỗi con người. Lứa tuổi ấu thơ là giai đoạn quan trọng trong quá trình
hình thành nhân cách của trẻ. Nhân cách mặc dù chưa được thể hiện rõ ràng nhưng
thông qua hành vi bắt chước hành động của người lớn trẻ em bắt đầu thâu nhận tất cả
các tương tác nhân – sinh – quan để hình thành nhân cách của mình.
Chính vì thế, gia đình có ảnh hưởng to lớn đối với quá trình xã hội hóa ban đầu
của cá nhân, có ảnh hưởng đến việc hình thành phẩm chất, nhân cách gốc của trẻ. Nếu
ngay từ đầu các phẩm chất đó bị sai lệch, trẻ sẽ dễ sinh hư. Ông bà xưa cho rằng muốn
con cái trở thành thương nhân thì nên ở gần chợ, muốn con hay chữ thì ở gần trường
việc tìm hiểu và tác động giáo dục.
Tuy nhiên, nhắc đến đây, tác giả không thể không nói tới một số trường hợp nhà
trường đã lỏng lẻo và thiếu trách nhiệm trong giáo dục và quản lý học sinh nên đã gần
3
như “bỏ rơi” những hành vi của các em ở tại trường học.
Bên cạnh đó, không ít thầy cô giáo vẫn cho mình là bề trên, cho rằng thời gian
đâu để lắng nghe, điều kiện đâu để tìm hiểu hoàn cảnh, sự đầu tư cho công tác giáo
dục đạo đức còn bị xem nhẹ thì thử hỏi bạo lực, một hành vi bộc phát sao không có cơ
hội nảy sinh? Những nguyên nhân trên ảnh hưởng một cách tổng hợp đến hành vi của
trẻ em, nên cần có những biện pháp giáo dục từ nhà trường và gia đình.
Trẻ em ngây thơ trong trắng, dễ chịu tác động xấu hoặc tốt, do đó người lớn
cần phải thật sự chú ý đến hành vi của bản thân mình và khuyến khích người khác phải
có hành vi văn hóa trước mặt trẻ nhỏ.Thực tế, quan sát trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm
non Hướng Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Tác giả nhận thấy trẻ có các biểu
hiện hành vi chưa tốt thể hiện trong hoạt động hằng ngày với cô và bạn, điều đó gợi
cho tác giả một suy nghĩ về hướng nghiên cứu đề tài “Thực trạng môi trường giáo dục
hành vi đạo đức cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Hướng Dương, huyện Bình Đại,
tỉnh Bến Tre”.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng môi trường giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ 5 - 6 tuổi tại
trường mầm non Hướng Dương huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre nhằm có một cơ sở thực
tiễn đề xuất một số biện pháp cải thiện hành vi cho trẻ.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non Hướng
Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng môi trường giáo dục hành vi đạo đức trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm
- Đối tượng: Giáo viên, cán bộ quản lý chuyên môn trường mầm non Hướng
Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
- Cách thực hiện: Phương pháp này được thực hiện bằng cách phát bảng hỏi cho
từng giáo viên dạy lớp 5 - 6 tuổi, cán bộ quản lý chuyên môn trường mầm non Hướng
Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.
7.2.2. Phương pháp quan sát
- Mục đích: Để thu thập thêm thông tin, làm rõ số liệu thu được qua khảo sát
bằng phiếu hỏi và tìm hiểu thực trạng hành vi trẻ 5 - 6 tuổi tại cơ sở giáo dục nghiên
cứu. Từ đó kết hợp và đánh giá môi trường ảnh hưởng đến hành vi của trẻ.
5
- Nội dung: Quan sát những hành vi của trẻ thông qua các hoạt động hằng ngày
của trẻ.
7.2.3. Phương Pháp xử lý số liệu
- Phương pháp tính tỉ lệ %
8. Những đóng góp mới của đề tài
- Với đề tài “Thực trạng môi trường giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ 5 - 6 tuổi
tại trường mầm non Hướng Dương, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre”.
+ Gửi thông điệp đến cho người đọc thấy một bức tranh mối liện hệ về môi
trường sống, chú yếu là môi trường xã hội, nơi trẻ đang sống ảnh hưởng như thế nào
đến hành vi của trẻ ở trường Mầm Non Hướng Dương.
+ Báo động cho xã hội, gia đình, nhà trường, những người trực tiếp chăm sóc
giáo dục trẻ sớm nhận ra hành vi của mình sẽ ảnh hưởng như thế nào đến thế hệ trẻ
trong tương lai.
9. Cấu trúc của đề tài
- Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng môi trường giáo dục hành vi đạo đức cho trẻ 5 – 6 tuổi.
Chương 3: Đề xuất một số biện pháp giáo dục hành vi đạo đức
lớn, nhà giáo dục vĩ đại của Trung Quốc đặc biệt coi trọng vai trò của giáo dục đạo
đức và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp cũng như về tâm lý giáo dục. Ông
hướng triết học của mình vào mục đích là giáo dục đạo đức cho con người [23].
7
Ở phương tây, vấn đề giáo dục đạo đức đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tư
tưởng. Cho đến nay, người ta vẫn coi nhà triết học Socorat (470 - 399 - TCN) là người
đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức. Ông cho rằng đạo đức và sự hiểu biết
quy định lẫn nhau, có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi con người
có hiểu biết, người ấy mới trở thành người có đạo đức.
Aristosle (384 - 322 - TCN) - nhà triết học, nhà khoa học và giáo dục Hy Lạp thì
cho rằng không phải hi vọng vào Thượng đế để có người công dân hoàn thiện về đạo
đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện
trong quan hệ đạo đức. Ông quan niệm đạo đức là cái thiện của cá nhân, cái thiện của
xã hội.
Nhà giáo dục vĩ đại Tiệp khắc J.A. Cômenxki (1592 - 1670) là nhà sư phạm lỗi
lạc “Đỉnh cao nhất của những tư tưởng giáo dục từ thời cổ đại cho đến thế kỷ thứ 17”.
Đóng góp lớn nhất của ông trong lĩnh vực giáo dục và giáo dục đạo đức là lấy đạo đức
của cuộc đời mình làm tấm gương để gíao dục. Ông đã khẳng định “Nếu anh không
như một người cha thì anh cũng không thể là một người thầy”. Bên cạnh đó, ông cũng
đề cao vai trò của giáo dục, con người không nhận sự giáo dục sẽ không thành người.
Ông xem trẻ em vào đời như một con khỉ bắt chước. Vì thế để việc giáo dục trẻ em tốt
cần phải cải tạo môi trường giáo dục và phải giáo dục bằng tấm gương của mọi người
xung quanh, nhằm đặt những dấu ấn ban đầu tốt đẹp lên trẻ em. Theo ông, trẻ em bị
nhiễm thói xấu ban đầu thì sau này sửa lại rất khó. J.A. Cômenxki cho rằng, trẻ em
phát triển qua các thời kì khác nhau, giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau. Giai
đoạn sau dựa vào giai đoạn trước; mỗi giai đoạn phát triển đều có đặc điểm riêng vì
thế giáo dục phù hợp với tự nhiên là phải căn cứ vào sự phát triển của trẻ. Đồng thời
phương pháp giáo dục đạo đức của ông rất chú trọng đến hành vi và động cơ có đạo
hài hòa giữa phát triển trí tuệ, thể chất, năng lực hoạt động xã hội, giao tiếp, kỹ năng
lao động nghề nghiệp, ý thức công dân xã hội chủ nghĩa.
V.I.Lenin (1870 - 1924) đã viết: “Cuộc sống xã hội là người thầy tốt nhất để giáo
dục và dạy dỗ cho từng cá nhân và cho các tầng lớp xã hội khác nhau”. Sự phát triển
của nhân cách tùy thuộc vào cá nhân tham gia vào các đời sống xã hội, có vị trí và
chức năng gì trong xã hội. Cá nhân có những quan điểm thế nào trong xã hội, nắm
được những giá trị gì, rèn luyện được những phẩm chất gì để hình thành nhân cách.
Ông còn nêu rõ: “Chỉ có thể thừa nhận tính quyết định của hoạt động và hành vi của
con người mới tạo ra được những cơ sở để đánh giá đúng đắn và nghiêm túc hành vi
9
đó”. Như vậy, ông cho rằng, hoạt động của cá nhân là tiêu chuẩn để đánh giá
nhân cách.
A.S.Makarenko (1888 - 1939), trong tác phẩm “Bài ca sư phạm” đề cập đến
các vấn đề về giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và trẻ em không gia
đình) đã đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo
dục đạo đức đúng đắn, như sự nêu gương, nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua
tập thể.
Các nhà tâm lý học nhận thức phương Tây, tiêu biểu như Jean. Piaget (18961980) đã nghiên cứu sự phát triển đạo đức của trẻ em thông qua những suy luận đạo
đức mà trẻ thể hiện khi nhận định tính đúng sai của một hành động. Theo họ sự tăng
trưởng nhận thức và trải nghiệm xã hội giúp trẻ phát triển về sự hiểu biết về các quy
chuẩn xã hội, luật pháp và nghĩa vụ trong mối quan hệ xã hội khi trẻ em tiếp nhận
những hiểu biết mới này, chúng tuần tự đi qua những giai đoạn đạo đức, giai đoạn sau
là sự tiến hóa của giai đoạn trước.
G.W.Allport (1897 - 1967) nhà tâm lý học, người mỹ thì cho rằng: “Nhân cách là
một trật tự động (dynamic) của các hệ thống tâm - thế trong cá nhân quy định những
sự thích nghi độc đáo đối với môi trường xung quanh của họ”[24, tr 65 - 71].
Nếu sống trong môi trường chỉ trích, trẻ sẽ học lối chỉ trích. Nếu sống trong môi
trường được chấp nhận, trẻ sẽ học được cách yêu thương. Đây là cuốn cẩm nang vô
hoạt động chính thức, có kế hoạch trước và theo cấu trúc cụ thể”.
Thứ ba, sự tập trung nhận thức đối với các kinh nghiệm và kỹ năng thông
qua “các hoạt động không chính thức và không theo cấu trúc cụ thể”.
Trong các chương trình theo quan điểm chín chắn, việc sắp xếp môi trường vật
chất được thiết kế nhằm “thúc đẩy sự nhận thức của trẻ về tự do và tính chuyển
động”. Kết quả là tất cả đồ chơi phải được trưng bày ra và dễ dàng tiếp cận.
\Trẻ có cơ hội tiếp xúc với môi trường không gian mà ở đó các góc hoạt động
được đánh dấu rõ ràng, trẻ dễ dàng nhìn thấy và liên kết với nhau bằng các lối đi
[15, tr.191].
Ngược lại, trong các chương trình theo quan điểm hành vi “môi trường
sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng và phù hợp với công việc đã định”, giáo viên quy
định các đồ chơi, đồ dùng nào nên để sẵn và đồ chơi nào trẻ không thường xuyên
sử dụng. Bố trí lớp nhằm “thu hút sự tập trung chú ý của trẻ và tránh các xung đột
và sự xao lãng”. Cấu trúc đã được đóng lại và các lối đi phải hướng trẻ đến những
hoạt động cụ thể. Các hoạt động này được tách biệt nhau bằng các vách ngăn, đảm
11
bảo sự riêng tư cho công việc của cá nhân và cả nhóm, cũng như đảm bảo thời
gian nghỉ ngơi.
Trong các chương trình theo quan điểm nhận thức, các góc hoạt động là
“sự pha trộn giữa các góc chín chắn mở và các góc công việc được yêu cầu
nghiêm ngặt của chương trình theo quan điểm hành vi”. Những góc này được xác
định một cách cẩn thận, thể hiện các mối quan hệ theo một trình tự và được thay
đổi dần dần, nhằm tạo cho trẻ có cơ hội đối phó với sự thay đổi. Để tránh sự lộn
xộn và sự cạnh tranh, giáo viên nên lựa chọn các nguyên vật liệu cho trẻ mặc dù
kho lưu giữ ở gần và trẻ có thể tự chọn.
Bằng cách gắn kết việc thiết kế lớp học với các quan điểm của giáo dục,
Seaver và Cartwright (1986) đã đưa ra những thách thức với giáo viên trong việc
kết hợp chặt chẽ những quan tâm về môi trường vào suy nghĩ cơ bản nhất của họ
có ý nghĩa trong cuộc sống khi đã trưởng thành.
Bên cạnh đó, David và Weinstein (1987) cũng giới thiệu được những tài liệu liên
quan đến vấn đề họ nghiên cứu, đó là xây dựng môi trường, bằng cách bày tỏ niềm tin
vững chắc của họ về mối liên hệ giữa môi trường và quá trình phát triển của trẻ. Ông
đã tổng hợp các tài liệu và những chỉ dẫn gắn liền với mười mục tiêu phát triển, bao
gồm những vấn đề sau: sự tự trọng; sự an toàn và thoải mái; sự tự điều khiển; sự tương
tác với bạn và hành vi xã hội; xác định rõ vai trò của giới tính; sự biểu đạt mang tính
tượng trưng; tư duy lôgic; sáng tạo và hoạt động giải quyết vấn đề; khả năng chú ý và
sự tham gia vào công việc; sự phát triển về vận động.
Vào những năm của thập niên 90, các nhà nghiên cứu tiếp tục khám phá sâu hơn
về tác động của môi trường vật chất đối với sự phát triển và việc học của trẻ. Những
hoạt động của trẻ gắn liền với công việc của giáo viên vì nó chỉ ra cách thức mà giáo
viên có thể sử dụng thiết kế lớp học để đạt được các mục tiêu chương trình cụ thể.
Chẳng hạn, Alton J. De Long và các nhà nghiên cứu khác (1994) khám
phá ra rằng, bằng việc thay đổi tri giác không gian của trẻ người ta đã tạo nên sự
thay đổi tri giác của trẻ về thời gian. Để thực hiện thực nghiệm của mình, các tác
giả đã xây dựng trong khuôn khổ tự nhiên của lớp học một công trình xây dựng có
tỉ lệ giảm đi tương đồng, như mái hiên theo kích thước của trẻ, có thể di chuyển
được và quan sát được. Họ nhận ra rằng, chơi trong công trình này, chúng hòa
nhập nhanh hơn, và dành nhiều thời gian hơn vào trò chơi phức tạp so với khi
chúng chơi ở lớp học tự nhiên. Mặc dù mẫu nghiên cứu này nhỏ, song những kết
quả thu được đã gợi ý cho giáo viên biết có thể làm tăng khả năng chú ý của trẻ và
giúp trẻ xử lí thông tin nhanh hơn thông qua việc thay đổi quy mô môi trường học
của trẻ [14,tr 189].
13
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu Petrakos và Howe (1996) đã chỉ ra rằng, việc
bố trí sắp xếp đồ dùng và đồ chơi cũng ảnh hưởng đến các hoạt động chơi của trẻ. Họ
đưa ra các minh chứng cho điều đó. Họ quan sát một vài trẻ ở một vài góc; chẳng hạn
giống như hạt giống, nếu được gieo trồng trong môi trường đất thích hợp và được hấp
thụ những chất dinh dưỡng có lợi, chắc chắn nó sẽ phát triển thành một cây xanh tươi
tốt, có khả năng sống vững bền.
Nhà tâm lý học Benjamin Bloom của Đại học Chicago, Hoa Kỳ, đã tổng hợp lại
những thành quả nghiên cứu của một số nhà Tâm lý học khác về mức độ thông minh
của con người, ông dựa vào số liệu tương quan giữa chỉ số IQ ở những độ tuổi khác
nhau so với chỉ số IQ của người trưởng thành, rồi vẽ ra thành một biểu đồ đường cong
với sự phát triển trí thông minh: giả sử lấy IQ của đứa trẻ 17 tuổi ứng với IQ của người
trưởng thành là 100%, thì sự phát triển của đưa trẻ 4 tuổi là 50%, 8 tuổi là 80%, 12
tuổi là 90%, 13 tuổi là 92 %. Từ biểu đồ này ta có thể nhìn ra được là tốc độ phát triển
của trí thông minh là không đồng điều, bốn năm đầu phát triển rất nhanh, bốn năm tiếp
theo giảm dần tốc độ, và bốn năm sau nữa là chậm hẳn. Điều này chứng tỏ rằng tốc độ
phát triển trí thông minh con người càng nhỏ càng nhanh.
Nhà khoa học người Nhật Bản Kimura Kyuichi cũng đã từng đưa ra nguyên tắc
giảm dần về năng lực nhận thức của trẻ con. Ông nói: “Một đứa trẻ chưa sinh ra vốn
có tiềm năng về khả năng là 100 độ. Nếu vừa ra đời đã nhận được sự giáo dục lý
tưởng, thì sẽ có khả năng trở thành người trưởng thành có năng lực 100 độ. Nhưng nếu
bắt đầu giáo dục khi trẻ 5 tuổi, dù được giáo dục tốt đến mấy, cũng chỉ trở thành người
có năng lực đạt mức 60 độ. Còn đến 15 tuổi mới tiến hành giáo dục thì năng lực chỉ
còn dưới 40 độ”.
Lý luận của các chuyên gia cùng với các số liệu khoa học đều chứng tỏ rằng:
thời kỳ trẻ từ 0 đến 6 tuổi được coi là thời kỳ nhạy cảm nhất, thời kỳ phát triển nhanh
nhất của trẻ. Trong giai đoạn này, não bộ của trẻ phát triển mạnh nhất, trẻ học hỏi, tiếp
thu nhanh nhất, vì vậy trách nhiệm của người lớn cần phải tạo môi trường phù hợp để
trẻ được phát triển toàn diện, đầy đủ về hành vi nói riêng cũng như nhân cách của trẻ
nói chung.
Như vậy, mỗi tác giả tìm hiểu nghiên cứu cụ thể từng khía cạnh, nội dung về điều
kiện môi trường và động cơ hình thành hành vi trông môi trường như thế nào, tất cả
đều để lại những thông tin quý giá đối với việc nghiên cứu luận văn này.
“Giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ”, NXBGD, 1992, nói về việc dạy trẻ biết thực hiện một
số công việc như đánh răng, rửa mặt, chải tóc, mặc quần áo…không chỉ dừng lại ở
16
mục đích hình thành ở trẻ khả năng tự phục vụ bản thân. Hơn thế nữa, người lớn cho
trẻ cái đẹp nói chung và cái đẹp trong hành vi văn hóa nói riêng, nhìn từ góc độ giúp
trẻ cảm nhận vẻ đẹp trong thế giới đồ vật và hành vi văn hóa vệ sinh.
Trong cuốn sách “Những quy tắc để con có cuộc sống hạnh phúc” tác giả Lê
Khanh chia sẻ với các bậc phụ huynh những quy tắc đơn giản để giúp con mình phát
huy được nhân cách, hình thành được mối dây liên kết chặt chẽ giữa các thành viên
trong gia đình. Từ đó các em mới mạnh dạn phát huy những khả năng cá nhân, xây
dựng sự tự tin, phát triển các kỹ năng sống và dần có được hạnh phúc.
Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề đạo đức và giáo
dục hành vi đạo đức đã và đang được nhiều ngành giáo dục quan tâm nghiên cứu ở
nhiều góc độ khác nhau, đặc biệt ở bậc học mầm non.
Theo nghiên cứu: sự trưởng thành của trẻ bắt đầu từ bắt chước. Khi còn rất nhỏ,
trí não của trẻ ghi nhận tất cả những gì mình nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận thấy rồi
sau đó sẽ bất giác bắt chước theo trong cuộc sống sau này, trong đó bao gồm cả cử chỉ
hành vi, phương thức tư duy, xu hướng tình cảm và cả tính cách bản thân. Thế giới của
trẻ là do người lớn làm trụ cột. Khi chưa thể tự lập rất nhiều việc trẻ phải cần người
lớn kiểm soát.
Trên nền lịch sử nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tâm lý học - giáo dục học
trên thế giới và trong nước, trong đề tài này chúng tôi đã tiếp thu, hệ thống hóa và suy
nghĩ thêm về những vấn đề đặt ra có ý nghĩa cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu mà đã
được khẳng định. Tôi cố gắng đề xuất và đi sâu nghiên cứu thực trạng việc giáo dục
hành vi đạo đức cho trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mà tôi đang công tác.
1.2. Các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.2.1. Khái niệm hành vi
Trong những khái niệm, quan niệm, những phạm trù cơ bản có liên quan đến