BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đoàn Văn Hiếu
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 2
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Đoàn Văn Hiếu
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 2
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LY KHA
Đoàn Văn Hiếu
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG HỆ
THỐNG BÀI TẬP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIAO TIẾP
CHO HỌC SINH LỚP 2 ................................................................ 10
1.1. Một số khái niệm ............................................................................................... 10
1.1.1. Giao tiếp, năng lực, năng lực giao tiếp ...................................................... 10
1.1.2. Tích hợp và dạy học tích hợp ..................................................................... 14
1.1.3. Bài tập, bài tập phát triển năng lực giao tiếp.............................................. 15
1.2. Lý thuyết hội thoại, dạy hội thoại trong chương trình môn Tiếng Việt ở
Tiểu học.............................................................................................................. 19
1.2.1. Hội thoại ..................................................................................................... 19
1.2.2. Dạy hội thoại trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 2 ở Tiểu học ......... 21
1.3. Đặc điểm tâm lí nhận thức, ngôn ngữ của học sinh lớp 2 ................................. 22
1.3.1. Đặc điểm tâm lí nhận thức ......................................................................... 22
1.3.2. Đặc điểm ngôn ngữ .................................................................................... 22
1.4. Giáo dục và phát triển ngôn ngữ giao tiếp cho học sinh tiểu học ..................... 23
Sách giáo viên
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Nhận thức của học sinh về các môn học yêu thích ............................... 43
Bảng 2.2.
Nhận thức của học sinh về nguyên nhân yêu thích các môn học ......... 44
Bảng 2.3.
Biểu hiện năng lực quan sát của học sinh ............................................. 46
Bảng 2.4.
Biểu hiện năng lực lắng nghe của học sinh .......................................... 48
Bảng 2.5.
Biểu hiện năng lực phản hồi thông tin của học sinh ............................. 50
Bảng 2.6.
Biểu hiện năng lực tạo lập mối quan hệ của học sinh .......................... 52
Bảng 2.7.
Tỉ lệ khách thể học sinh theo giới tính ............................................. 43
Biểu đồ 2.2.
Biểu hiện năng lực quan sát của học sinh (thói quen tìm thông
tin) (%) .............................................................................................. 45
Biểu đồ 2.3.
Biểu hiện năng lực quan sát của học sinh (khả năng thực hành)
(%) .................................................................................................... 46
Biểu đồ 2.4.
Biểu hiện năng lực lắng nghe của học sinh (lắng nghe lời
giảng) (%) ......................................................................................... 47
Biểu đồ 2.5.
Biểu hiện năng lực lắng nghe của học sinh (đọc đúng mẫu) (%) ..... 48
Biểu đồ 2.6.
Biểu hiện năng lực phản hồi thông tin của học sinh (trình bày ý
kiến trước lớp) (%) ........................................................................... 49
Biểu đồ 2.7.
Biểu hiện năng lực phản hồi thông tin của học sinh (xây dựng
Để thuận lợi chiếm lĩnh được tri thức con người phải được tiếp cận, GT với các đối
tượng, đặc biệt là phải GT với những người xung quanh – những người lớn hơn, giàu
kinh nghiệm thực tiễn. Mặt khác GT có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát
triển nghề nghiệp. Sự thành công của mỗi người trong công việc mà mình đang thực
hiện không chỉ phụ thuộc vào kiến thức chuyên môn mà nó còn phụ thuộc vào khả
năng GT, ứng xử phù hợp với mọi người và trong mọi hoàn cảnh.
Học sinh (HS) tiểu học nói chung, HS lớp 2 nói riêng cũng cần có sự GT, các
em GT để tìm hiểu về thế giới xung quanh, thể hiện yêu cầu của mình đối với người
lớn hay sự vui chơi, đùa nghịch đối với bạn bè cũng là GT. GT giúp các em hiểu được
về phong tục, tập quán, văn hoá của dân tộc. Từ đó các em sẽ áp dụng vào cuộc sống
một cách có hiệu quả, phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Nếu được rèn luyện Năng
lực giao tiếp (NLGT) các em có thể diễn đạt các suy nghĩ và ý tưởng của mình một
cách rõ ràng, mạch lạc. Biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến nhận xét, phê bình của người
khác cũng như tự tin thuyết phục người khác chấp nhận ý kiến của bản thân. Trong bậc
học này, hoạt động học là hoạt động chủ đạo vì thế thông qua quá trình giảng dạy các
bài tập (BT) phát triển NLGT mà GV có thể định hình và phát triển NLGT cho HS
Theo nhận định của các chuyên gia giáo dục, chương trình – sách giáo khoa
hiện hành ở nước ta hiện nay, mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng về cơ bản vẫn tiếp cận
theo hướng nội dung, chạy theo khối lượng kiến thức, còn nặng tính hàn lâm. Chương
trình – sách giáo khoa hiện hành có chú ý đến cả 3 phương diện kiến thức, kĩ năng và
thái độ nhưng vẫn là những yêu cầu rời rạc, riêng lẻ, chưa liên kết, thống nhất và vận
dụng tổng hợp thành năng lực (NL) hành động, NL thực hiện… gắn với yêu cầu của
cuộc sống. Việc phát triển NLGT cho HS tiểu học chưa coi trọng hoặc chưa thực sự
coi trọng, có chăng chỉ là những kĩ năng sống chung lồng ghép vào mục tiêu giảng dạy
ở các môn học, chưa có nhiều sự hướng dẫn đánh giá mức độ hoàn thành các kĩ năng
đó, cũng như chưa có một nội dung chương trình rèn luyện và phát triển NLGT cho
2
HS, từ đó dẫn đến HS thiếu tự tin, giữ khoảng cách và không dám trình bày suy nghĩ
3
những nghiên cứu trong lĩnh vực này. Trong đó các nhà nghiên cứu khoa học đã chú ý
đến nghiên cứu hiện tượng tiếp xúc giữa con người với con người.
Trong cuốn "Education for life" (2009) - Giáo dục vì cuộc sống chuẩn bị cho trẻ
em bản lĩnh để đối đầu với những thách thức trong cuộc sống, Donald Walters đã cung
cấp cho các nhà GD, các bậc cha mẹ ở khắp nơi trên thế giới về những kĩ thuật nhằm
biến đổi GD thành một quá trình toàn vẹn, một quá trình hài hoà giữa kiến thức sách
vở với những kinh nghiệm trực tiếp từ đời sống. Donald Walters đã khuyến khích mọi
người ứng dụng một hệ thống giáo dục mà trong đó, nhấn mạnh sự tích hợp của việc
giảng dạy cho trẻ những kiến thức cơ bản cùng với nghệ thuật sống.
Để nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ, Linda Maget tác giả của cuốn sách
“Nâng cao khả năng giao tiếp cho trẻ” , NXB Hồng Đức (2008) đã giới thiệu những
kỹ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại trong việc giao bạn bè. Với
cách trình bày của mình, tác giả Linda Maget giúp các bậc cha mẹ và trẻ học được kỹ
năng giao tiếp xã hội để luôn có bạn bè, trưởng thành trong học tập và cuộc sống, đó là
mục tiêu của cuốn sách muốn đem lại.
Trong cuốn sách “Dạy trẻ học nói như thế nào”, NXB Giáo dục, Hà Nội của tác
giả Kak - Hai – Nơdích - người Đức đã nêu rõ yêu cầu về phát triển ngôn ngữ của trẻ
có một vai trò quan trọng và quá trình phát triển ở từng giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn
đó nhiệm vụ của người lớn giúp trẻ thâm nhập vào thế giới ngôn ngữ phong phú và đa
dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thành "gừ...gừ" ở tuổi sơ sinh đến khi sử dụng, nắm
vững ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về trí
tuệ. Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực đã giúp các bậc phụ huynh có thêm
những kiến thức cơ bản trong việc giáo dục và dạy dỗ, nắm vững ngôn ngữ giao tiếp
của con em mình.
Cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, trước bối cảnh toàn cầu hóa, quốc tế hóa, các
nước đều rất quan tâm đến vấn đề giáo dục con người trong xã hội mới. Một trong bốn
trụ cột của nền GD toàn cầu trong thế kỷ XXI đã được UNESCO đề xuất là “học để
cùng chung sống” và được coi là một trong những trụ cột quan trọng, then chốt của
GD hiện đại. Câu hỏi đặt ra là “KN nào là cần thiết cho mỗi con người để thành công
học. Nếu nhà giáo biết để lại những dấu ấn tốt đẹp, sâu sắc trong tâm hồn học sinh,
hiệu quả giáo dục sẽ to lớn và bền vững, lâu dài. Vì vậy để thành công trong việc dạy
chúng ta phải có những hiểu biết cần thiết về giao tiếp và giao tiếp sư phạm [9, tr.67–
68], trong môi trường sư phạm GV phải làm việc, GT với nhiều đối tượng, GV có kĩ
5
năng GT sẽ xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp, đặc biệt với là HS. GV để lại được
nhiều ấn tượng tốt đẹp, sâu sắc trong tâm hồn HS sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc
truyền đạt kiến thức, HS hứng thú, tập trung vào việc giảng dạy của GV.
Cùng chủ đề về GT trong môi trường sư phạm, hai tác giả Hoàng Anh và Đỗ Thị
Châu đã đưa ra 300 tình huống GT sư phạm, có các tình huống GT giữa GV và HS,
GV và GV, GV và phụ huynh, HS và HS và một số tình huống sư phạm chưa khoa
học. Hai tác giả cho rằng không có công thức chung về GT trong môi trường sư phạm,
mỗi người tùy theo tri thức, kinh nghiệm, mục đích, yêu cầu, hoàn cảnh sống, vị thế xã
hội, nhân cách khác nhau mà có cách xử lý khác nhau [6, tr.5].
Trong quá trình giảng dạy phát sinh nhiều tình huống sư phạm cần được giải
quyết, nếu không được rèn luyện kĩ năng GT, GV có thể đưa ra cách xử lý phản sư
phạm, không phù hợp trong môi trường giáo dục.
Dạy học theo cách tiếp cận GT đối với dạy học ngôn ngữ cũng là một giải pháp
phát triển NLGT cho HS. Tác giả Hoàng Thị Tuyết đã đưa ra 7 đặc điểm của quá trình
dạy học tiếng theo hướng GT.
Một là, dạy học theo hướng GT là hướng đến việc hình thành NLGT bằng ngôn
ngữ hơn là kiến thức về ngôn ngữ cho HS tiểu học. NLGT là một trong những nhân tố
quan trọng của NL sống của con người.
Hai là, dạy học tiếng được tiến hành theo hướng lấy HS làm trung tâm và dựa
trên kinh nghiệm của người học.
Ba là, dạy học và tiếng được thực hiện trong những tình huống GT xã hội giả
định gần gũi với cuộc sống của công đồng sử dụng ngôn ngữ.
Bốn là, dạy và học tiếng được tổ chức xoay quanh các BT/ nhiệm vụ học tập và
kết đòi hỏi người đọc người nghe đưa ra cách xử lý của mình...tuy nhiên vẫn chưa đưa
ra phần BT minh họa cụ thể.
Nhìn chung, mỗi nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau về GT, kết quả nghiên
cứu của các đề tài ở trên ta thấy đa số HS GT còn hạn chế. Việc đề xuất các biện pháp
để khắc phục tình trạng trên cũng được đưa ra, tuy nhiên, giải pháp xây dựng hệ thống
các BT phát triển NLGT chưa đề cập hay chỉ đề cập đến mà chưa phân tích chuyên
sâu. Từ đó khẳng định tính cấp thiết của vấn đề BT phát triển NLGT.
3. Mục tiêu, mục đích nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng hệ thống BT góp phần phát triển NLGT cho HS lớp 2.
7
3.2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng hệ thống BT góp phần phát triển NLGT cho HS lớp 2, tác giả luận văn
nhằm: (1) Cung cấp thông tin về thực trạng phát triển NLGT và hệ thống BT phát triển
NLGT cho GV; (2) Giúp HS diễn đạt được suy nghĩ và ý tưởng của mình một cách rõ
ràng, mạch lạc; thể hiện được tinh thần GT hiệu quả; tự tin diễn tả ý tưởng, hiểu biết
của mình.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, người thực hiện đề tài đã xác định cần giải quyết
một số nhiệm vụ thiết yếu sau đây:
- Nghiên cứu và xây dựng đúng cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến vấn
đề phát triển NLGT cho HS lớp 2.
- Xây dựng hệ thống BT phát triển NLGT cho HS lớp 2 phù hợp, hiệu quả và có
tính khả thi.
- Khảo nghiệm hệ thống BT phát triển NLGT cho HS lớp 2, ghi nhận, phân tích
kết quả, kết luận và đưa ra đề xuất.
5. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
5.1. Khách thể nghiên cứu
Điều tra thực trạng nhận thức, thực trạng các vấn đề liên quan đến các nội dung
mà đề tài quan tâm bằng phương pháp điều tra xã hội học trên phiếu hỏi, phiếu khảo
nghiệm.
8.3.2. Phương pháp quan sát
- Quan sát, ghi chép quá trình học tập, rèn luyện của học sinh để thu thập số
liệu, đánh giá năng lực giao tiếp của học sinh tiểu học.
- Quan sát, ghi chép, nhận xét, đánh giá quá trình học tập, rèn luyện của học
sinh khi tiến hành khảo sát nhằm đánh giá quá trình phát triển năng lực giao tiếp của
học sinh.
8.3.3. Phương pháp đàm thoại
- Đàm thoại với GV tiểu học để tìm hiểu về nhận thức, thái độ của GV đối với
năng lực GT của HS.
- Đàm thoại với HS để tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc trong quá trình
học tập, rèn luyện và phát triển các NLGT của HS.
8.3.4. Phương pháp khảo nghiệm
Khảo nghiệm ý kiến các bộ quản lý, GV, HS, phụ huynh HS về hình thức, nội
9
dung, tính khả thi của hệ thống BT phát triển NLGT nhằm xác định mức độ hiệu quả
và khả thi của BT.
8.3.5. Phương pháp thống kê
Sử dụng một số công thức toán học và các phần mềm như SPSS, Microsoft
Excel, ... để xử lí số liệu kết quả khảo sát và xử lí kết quả khảo nghiệm sư phạm.
9. Dự kiến đóng góp của đề tài
Đề tài xây dựng hệ thống BT phát triển NLGT HS lớp 2 nói riêng, HSTH nói
chung nhằm:
- Làm rõ một số vấn đề về: GT, NL, NLGT, phát triển NLGT cho HS lớp 2.
- Làm rõ thực trạng phát triển NLGT của HS lớp 2.
- Xây dựng HT BT phát triển NLGT cho HS lớp 2 thông qua môn Tiếng Việt 2.
biết, rung cảm, ảnh hưởng và tác động qua lại lẫn nhau.
- GT là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm, cảm xúc … bằng ngôn ngữ nhằm
thiết lập quan hệ, sự hiểu biết hoặc sự cộng tác … giữa các thành viên trong xã hội.
- GT là cách thể hiện mối quan hệ của một cá thể người với một hay nhiều
người khác trên cơ sở kinh tế, chính trị…của xã hội [9, tr.67-68].
- GT là mối quan hệ qua lại giữa con người và con người, thể hiện sự tiếp xúc
tâm lí giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về
cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau.[13, tr.35].
Từ một loạt khái niệm về GT, GT ở HSTH có thể được hiểu là: "quá trình tiếp
xúc giữa HS với gia đình, nhà trường và xã hội nhằm nêu lên những nguyện vọng của
bản thân, chia sẻ những tâm tư, tình cảm của mình tới những người xung quanh".
Các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp
Nhiều công trình nghiên cứu về hội thoại, về GT, về phong cách chức năng
ngôn ngữ đã cho rằng tham gia hoạt động GT bằng ngôn từ gồm 5 yếu tố: mục đích,
nội dung, nhân vật tham gia, phương tiện và hoàn cảnh giao tiếp.
11
- Mục đích giao tiếp
Bất cứ một sự nói năng nào cũng nhằm đạt đến một mục đích nhất định. Chẳng
hạn, A nói với B là để trao đổi thông tin hành chính (VD a), hoặc tình cảm cá nhân (b),
hoặc thông tin khoa học (c), hoặc tin tức thời sự (d), ...
a. Chiều mai lớp ta nghỉ học.
b. Anh rất nhớ em.
c. Âm tiết là khúc đoạn phát âm tự nhiên nhỏ nhất trong ngữ lưu.
d. Ngày hôm qua, 25 - 11, Thủ tướng Pháp đến thăm Lào.
- Nội dung giao tiếp
Mọi hoạt động nói năng đều phải chứa đựng một nội dung nhất định. Có nội
dung nói thì mới có thể đạt được mục đích nói. Ngược lại có mục đích nói, thì nội
dung nói mới được xác lập. Nếu với mục đích nói, ta nói để làm gì, thì với nội dung
Điều kiện môi trường xã hội trong đó hoạt động giao tiếp diễn ra được gọi
làhoàn cảnh giao tiếp.
Hoàn cảnh giao tiếp có ảnh hưởng quyết định đối với việc lựa chọn và sử dụng
các phương tiện ngôn ngữ, đến mục đích, nội dung giao tiếp và người tham dự giao
tiếp. Chẳng hạn, công việc hành chính và nội dung giao tiếp hành chính thì xảy ra ở cơ
quan, trong môi trường giao tiếp hành chính. Hoặc trao đổi về những thông tin khoa
học thường xảy ra trong môi trường giao tiếp khoa học giữa những người cùng chuyên
môn như lớp học, hội nghị khoa học, hội thảo, sinh hoạt chuyên môn, ... [19].
a.2. Phong cách chức năng ngôn ngữ hội thoại
Phong cách chức năng ngôn ngữ hội thoại (gọi tắc là phong cách hội hoại) là
khuôn mẫu ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp thường nhật về những vấn đề sinh
hoạt hằng ngày giữa các cá nhân. Là những trao đổi trực tiếp về những vấn đề thường
nhật giữa các cá nhân, phong cách hội thoại tồn tại ở cả hai dạng nói và viết. Trong đó,
dạng nói là chủ yếu. Ở dạng nói, gồm nói thông thường và nói qua điện thoại, internet.
Ở dạng viết, gồm thư từ cá nhân, nhật ký cá nhân, tin nhắn, lưu bút, ...kể cả thư điện
tử. Gắn với chức năng giao tiếp, bày tỏ cảm xúc, tạo tiếpxúc để trao đổi về những
thông tin thường nhật, ngôn ngữ hội thoại mang các đặc trưngsinh động, cụ thể và chủ
quan. Ngôn ngữ hội thoại dùng để trao đổi cá nhân về những vấn đề thông thường của
cuộc sống hàng ngày như đời sống, công việc, gia cảnh, sức khoẻ, thời tiết... Đi kèm
và hoà quyện trong những thông báo là thái độ, tình cảm của người nói.
Những yếu tố phi ngôn ngữ trong phong cách hội thoại, cụ thể là:
13
Mục đích giao tiếp: Thông tin những vấn đề thường nhật.
Nội dung giao tiếp: Những vấn đề của cuộc sống thường ngày, như gia đình,
sức khoẻ, thời tiết, giá cả, ...
Đối tượng giao tiếp: Cá nhân có quan hệ gần gũi, quen, biết.
Hoàn cảnh giao tiếp: Mang tính cá nhân, diễn ra trong hoàn cảnh gia đình hoặc
giao tiếp xã hội thông thường.
Đối với HSTH ta có thể phân loại các NLGT thành các nhóm NL như sau:
Nhóm NLGT trong học tập; Nhóm NL thiết lập mối quan hệ xã hội
b.2.1. Nhóm NLGT trong học tập.
- NL quan sát: Được biểu hiện ở chỗ HS có khả năng tìm kiếm được các thông
tin để trả lời các câu hỏi của GV đưa ra; có khả năng thực hành được sau khi xem GV
làm mẫu; có thái độ, hành động đúng đắn khi GV treo tranh - ảnh minh họa liên quan
đến bài học…
- NL lắng nghe: Được biểu hiện ở chỗ HS có khả năng đọc đúng sau khi nghe
GV đọc mẫu; chăm chú lắng nghe lời giảng của GV; có thái độ, hành động đúng đắn
khi bạn trả lời câu hỏi của GV…
- NL phản hồi thông tin: Được biểu hiện ở chỗ HS có khả năng tham gia phát
biểu, xây dựng bài sôi nổi; tự tin trình bày các ý kiến của mình trước lớp; đưa ra được
những thắc mắc có liên quan đến nội dung bài học…
b.2.2. Nhóm NL thiết lập mối quan hệ xã hội
- NL tạo lập mối quan hệ: Được biểu hiện ở chỗ HS có khả năng thiết lập được
mối quan hệ thân thiết với bạn bè, cũng như là biết cách ứng xử đúng đắn với thầy,
cô…
- NL chia sẻ thông tin: Được biểu hiện ở chỗ HS biết cách san sẻ niềm vui, an
ủi nỗi buồn cũng với bạn bè, thầy cô, chia sẻ ý kiến của mình về nội dung của bài
học…
- NL giải quyết vấn đề: Được biểu hiện ở chỗ HS nhận thức được lỗi lầm của
mình, tìm ra được cách giải quyết tối ưu cho những mâu thuẫn với bạn bè trong quá
trình học tập…
1.1.2. Tích hợp và dạy học tích hợp
a. Tích hợp
- Tích hợp là "sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau
trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo
15
cá nhân, BT trắc nghiệm đóng hay tự luận mở. BT có thể đưa ra dưới hình thức một
nhiệm vụ, một đề nghị, một yêu cầu hay một câu hỏi.
Những yêu cầu chung đối với các BT là: Được trình bày rõ ràng; Có ít nhất một