TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
HOÀNG THỊ NGỌC YẾN
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ
CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN TRƢỜNG MẦM NON
HƢƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈNH
VĨNH PHÚC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO
HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp tổ chức hoạt động tạo hình
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Thạc Sỹ: VŨ LONG GIANG
HÀ NỘI – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Khoá luận là kết quả cố gắng của bản thân tôi trong quá trình học tập vầ
nghiên cứu tại trƣờng Đại học. Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu “ Tìm hiểu thực
trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hương Sơn – huyện
Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong
tự nhiên” không trùng lặp với bất kỳ một đề tài nào khác và chƣa đƣợc công bố
trên bất kỳ công trình nghiên cứu nào.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh Viên
Hoàng Thị Ngọc Yến
1.1.1. Đặc điểm tâm lý……………………………………………………..7
1.1.2. Đặc điểm sinh lý…………………………………………………….7
1.2.MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ - GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU
GIÁO LỚN............................................................................................................10
1.2.1. Khái niệm thẩm mỹ…………………………………………………..10
1.2.2. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn……………………………..11
1.2.2.1. Giáo dục thẩm mỹ………………………………………………12
1.2.2.2. Nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn……………...14
1.2.2.3. Ý nghĩa của việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn……...16
1.3. GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO
HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN...................................................16
1.3.1. Khái quát về hoạt động tạo hình ở trƣờng mầm non…………………16
1.3.2. Hoạt động tạo hình từ vật liệu cón sẵn trong tự nhiên và vai trò của hoạt
động này đối với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ………………………………..18
1.3.2.1. Nguyên vật liệu………………………………………………….18
1.3.2.2. Yêu cầu khi sử dụng nguyên vật liệu............................................18
1.3.2.3. Vai trò của hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên đối
với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ………………………………………………19
CHƢƠNG 2:THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU
GIÁO LỚN Ở TRƢỜNG MẦM NON HƢƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH
XUYÊN – TỈNH VĨNH PHÚC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO
HÌNH TỪ VẬT LIỆU CÓ SẴN TRONG TỰ NHIÊN...........................21
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TRƢỜNG MẦM NON HƢƠNG SƠN – HUYỆN BÌNH XUYÊN – TỈ1H
VĨNH PHÚC……………………………………………………………………..21
2.2. KHẢO SÁT THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………...47
PHỤ LỤC
1
PHẦN 1:MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Trẻ em chính là tƣơng lai của đất nƣớc, vì vậy việc giáo dục, bồi dƣỡng
những thế hệ măng non trở thành những công dân tốt với đầy đủ nhân lực, trí lực
để góp phần xây dựng đất nƣớc là nhiệm vụ hàng đầu của ngành giáo dục và toàn
xã hội.
Trong đó, giáo dục mầm non là những viên gạch đầu tiên của hệ thống giáo
dục. Nhân cách của trẻ cũng đƣợc hình thành mạnh mẽ trong giai đoạn lứa tuổi
này. Việc thiếu quan tâm đến giáo dục mầm non chính là sự bỏ lỡ cơ hội cải thiện
triển vọng cho trẻ. Vì vậy giáo dục trẻ trong độ tuổi này vô cùng quan trọng và cần
đƣợc sự quan tâm của cả cộng đồng.
Nhà giáo dục Xô Viết A. S. Makarenkô khẳng định: “ Những cơ sở căn bản
của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5. Những điều dạy cho trẻ
ở thời kỳ đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ. Về sau việc giáo dục con người
vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, cùng những nụ hoa thơm đó
được vun trồng trong 5 năm đầu”
Trong điều 21, 22, Luật giáo dục (2005) đã xác định nhiệm vụ và mục tiêu
giáo dục mầm non “ Giáo dục mầm non thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”, “Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ phát
triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của
nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”
Nhƣ vậy, giáo dục Mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc
dân, có vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển
nhân cách con ngƣời.
mới lạ nhƣng lại đạt hiệu quả cao bởi nó là một trong những hoạt
3
động thu hút đƣợc sự chú ý của trẻ mẫu giáo lớn. Khi tham gia vào tiết học tạo
hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên, trẻ đƣợc tiếp xúc với các vật liệu khác nhau,
khám phá chúng và tạo ra đƣợc những sản phẩm mà mình mong muốn, làm cho trẻ
cảm thấy thích thú, say mê. Từ đó gợi ở trẻ nhu cầu muốn tạo ra cái đẹp, cái hay và
có ý thức tôn trọng, bảo vệ cái đẹp, làm cho quá trình giáo dục đạt hiệu quả.
Thực tế trong công tác giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn ở trƣờng
mầm non Hƣơng Sơn – Huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc những năm gần đây
cũng đƣợc chú trọng hơn. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ đƣợc lồng ghép thông qua các
hoạt động vui chơi, học tập của trẻ. Việc lồng ghép tích hợp giáo dục thẩm mỹ
thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên giúp trẻ thoả sức
khám phá, trải nghiệm và sáng tạo. Bên cạnh những mặt thuận lợi thì cũng có
không ít những khó khăn cần phải giải quyết để có thể nâng cao mặt thẩm mỹ của
trẻ.
Vì vậy, để nâng cao chất lƣợng giáo dục nói chung và giáo dục thẩm mỹ nói
riêng cho trẻ mẫu giáo thì việc tìm ra phƣơng thức giáo dục thẩm mỹ hiệu quả là
vấn đề cần thiết, là vấn đề hết sức quan trọng và luôn đƣợc quan tâm chú ý đặc biệt
trong trƣờng mầm non hiện nay.
Hiểu đƣợc tầm quan trọng của vấn đề, là một giáo viên mầm non tƣơng lai
chúng tôi thấy cần phải nhận thức đúng vai trò của việc giáo dục thẩm mỹ trong
trƣờng mầm non nói chung và đối với trẻ mẫu giáo lớn nói riêng. Chính vì vậy mà
chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “ Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho
trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hương Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh
Phúc thông qua hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên.”.
Đối tƣợng nghiên cứu: Thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn
trƣờng Mầm non Hƣơng Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua
hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn
trƣờng mầm non Hƣơng Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt
động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu các vấn đề lý luận về giáo dục thẩm mỹ và hoạt động tạo hình từ
vật liệu có sẵn trong tự nhiên của trẻ mẫu giáo lớn.
Tìm hiểu thực trạng về giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn trƣờng Mầm
non Hƣơng Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc thông qua hoạt động tạo
hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên.
Bƣớc đầu đề xuất một số biện pháp tác động nhằm nâng cao việc giáo dục
thẩm mỹ trong hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên.
6. Giả thuyết khoa học
Với việc giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động tạo hình tại lớp trẻ mẫu giáo
lớn ( 5- 6 tuổi) trƣờng mầm non Hƣơng Sơn – huyện Bình Xuyên – tỉnh Vĩnh Phúc
mà có sự đa dạng về vật liệu, đặc biệt là những vật liệu có sẵn trong tự nhiên và
quen thuộc với trẻ sẽ góp phần nâng cao nhận thức thẩm mỹ cho trẻ, tăng hiệu quả
giáo dục toàn diện nói chung, hiệu quả giáo dục thẩm mỹ nói riêng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận: Đọc, nghiên cứu tài liệu về tâm lý học,
giáo dục học, mỹ thuật học, phƣơng pháp tổ chức hoạt động tạo hình,……….
- Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
6
trong thời gian lâu hơn.
Hệ cơ xƣơng của trẻ đang dần hoàn thiện, các mô cơ ngày càng phát triển, cơ
quan điều khiển vận động đƣợc tăng cƣờng… Do vậy, trẻ có thể tiến hành hoạt
động đòi hỏi sự khéo léo của đôi tay, chân và toàn thân ( chạy, nhảy, vẽ, nặn, cắt,
dán…).
Cơ quan phát âm cũng phát triển và hoàn thiện dần. Ở giai đoạn này, ngôn
ngữ của trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển hành vi của trẻ.
1.1.2. Đặc điểm tâm lý
Độ tuổi mẫu giáo lớn là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi mầm non tức là lứa tuổi trƣớc khi đến trƣờng phổ thông. Ở giai đoạn này, những cấu tạo tâm
lý đặc trƣng của con ngƣời đã đƣợc hình thành trƣớc đây, đặc biệt là trong độ tuổi
mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Với sự giáo dục
8
của ngƣời lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ đƣợc hoàn thiện về mọi phƣơng diện
của hoạt động tâm lý ( nhận thức, tình cảm và ý chí) để hoàn thành việc xây dựng
những cơ sở ban đầu về nhân cách của con ngƣời.
Sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày.Một trong những
thành tựu lớn lao nhất của giáo dục mầm non là làm cho trẻ sử dụng đƣợc một cách
thành thạo tiếng mẹ đẻ trong đời sống hàng ngày. Tiếng mẹ đẻ là phƣơng tiện quan
trọng nhất để lĩnh hội nền văn hoá dân tộc, để giao lƣu với những ngƣời xung
quanh, để tƣ duy, để tiếp thu khoa học…
Lứa tuổi mẫu giáo là thời kỳ bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện
tƣợng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc độ khá
nhanh, và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đều biết sử dụng tiếng mẹ đẻ
một cách thành thục trong sinh hoạt hàng ngày. Sự hoàn thiện tiếng mẹ đẻ ở trẻ
mẫu giáo lớn theo các hƣớng sau:
- Nắm vững ngữ âm và ngƣ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ.
- Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp.
lớn, sự chú ý đã tập trung và bền vững hơn. Cũng tƣơng tự nhƣ vậy, ghi nhớ của
trẻ mẫu giáo lớn càng ngày càng có tính chủ định nhiều hơn.
Do sự xác định ý thức bản ngã đƣợc rõ ràng hơn và các quá trình tâm lý
không chủ định chuyển dần sang quá trình tâm lý mang tính chủ định, làm cho các
hành động ý chí của trẻ ngày càng đƣợc bộc lộ rõ nét trong hoạt động vui chơi và
trong cuộc sống.
Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới – tư duy trực quan sơ đồ và
những yếu tố của tư duy lôgic. Để đáp ứng với khả năng và nhu cầu phát triển của
trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo cần phát triển thêm một kiểu tƣ duy trực quan – hình
tƣợng mới, đó là kiểu tƣ duy trực quan sơ đồ. Kiểu tƣ duy này tạo cho trẻ một khả
năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào hành
động hay ý muốn của bản thân trẻ. Trẻ mẫu giáo lớn có khả năng hiểu một cách dễ
dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ
10
đồ và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật. Trong thời gian này,
trẻ bắt đầu hiểu rằng, có thể biểu thị một sự vật hay một hình tƣợng nào đó bằng
những từ ngữ hay các ký kiệu khác nhau khi phải giải những bài toán tƣ duy độc
lập.
Tƣ duy trƣợc quan sơ đồ phát triển cao sẽ dẫn đứa trẻ đến ngƣỡng cửa của
tƣ duy trừu tƣợng. Trẻ em ở cuối tuổi mẫu giáo có thể lĩnh hội đƣợc những khái
niệm khoa học đơn giản. Điều đó giúp trẻ thay đổi khá nhiều trong hoạt động tƣ
duy của chúng, biểu hiện ở sự nảy sinh các yếu tố tƣ duy lôgic cùng với sự dạy dỗ
đặc biệt.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIÁO DỤC THẨM MỸ - GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ
MẪU GIÁO
1.2.1.. Khái niệm thẩm mỹ
dục tốt nhất, có nguyên lý xuất phát, có đối tƣợng thẩm mỹ, có phƣơng pháp
nghiên cứu, có hệ thống khái niệm và phạm trù riêng biệt, có lịch sử phát sinh và
phát triển.Theo quan điểm của Mỹ học Mác – Lê Nin, giáo dục thẩm mỹ đƣợc hiểu
theo 2 nghĩa:
Nghĩa hẹp: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục có tính trƣờng quy về
cái đẹp, giáo dục con ngƣời biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp.
Nghĩa rộng: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục và tự giáo dục nhằm
phát huy mọi năng lực của con ngƣời theo quy luật cái đẹp, trong đó có việc bồi
dƣỡng nhận thức thị hiếu thẩm mỹ, lý tƣởng thẩm mỹ của con ngƣời. Xây dựng
những tình cảm mạnh mẽ để con ngƣời có thể phân biệt rạch ròi giữa cái đẹp và cái
xấu, cái cao cả và cái thấp hèn.
Giáo dục thẩm mỹ là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích
vào nhân cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp
trong nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, giáo dục lòng yêu cái đẹp
và đƣa cái đẹp vào trong đời sống xã hội một cách sáng tạo. Nhiệm vụ của giáo
dục thẩm mỹ là hình thành ở trẻ các quan hệ thẩm mỹ
12
đối với hiện thực, thúc đẩy trẻ hoạt động sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Một
cách đơn giản cũng có thể hiểu đƣợc cái đẹp trong hiện thực, trong tự nhiên, trong
lao động sinh hoạt, trong các mối quan hệ và hành vi của con ngƣời cũng nhƣ
trong nghệ thuật, phát triển các quan điểm thị hiếu, tình cảm, nhu cầu và năng lực
xây dựng cái đẹp một cách tích cực và sáng tạo.
Nhƣ vậy, bản chất của giáo dục thẩm mỹ là nguyên tắc hoạt động sáng
tạo của con ngƣời theo quy luật của cái đẹp. Nghĩa là con ngƣời luôn hƣớng tới
những cái mới, cái tốt đẹp hơn.
1.2.2.2. Nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn
Sự phát triển tri giác, tình cảm và khái niệm thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
Đặc điểm sáng tạo của trẻ thể hiện ở chỗ: trong hoạt động trẻ thực hiện
một cách có chủ định, biết phối hợp các tri thức về ấn tƣợng của mình ở tính chân
thật cao khi thể hiện tình cảm và tƣ tƣởng. Hơn nữa, đặc điểm tâm lý đƣợc thể hiện
rất rõ ở tuổi mẫu giáo là sự bắt chƣớc. Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong hoạt
động vui chơi của trẻ. Trong trò chơi trẻ bắt chƣớc những hoạt động của ngƣời lớn,
trẻ biết mô phỏng bằng hình ảnh, những ấn tƣợng lấy trong thế giới xung quanh.
Óc tƣởng tƣợng sáng tạo của trẻ cũng đƣợc thể hiện ở chỗ các em thƣờng
kết hợp có ý thức các chủ đề khác nhau. Các em lấy tƣ tƣởng từ truyện cổ tích,
trong phim ảnh, trong cuộc sống… các em phối hợp các tri thức, ấn tƣợng và thống
nhất chúng trong một cái hoàn chỉnh.
Tính sáng tạo của trẻ còn đƣợc thể hiện trong các hình thức nghệ thuật
khác nhƣ: vẽ, nặn, kể chuyện hay ca hát.
Ở tuổi mẫu giáo đã có mầm mống của tính sáng tạo, chúng thể hiện ở sự
phát triển năng lực xây dựng có chủ định và thực hiện nó; ở kỹ năng phối hợp các
tri thức, các khái niệm của mình. Vì vậy, để phát triển óc sáng tạo cho trẻ cần có
quá trình dạy học để giúp trẻ cách diễn đạt hình tƣợng và mô tả chủ định, khơi dậy
ở trẻ những biểu hiện có ý thức về nghệ thuật, gây ra cảm
14
xúc tích cực và phát triển năng lực cho trẻ. Mục đích của việc dạy kỹ năng, kỹ xảo
hoạt động nghệ thuật không chỉ giúp trẻ có tri thức và kỹ xảo về ca, hát, vẽ, mà còn
gây ở trẻ hứng thú, hoạt động độc lập, sáng tạo, đem lại niềm vui trong cuộc sống
của trẻ, trong tập thể và gia đình.
Hình thành những cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ. Sự cảm thụ cái đẹp có liên
hệ mật thiết đến năng lực đánh giá cái đẹp một cách đúng đắn. Thị hiếu thẩm mỹ
của con ngƣời thể hiện lở sự phán đoán đánh giá. Cần dạy cho trẻ phân biệt cái đep
với cái không đẹp, cái thô kệch với cái xấu xí. Giáo dục cho các em năng lực trình
bày lý do tại sao lại thích bức tranh này, bài hát này, câu truyện này.
Tuy nhiên, việc nhận thức nghệ thuật rất đa dạng và độc đáo đến mức nó đƣợc tách
ra trong hệ thống giáo dục thẩm mỹ nhƣ một bộ phận riêng biệt của nó. Giáo dục
trẻ bằng các phƣơng tiện nghệ thuật là đối tƣợng của giáo dục nghệ thuật, một bộ
phận quan trọng của giáo dục thẩm mỹ.
Giáo dục thẩm mỹ có mối liên hệ mật thiết với giáo dục đạo đức và trí
tuệ. Cảm xúc thẩm mỹ không những đƣợc xây dựng trên cơ sở cảm thụ cái đẹp mà
còn trên cơ sở hiểu biết sâu sắc nội dụng tƣ tƣởng của tác phẩm nghệ thuật. Những
cảm xúc thẩm mỹ có ảnh hƣởng lớn đến bộ mặt đạo đức của con ngƣời và làm cho
tính cách của con ngƣời thêm cao thƣợng. Cảm xúc thẩm mỹ làm phong phú thêm
cuộc sống của trẻ, góp phần giáo dục tính lạc quan, yêu đời của các em, khêu gợi ở
các em tính tích cực sáng tạo và ảnh hƣởng đến việc hình thành mối quan hệ của
các em với cuộc sống và những ngƣời xung quanh. Giáo dục thẩm mỹ làm cho sự
tự giác đƣợc sắc bén hơn, giúp cho việc hiểu cái đã tự giác đƣợc sâu sắc hơn và
góp phần phát triển.
16
Giáo dục thẩm mỹ có liên hệ trực tiếp với giáo dục lao động và thể dục. Bản thân
lao động đƣợc tổ chức là một phƣơng thiện giáo dục thẩm mỹ. Toàn bộ vẻ đẹp của
hoàn cảnh và sự tổ chức quá trình lao động có tác dụng nâng cao năng suất lao
đông. Sức khoẻ và phát triển thể lực tốt, tƣ thế đẹp bao giờ cũng gây ra cảm giác
đẹp và có tác dụng thẩm mỹ đến sự phát triển chung về mặt tinh thần của con
ngƣời. Vẻ đẹp của các thao tác, các vận động, của nhịp điệu kích thích hứng thú
của trẻ đối với việc tập thể dục và thể thao.
Nhƣ vậy, giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận của giáo dục toàn diện, góp
phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách, phát triển toàn diện, Giáo dục
thẩm mỹ cần đƣợc tiến hành ngay ở lứa tuổi mẫu giáo. Các hình tƣợng nghệ thuật
tác động vô cũng mạnh mẽ đến trẻ em. Bởi vì trẻ em cảm thụ nhờ tƣ duy trực quan
hình tƣợng, nhờ tính dễ xúc cảm và nhờ mối quan hệ tích cực của trẻ mẫu giáo đối
mẫu giáo, nó giúp trẻ tìm hiểu, khám phá và thể hiện một cách sinh động những gì
mà chúng nhìn thấy trong thế giới xung quanh, những gì làm chúng rung động
mạnh mẽ và gây cho chúng những cảm xúc, tình cảm tích cực.
Hoạt động tạo hình là hoạt động có đầy đủ điều kiện để đảm bảo sự tác động
đồng bộ lên mọi mặt phát triển của trẻ em, về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất và
hình thành các phẩm chất, kỹ năng ban đầu của con ngƣời nhƣ một thành viên
trong xã hội biết lao động tích cực sáng tạo.
Hoạt động tạo hình là một trong những hoạt động khó, đòi hỏi bàn tay khéo
léo, óc quan sát, tƣ duy tƣởng tƣợng….góp phần phát triển trí tuệ, trẻ tìm tòi khám
phá để tạo ra sản phẩm đẹp giúp cho trẻ hiểu biết thêm những kiến thức cơ bản của
hoạt động tạo hình và sử dụng hiệu quả trong tác phẩm nghệ thuật của mình.
Trong tác phẩm nghệ thuật tạo hình của trẻ, ngƣời ta có thể hiểu đƣợc trẻ
muốn nói gì ( ngôn ngữ tạo hình ), thể hiện tình cảm gì ( phƣơng tiện truyền cảm).
18
Hoạt động tạo hình là một hình thức hoạt động nhận thức đặc biệt mang tính hình
tƣợng. Bởi vậy, nội dung chƣơng trình hoạt động tạo hình có thể đƣợc xem nhƣ hệ
thống những nhiệm vụ giáo dục và phát triển cụ thể nhằm hình thành ở trẻ khả
năng nhận thức thẩm mỹ, khả năng phản ánh thế giới xung quanh, thâm nhập vào
thế giới xung quanh thông qua hoạt động tạo hình.
Ở trƣờng mầm non từ nhiều năm nay, hoạt động tạo hình là một môn học chính,
bao gồm nhiều hoạt động nhƣ: vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép…. Khác với việc tổ chức
hoạt động tạo hình có sử dụng các vật liệu thông thƣờng, thì hoạt động tạo hình từ
vật liệu có sẵn trong tự nhiên đem lại cho trẻ sự hào hứng khi tham gia, trẻ đƣợc
làm quen, tiếp xúc với những vật liệu gần gũi, quen thuộc, thân thiện với môi
trƣờng. Bên cạnh đó, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo và hƣớng dẫn
trẻ tỉ mỉ, để trẻ có thể tham gia vào hoạt động một cách có hiệu quả.
Hoạt động này còn khá mới mẻ ở các trƣờng mầm non. Trẻ sử dụng các vật
Đảm bảo thẩm mỹ: Nên lựa chọn những nguyên vật liệu có màu sắc tƣơi,
đẹp. Có thể sơn màu cho các nguyên vật liệu trƣớc khi cho trẻ sử dụng và có hình
dáng đặc trƣng. Có thể cắt, tạo dáng lá cây trƣớc khi sử dụng.
1.3.2.3. Vai trò của hoạt động tạo hình từ vật liệu có sẵn trong tự nhiên
đối với sự phát triển thẩm mỹ của trẻ
Với tƣ cách là một hoạt động nghệ thuật, hoạt động tạo hình tạo nên
những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của cảm giác, tri giác thẩm mỹ.
Việc quan sát, tìm hiểu các sự vật, hiện tƣợng giúp trẻ nhận ra các đặc