MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG...........................................................2
1.1. Một số khái niệm.........................................................................................2
1.2 Các yêu cầu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với lao động trẻ
em.......................................................................................................................3
1.3 Lợi ích của việc thực hiện trach nhiệm xã hội ............................................4
1.4 Ý nghĩa của thực hiện trách nhiệm xã hội....................................................5
1.5. Một số nội dung về lao động trẻ em............................................................5
1.5.1. Các hình thức tồi tệ nhất của lao động trẻ em.......................................5
1.5.2. Lao động trẻ em trong điều kiện nặng nhọc, độc hại nguy hiểm..........6
1.5.3. Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về vấn đề lao động trẻ
em....................................................................................................................6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHUNG VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM TẠI HÀ
NỘI........................................................................................................................8
2.1Thực trạng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lao động trẻ em tại
Việt Nam............................................................................................................8
2.2 Thực trạng lao động trẻ e tham gia hoạt động kinh tế hiện nay tại hà nội ......9
2.2.1 Thời gian làm việc trong tuần của trẻ em hoạt động kinh tế................12
2.2.2 Quy mô và phân bố lao động trẻ em....................................................12
2.2.3Thực trạng chung về lao động trẻ em tại Hà Nội..................................13
2.3 Môi trường sống hiện tại của lao động trẻ em...........................................13
2.4 Thời gian làm việc của trẻ em lao động.....................................................14
2.5 Việc tham gia giáo dục trẻ em tại dịa bàn Hà Nội......................................14
2.5.1 Trẻ em đi học và Trẻ em không đi học.................................................14
2.5.2 Tham gia làm việc nhà của trẻ em.......................................................15
2.6 Nguyên nhân và hậu quả tình trạng lao động trẻ em..................................15
2.6.1 Nguyên nhân........................................................................................15
2.6.2 Hậu quả sử dụng lao động trẻ em.........................................................16
2.7 Mặt lợi và mặt hại khi doanh nghiệp sử dụng lao động trẻ em..................16
2.8 Đánh giá về lao động trẻ em.......................................................................17
kiếm sống ngày càng tăng lên. Đáng chú ý, có khoảng 15% trong số trẻ em làm
thuê phải làm các công việc nặng nhọc và độc hại như sản xuất gốm, sành sứ và
vật liệu xây dựng…Hiện trạng lao động trẻ em rất cần sự quan tâm của nhà nước
và toàn xã hội.
Sau đây e xin làm về đề tài tiểu luận : Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã
hội trong lĩnh vực lao động trẻ em tại địa bàn Hà Nội .
1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Một số khái niệm
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ở Việt Nam hiểu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là:
• Các khoản đóng góp từ thiện.
• Hoặc là việc thực hiện 1 bộ CoC (Code of Conduct) nào đó (ví dụ, ISO
14000, SA 8000, WRAP, ...).
• Một số cho rằng, CSR là gánh nặng, bởi thực hiện nó tốn kém nhiều kinh
phí.
• DN ít quan tâm đến CSR.
Một số tổ chức phi chính phủ (NGO) cho rằng, trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp được thực hiện khi:
• Quyền/quyền lợi của người lao động được DN đảm bảo và tôn trọng.
• Doanh nghiệp đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng thông qua việc đảm
bảo chất lượng và độ an toàn của sản phẩm/dịch vụ.
• Doanh nghiệp bảo vệ môi trường qua việc sử dụng công nghệ, nguyên
liệu sạch; xử lý chất thải.
• Doanh nghiệp tuân thủ pháp luật.
em như định nghĩa trên đây.
- Doanh nghiệp phải thiết lập, văn bản hóa, duy trì và phổ biến có hiệu lực
tới tất cả nhân sự và các bên liên quan khác về các chính sách và thủ tục cho
việc xử lý khi có trẻ em lao động trong tình trạng giống như lao động trẻ em
được định nghĩa ở trên, và phải cung cấp sự hỗ trợ hợp lý về tài chính và hỗ trợ
khác để đảm bảo những trẻ em này được đến trường và duy trì việc đi học cho
đến khi không còn là trẻ em nữa theo như định nghĩa nêu trên.
- Doanh nghiệp có thể tuyển dụng các lao động vị thành niên, tuy nhiên nếu
có quy định pháp luật về thời gian đi học bắt buộc đối với các lao động vị thành
niên này, họ chỉ có thể làm việc ngoài giờ học. Trong mọi trường hợp, tổng cộng
3
thời gian học tập, lao động và đi lại của lao động vị thành niên không được vượt
quá 10 giờ một ngày, và trong mọi trường hợp lao động vị thành niên không làm
việc quá 8 giờ một ngày. Những lao động vị thành niên có thể không phải làm
việc vào ban đêm.
- Doanh nghiệp không được phép sử dụng trẻ em hoặc lao động vị thành
niên trong các hoàn cảnh, cả trong hoặc ngoài nơi làm việc, gây ra sự nguy hiểm
hoặc không an toàn cho sức khoẻ và sự phát triển về thể chất và tinh thần của
họ.
1.3 Lợi ích của việc thực hiện trach nhiệm xã hội .
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tất yếu đi liền với kinh
doanh, bởi nó mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đáng kể: khẳng định
thương hiệu doanh nghiệp trong lòng khách hàng và tăng lợi nhuận doanh
nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đóng vai trò người kiến tạo lòng
trung thành nơi khách hàng bằng những giá trị đạo đức rất "phong cách", và nó
sẽ đánh bóng tên tuổi của doanh nghiệp, khẳng định thương hiệu và gây được
thiện cảm trong lòng dân chúng, họ sẽ bán hàng nhiều hơn gấp nhiều lần để
khẳng định thương hiệu. Trong thời buổi mà thương hiệu mạnh được nhìn nhận
chỗ không chắc chắn.
• Làm việc với các loại dụng cụ, thiết bị và máy móc nguy hiểm hoặc phải
mang vác vật nặng.
• Làm việc trong các môi trường có hại cho sức khoẻ như làm việc với hoá
chất, các quy trình xử lý độc hại, làm việc ở mức nhiệt độ, tiếng ồn, độ rung có
thể tác động xấu đến sức khoẻ.
• Làm việc trong những điều kiện đặc biệt khó khăn như làm việc trong nhiều
giờ, ban đêm hoặc làm việc ở những địa điểm không có chủ lao động quản lý.
1.5.3. Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về vấn đề lao động trẻ
em
• DN không được tham gia sử dụng trực tiếp hay gián tiếp lao động trẻ em
• DN phải văn bản hoá vấn đề này, duy trì và thông tin có hiệu quả đến các
bên liên quan về chính sách và thủ tục cho việc khắc phục tình trạng lao động trẻ
em và có những hỗ trợ cần thiết để các em có thể tiếp tục đến trường đến khi đủ
15 tuổi.
• DN phải văn bản hoá, duy trì và thông tin có hiệu quả đến NLĐ và các
6
bên liên quan về chính sách và thủ tục để thúc đẩy giáo dục trẻ em như quy định
tại Công ước ILO 146, giáo dục LĐ vị thành niên nằm trong diện giáo dục phổ
cập của địa phương hoặc đang đi học, gồm các phương pháp đảm bảo không có
trẻ em hoặc LĐ vị thành niên thuộc đối tượng trên được thuê mướn trong suốt
thời gian lên lớp, tổng thời gian học, làm việc, di chuyển (thời gian di chuyển
đến nơi học, nơi làm việc và ngược lại) của các em không vượt quá 10 giờ/ngày.
• DN không được sử dụng trẻ em hoặc LĐ vị thành niên vào làm việc ở các
nơi làm việc hoặc ngành nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, không an toàn
hoặc có hại cho sức khoẻ và sự phát triển về thể chất, tinh thần của trẻ.
7
8
Do những điều kiện về tài chính, nhân lực… mà những nghiên cứu về lao
động trẻ em ở Việt Nam nói chung đều có quy mô hẹp, qua điều tra mẫu về một số
hình dạng cụ thể của lao động trẻ em, tiến hành không thành một hệ thống thống
nhất, ổn định. Vì vậy, kết quả nghiên cứu chưa thể vẽ lên hết được bức tranh tổng
2.2 Thực trạng lao động trẻ e tham gia hoạt động kinh tế hiện nay tại hà nội .
Bảng 1: Quy mô và cơ cấu lao động trẻ em.
Khu vực
Số
trẻ em
Tỷ lệ (%)
Theo giới tính %
Nam
Nữ
Toàn quốc
1.754.782
100
59,78
40.22
khu vực mà trẻ em dễ dàng tham gia.
Theo kết quả điều tra mới nhất do Tổng cục Thống kê phối hợp với Bộ Lao
động- TB & XH cùng Tổ chức lao động Quốc tế ILO thực hiện cho thấy, năm
2012 cả nước đang có khoảng 1,75 triệu lao động trẻ em và người chưa thành
niên (từ 5- 17 tuổi) đang phải làm việc nặng nhọc hoặc làm việc trong những
điều kiện có hại cho sức khỏe. Tỷ lệ lao động trẻ em tập trung đông nhất chủ yếu
ở các thành phố lớn, trong đó có Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Bảng 2: Tỷ lệ trẻ em tham gia lao động theo ngành nghề
9
Ngành nghề
Nông nghiệp
Xây dựng, Chế tạo
Dịch vụ
Tỷ lệ % trẻ em tham gia làm việc
67%
16%
17%
( Nguồn: Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2012)
Trong số lao động trẻ em được điều tra thì có 67% các em làm việc trong
ngành nông nghiệp; 16% làm việc trong ngành xây dựng, chế tạo; 17% làm việc
trong ngành dịch vụ. Điều đáng buồn hơn nữa khi tỷ lệ trẻ em bị thất học vẫn
còn rất cao. Cụ thể, trong số trẻ em được khảo sát, có tới 52% trẻ đã từng đi học;
45,2% đang đi học và 2,8% chưa bao giờ được cắp sách đến trường.
Bảng 3: Trẻ em tham gia hoạt động kinh tế chia theo địa điểm làm việc
Địa điểm làm việc
1,32
5,86
28,84
39,39
37,17
0
0
0,98
0
0
0,01
Số trẻ em
Tỷ lệ %
856613
65098
18777
109372
104211
15719
191
30,25
2,3
0,66
3,86
36,8
0,56
0
100
15,21
1,51
1,1
4,17
0
100
8,41
3,31
1,08
12,83
0,19
100
( Nguồn: Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2012)
Địa điểm làm việc của trẻ em khá đa dạng, bao gồm làm việc tại nhà, trên
cánh đồng, địa điểm không cố định, đi giao hàng, trong doanh nghiệp, đường
phố, nhà hàng khách sạn, công trường xây dựng, văn phòng, mỏ đá… Có trên
1,042 triệu em làm việc tại cánh đồng/nông trại, chiếm gần 37% trẻ em tham gia
hoạt động kinh tế. Vị trí làm việc này cũng là địa điểm làm việc phổ biến nhất
của nhóm trẻ từ 11 tuổi trở lên. Đáng chú ý là có gần 1/3 nhóm trẻ em 5 - 11 tuổi
10
cũng làm việc ngoài trời dưới dạng phụ việc, giúp việc. Khoảng 0,856 triệu em
làm việc tại nhà mình, chiếm trên 30% trẻ em hoạt động kinh tế. Làm việc tại
nhà mình cũng là địa điểm phố biến nhất của trẻ em dưới 11 tuổi (gần 49% tổng
vẫn còn 569 ngàn phải làm việc hơn 42 giờ trong tuần.
Tỷ lệ trẻ em khu vực thành thị làm việc trên 42 giờ/tuần là 32,2%, cao hơn
đáng kể so với tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 18,1%. Lý do của hiện tượng
này có thể là do tỷ lệ tham gia khu vực dịch vụ của trẻ em thành thị cao hơn so
với khu vực nông thôn, mà khu vực này việc làm với thời gian dài để đáp ứng
nhu cầu của khách hàng là dễ hiểu. Thời giờ làm việc của trẻ em tăng dần theo
độ tuổi. Trẻ em hoạt động kinh tế nhóm 5 - 11 tuổi chủ yếu có thời gian làm việc
dưới 24 giờ/tuần (chiếm trên 90% số trẻ em nhóm này); tuy nhiên, vẫn còn gần
10% trẻ em làm việc trên 24 giờ/tuần, đặc biệt có 1,4% trẻ em 5 - 11 tuổi làm
việc trên 42 giờ/tuần. Nhóm tuổi từ 12 - 14 trở lên có thời giờ làm việc khá
nhiều, trên 23% trẻ em làm việc từ 25 giờ trở lên, và khoảng gần 6% trẻ em làm
việc trên 42 giờ/tuần. Nhóm tuổi vị thành niên (15 - 17) nhìn chung làm việc
nhiều, thậm chí rất nhiều, với khoảng gần 32% trẻ em làm việc trên 42 giờ/tuần.
2.2.2 Quy mô và phân bố lao động trẻ em
-Trong tổng số 1.754 ngàn lao động trẻ em, có gần 85% sinh sống ở khu
vực nông thôn và 15% sinh sống ở khu vực thành thị. So với phân bố của trẻ em
HĐKT (tương ứng là 85,8% và 14,2%), cho thấy, vấn đề lao động trẻ em có xu
thế “thành thị” hơn. Có gần 60% lao động trẻ em là trẻ em trai và trên 40% là trẻ
em gái. So với trẻ em tham gia HĐKT (tương ứng là 57,4% và 42,6%), thì tỷ lệ
trẻ em trai thuộc nhóm lao động trẻ em cao hơn trong khi tỷ lệ trẻ em gái thuộc
nhóm lao động trẻ em giảm nhẹ.
Không ngạc nhiên khi lao động trẻ em tập trung nhiều chủ yếu ở nhóm tuổi
15 - 17 (gần 58%), sau đó là nhóm 12 - 14 tuổi (gần 27%); đáng chú ý là có 15%
lao động trẻ em thuộc nhóm tuổi 5 - 11 tuổi. So với phân bố cơ cấu tuổi của trẻ
em HĐKT (tương ứng ở nhóm 5 - 11 tuổi là 12,7%, nhóm 12 - 14 tuổi là 30,7%
và nhóm 15 - 17 tuổi là 56,7%), thì phân bố cơ cấu tuổi của lao động trẻ em có
sự thay đổi, theo đó tỷ lệ nhóm 5 - 11 tuổi tăng lên 15,5%. Điều này có thể giải
12
thấy thời gian làm việc bình quân một ngày của lao động trẻ em là khoảng 7 - 8
giờ. Trong đó nhóm trẻ em có độ tuổi từ 15 -17 tuổi có thời gian làm việc bình
quân cao hơn số còn lại là > 8 giờ/ngày. Độ dài của công việc phụ thuộc nhiều
vào lĩnh vực hoạt động kinh tế và công việc cụ thể mà lao động trẻ em đang
tham gia.
2.5 Việc tham gia giáo dục trẻ em tại dịa bàn Hà Nội
2.5.1 Trẻ em đi học và Trẻ em không đi học.
Trẻ em đi học
Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong việc bảo đảm trẻ em
được đi học thông qua áp dụng luật giáo dục và các chính sách, chương trình hỗ
trợ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Ước tính từ cuộc điều tra cho thấy, năm 2012,
có 90,5% trẻ em trong độ tuổi 5 - 17 tuổi đang đi học ở các trường mầm non, các
cấp học phổ thông và trường nghề. Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học mầm non đạt
93,4%. Tỷ lệ trẻ em 6 - 17 tuổi đi học ở các cấp học phổ thông đạt 90,3%. Có
thể thấy rằng tỷ lệ trẻ em gái đi học cao hơn so với tỷ lệ đi học của trẻ em trai ở
tất cả các cấp học phổ thông trên phạm vi cả nước, các vùng địa lý, các nhóm
tuổi. Theo vùng địa lý, mặc dù tỷ lệ trẻ 6 - 11 tuổi đi học ở các vùng đều ở mức
cao, tuy nhiên giữa các vùng có khoảng cách về tình trạng trẻ em đi học, theo đó
vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ trẻ em đi học cao nhất, trên 96%, Tây
Nguyên và Đông Nam bộ là 2 vùng có tỷ lệ trẻ em đi học thấp nhất, chiếm 87%
mỗi vùng.
Trẻ em không đi học
- Vào thời điểm điều tra ước tính có 1.716.767 trẻ em nhóm tuổi 5 - 17
không đi học, chiếm 9,6% tổng số. Trừ nhóm 5 tuổi thuộc độ tuổi mẫu giáo, thì
tỷ lệ không đi học tăng lên theo độ tuổi: 1,6% ở nhóm 6 - 11 tuổi; 7,3% ở nhóm
12 - 14 tuổi và 26,5% ở nhóm 15 - 17 tuổi. Hai vùng có tỷ lệ trẻ em hiện không
đi học cao nhất là Tây Nguyên (12,2%) và Đồng bằng sông Cửu Long (12,5%).
- Nguyên nhân trẻ em không đi học :
Trong số trẻ em hiện không theo học, có khoảng 38,3% trẻ em không
Ngoài ra, do sự khắc nghiệt khi thiên tai ập đến cũng là 1 trong những
nguyên nhân dẫn đến lao động trẻ em.
2.6.2 Hậu quả sử dụng lao động trẻ em
Về bản thân trẻ em:
+ Dễ gây ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
+ Tinh thần trẻ em bị khủng hoảng, làm giảm sự phát triển về tư duy
+ Không được học tập và phát triển trong môi trường lành mạnh
Trong quá trình làm việc, lao động trẻ em phải đối mặt với các vấn đề sức
khỏe và an toàn lao động. Mỗi trẻ em có thể gặp một hoặc nhiều nguy cơ. Trong
tổng số lao động trẻ em đã từng bị tai nạn trong quá trình làm việc có 27,5% trẻ
em bị côn trùng cắn/đốt, gần 19% bị các vết thương bề mặt, trên 13% bị mệt
mỏi, trên 4% bị sai khớp hoặc gãy xương và khoảng 2% gặp phải các vấn đề liên
quan đến hô hấp
Về mặt xã hội:
+Làm gia tăng tệ nạn xã hội
+ Các vấn đề bóc lột trẻ em ngày càng nhiều
+ Đời sống trẻ em không được đáp ứng đầy đủ
Về mặt kinh tế:
+Làm giảm sự phát triển nguồn lực sau này của đất nước
+ Gây rối loạn sự phát triển kinh tế của cả doanh nghiệp và đất nước
+ Làm mất vị thế của nước ta trên thị trường quốc tế
2.7 Mặt lợi và mặt hại khi doanh nghiệp sử dụng lao động trẻ em
Mặt lợi:
+ Giảm chi phí, tăng lợi nhuận, giá sản phẩm cạnh tranh
+ Kinh tế doanh nghiệp tăng, doanh nghiệp sẽ quan tâm nhiều
hơn đến vấn đề xã hội ( hoặc không) như góp phần xóa đói giảm nghèo thông
+Làm gia tăng các tệ nạn xã hội
+Các vấn đề về bóc lột trẻ em ngày càng nhiều
+Đời sống của trẻ em không được đáp ứng đầy đủ
+Làm giảm sự phát triển nguồn lực sau này của đất nước
+Gây rối loạn sự phát triển kinh tế của cả doanh nghiệp và đất nước
17
+Làm mất vị thế của nước ta trên thị trường quốc tế.
18
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP
3.1 Đối với nhà nước:
- Hoàn thiện hệ thống luật pháp, ban hành các cơ chế chính sách, đẩy mạnh
chính sách trợ giúp xã hội, đặc biệt là đối với trẻ em; dạy nghề kết hợp với tạo
việc làm cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn; tăng cường quản lý Nhà
nước với việc giải quyết triệt để tình trạng lao động trẻ em trong những điều
kiện nặng nhọc độc hại.
- Nhà nước cần có chính sách an sinh xã hội phù hợp đảm bảo các quyền cơ
bản cho mọi trẻ em. Sửa đổi bổ sung các quy định không còn phù hợp về bảo trợ
xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Tăng chi phí hỗ trợ cho giáo dục
dành cho trẻ em nghèo và gia đình nghèo có trẻ em học từ mẫu giáo đến các bậc
phổ thông.
- Tăng cường công tác truyền thông - giáo dục về Luật trẻ em, công ước
quốc tế về quyền trẻ em, đặc biệt là công tác vận động những gia đình nghèo
không để trẻ em phải bỏ học tham gia lao động kiếm sống. Phát huy vai trò của
các tổ chức đoàn thể, xã hội và các hội nghề nghiệp, giáo dục nâng cao nhận
nghèo, trẻ em phải lao động sớm ở những khu vực nghèo, giải quyết phần nào
tình trạng trẻ em bỏ học phải đi lao động kiếm sống, là những tiền đề quan trọng
cho việc thúc đẩy việc thực hiện quyền trẻ em ngày một tốt hơn.
3.2 Đối với xã hội :
- Trước hết cần hoàn thiện chính sách pháp luật về vấn đề lao động trẻ em
đầy đủ, đồng bộ
- Thanh tra ngành lao động thương binh xã hội cần lập kế hoạch thanh tra,
kiểm tra hàng năm tại các doanh nghiệp, đặc biệt tập trung rà soát các cơ sở có
khả năng sử dụng lao động trẻ em.
- Cần kết hợp chặt chẽ với chính quyền, đoàn thể địa phương nơi doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất đống trụ sở
- Cần sự vào cuộc tích cực của các cấp chính quyền địa phương, cơ quan
pháp luật đưa vấn nạn bóc lột trẻ em vào trong luật, có chế tài xử lý mạnh tay
20
nghiêm minh
- Khuyến khích các hoạt động đấu tranh, phát hiện, tố giác về các trường
hợp sử dụng lao động trẻ em trái quy định pháp luật cũng như tuyên dương,
khen thưởng các cơ sở,doanh nghiệp chấp hành nghiêm minh quy định pháp
luật
Gắn liền với xóa đói giảm nghèo, trong đó chú trọng tạo việc làm bền vững
để các bậc cha mẹ có thu nhập ổn định, từ dó không bắt trẻ em lao động sớm
- Tăng cường truyền thông cả bề rộng lẫn bề sâu pháp luật tới mỗi gia đình,
chủ sử dụng lao động phù hợp với điều kiện, đặc thù từng vùng miền nhằm nâng
cao nhận thức, thay đổi hành vi
- Nếu có trường hợp trẻ em buộc phải mưu sinh, chính quyền cơ sở phải có
trách nhiệm liên hệ với trung tâm có uy tín tạo điều kiện cho các em được học
nghề sau đó có việc làm phù hợp với độ tuổi và sức khỏe
3.3 Đối với người sử dụng lao động:
đi học là chính, nên thậm chí cần khuyến khích các em tham gia vào công việc
phù hợp giúp các em có sự phát triển toàn diện cả về trí tuệ, ý thức và thể lực.
- Chính quyền địa phương và cơ sở lập danh sách lao động trẻ em, lao động
trẻ em có nguy cơ bị lạm dụng, quản lý các gia đình có lao động trẻ em, cơ sở sử
dụng lao động trẻ em từ dó tìm ra các biện pháp khắc phục cụ thể, phù hợp với
từng đối tượng, đặc biệt là nhóm đối tượng như trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn
cảnh cực kỳ khoá khăn, con nhà nghèo…
- Cần tập trung xây dựng hệ thống các dịch vụ ASXH cho trẻ em lao động
sớm và gia đình các em. Phát triển các dịch vụ công tác xã hội và chăm sóc xã
hội tại địa phương (xã/phường, quận/huyện) để trẻ em và gia đình có thể tiếp
cận sử dụng dịch vụ hỗ trợ khắc phục tổn thương tâm lý, tinh thần, hòa nhập xã
hội; chuyển gửi đến các nguồn lực hỗ trợ sinh kế, nâng cao nhận thức, có kiến
thức, kỹ năng thực hiện trách nhiệm chăm sóc con em trong gia đình. Bên cạnh
đó, còn giúp trẻ em có thông tin, kiến thức và tăng cường nhận thức về quyền
của các em cũng như kỹ năng phòng, chống xâm hại, ngược đãi các em.
3.5 Đối với doanh nghiệp
- Thực hiện tốt quy định của pháp luật trong vấn đề thuê mướn lao động trẻ
22
em như: không sử dụng trẻ em vào các công việc mà pháp luật cấm, trang bị
phương tiện bảo hộ cá nhân cho trẻ em, cần kiểm tra sức khỏe trẻ em xem có đủ
điều kiện làm việc hay không trước khi nhận vào làm việc, đặc biệt không được
đánh đập, ngược đãi trẻ.
- Đăng ký đầy đủ thông tin về Sở lao động thương binh xã hội nơi doanh
nghiệp đặt trụ sở khi sử dụng lao động trẻ em hằng năm và phải báo cáo tình
hình sử dụng lao động trẻ em với Sở.
- Mở các lớp tập huấn đối với các cán bộ trong doanh nghiệp về quyền trẻ
em.
3.6 Đối với gia đình