Thế giới nhân vật chấn thương trong sáng tác của Thuận (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hồ Thị Thảo

THẾ GIỚI NHÂN VẬT CHẤN THƯƠNG
TRONG SÁNG TÁC CỦA THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thành phố Hồ Chí Minh – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Hồ Thị Thảo

THẾ GIỚI NHÂN VẬT CHẤN THƯƠNG
TRONG SÁNG TÁC CỦA THUẬN
Chuyên ngành:

Văn học Việt Nam

Mã số:

60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THÀNH THI


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
THẾ GIỚI NHÂN VẬT CHẤN THƯƠNG TRON`G SÁNG TÁC
CỦA THUẬN ............................................................................................. 9
1.1. Chấn thương, văn học chấn thương, nhân vật chấn thương và việc nghiên cứu
văn học chấn thương ............................................................................................... 9
1.1.1. Chấn thương ....................................................................................................... 9
1.1.2. Văn học chấn thương ....................................................................................... 10
1.1.3. Nhân vật, thế giới nhân vật chấn thương như một biểu hiện của văn học
chấn thương .................................................................................................... 14
1.1.4. Việc nghiên cứu văn học chấn thương ở Việt Nam ......................................... 15
1.2. Con người bị chấn thương và bóng dáng nhân vật chấn thương trong văn học
Việt Nam ............................................................................................................... 18
1.2.1. Con người chấn thương/bị chấn thương trong đời sống cá nhân và cộng
đồng ................................................................................................................ 18
1.2.2. Những bóng dáng chấn thương trong văn học dân tộc .................................... 20
1.3. Tiểu thuyết của Thuận – tiếng nói về/của nhân vật chấn thương ........................... 35
1.3.1. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết của Thuận và những vấn đề của đời
sống đương đại ............................................................................................... 35
1.3.2. Tiếng nói về/của nhân vật chấn thương ........................................................... 40
Tiểu kết chương 1 .......................................................................................................... 44
Chương 2. CÁC KIỂU LOẠI NHÂN VẬT CHẤN THƯƠNG VÀ BỨC
TRANH

ĐỜI SỐNG QUA LĂNG KÍNH CHẤN THƯƠNG

3.3.3. Kĩ thuật dòng ý thức ....................................................................................... 111
3.4. Ngôn ngữ ............................................................................................................. 116
3.4.1. Ngôn ngữ lai ghép .......................................................................................... 116
3.4.2. Ngôn ngữ tính dục .......................................................................................... 120
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................................ 125
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 126
TÁC PHẨM KHẢO SÁT VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................... 129
PHỤ LỤC


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc
Việt Nam và văn học Việt Nam hải ngoại cũng là một bộ phận của văn học dân tộc.
Ngày càng có nhiều tác phẩm của văn học hải ngoại được xuất bản trong nước, được
công chúng yêu văn học cũng như giới nghiên cứu phê bình quan tâm. Song chưa có
tác giả hải ngoại nào gây được chú ý như Thuận. Với 7 tiểu thuyết đã xuất bản, Thuận
được xem là một hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại. Về nội dung, tác phẩm
của Thuận chạm đến nhiều vấn đề mà con người đương đại quan tâm, nhiều vấn đề có
phần gai góc, tế nhị trong xã hội Việt Nam thời hậu chiến, xã hội Pháp đương đại. Về
nghệ thuật, tác phẩm của Thuận mang tới một lối viết rất riêng, rất hiện đại, mới mẻ,
gây hấn với mĩ học truyền thống, nhưng cũng không hoàn toàn đứt gãy với văn học
dân tộc dù Thuận đang sống và sáng tác ở Pháp. Thuận thực sự đã đưa đến làn gió mới
cho văn học nước nhà, góp phần làm nên diện mạo của văn học Việt Nam đổi mới.
Nhiều tác phẩm của Thuận xuất bản chỉ sau một thời gian ngắn đã được tái bản. Năm
2006 tiểu thuyết Paris 11 tháng 8 của Thuận được trao giải thưởng của Hội nhà văn
Việt Nam. Các chuyên luận nghiên cứu về văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XXI đến
nay của Nguyễn Thị Bình, Bùi Việt Thắng, Trần Huyền Sâm, Thái Phan Vàng Anh…

của những tác giả vốn là nạn nhân của những chấn thương vượt ngưỡng. Bởi vậy, theo
nhà nghiên cứu này, “Ở Việt Nam cho đến nay, chưa có dòng văn học chấn thương với
đầy đủ điều kiện, tính chất nêu trên” [69, tr.242] mà chỉ mới là những dạng thức gần
gũi với văn học chấn thương; tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn của Trần
Dần được coi là tiên phong cho văn học chấn thương ở Việt Nam. Ngoài ra, trên cơ sở
phân tích những biểu hiện chấn thương của nhân vật Dưỡng – một người lính ngụy
quy hàng muốn sống cuộc sống yên ổn, nhưng lại bị quy chụp tội làm phản và phải
sống trong sự nghi kị của cộng đồng, Nguyễn Thành Thi đã chỉ ra sự độc đáo của Trần
Dần trong việc đưa hình thức nhật kí và trinh thám vào tiểu thuyết nhằm làm nổi bật
hành động tâm lí của nhân vật, chỉ ra ba đặc điểm thi pháp của tự sự chấn thương là:
“Người kể chuyện (tự thuật, xưng “tôi”) đồng thời là nhân vật trung tâm, người nắm
giữ điểm nhìn chủ đạo, và tất nhiên, nắm giữ luôn diễn ngôn trần thuật của tác phẩm.
Trong nhiều trường hợp chức năng trần thuật còn được giao phó một phần cho nhân
vật khác, thường là nhân vật “nhà văn”. Diễn ngôn của tác phẩm mang đậm tính chủ
thể và sắc thái hiện chứng/chấn thương rất đậm nét” [69, tr.236].
Phùng Bích Hạnh trong luận văn Diễn ngôn phố trong tiểu thuyết Trần Dần


3

cũng cho rằng tác phẩm của Trần Dần như là tiếng nói của một cái tôi bị chấn thương.
Đáng tiếc là tác giả chưa lí giải thấu đáo cho những kết luận ấy.
Viết theo kiểu chấn thương chỉ thực sự xuất hiện nhiều từ sau đổi mới. Vì thế,
các bài nghiên cứu theo hướng văn học chấn thương cũng chủ yếu tập trung ở giai
đoạn này. Lê Tú Anh trong bài Từ trường hợp Đoàn Minh Phượng, nghĩ về văn
học chấn thương ở Việt Nam và quan điểm nghiên cứu trên cơ sở giới thiệu khái
niệm chấn thương của Amos Golbberg và Cathy Caruth và khái lược dòng chảy của
văn học chấn thương ở Việt Nam từ thế kỉ XIX đến nay, cho rằng “Trong nền văn học
Việt Nam hiện đại, đặc biệt là từ sau 1975, đã lặng lẽ chảy một dòng văn học chấn
thương” [83]. Tác giả tiên lượng: “văn học chấn thương ở Việt Nam chưa thể dừng

có bài viết đề cập đến lí thuyết chấn thương, thậm chí có bài viết chưa xuất phát từ lí
thuyết phê bình chấn thương… Việc nghiên cứu về văn học chấn thương ở Việt Nam
vẫn còn là mảnh đất còn nhiều tiềm năng vẫy gọi phía trước.
2.2. Lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Thuận
Là một hiện tượng văn học đương đại, Thuận được đông đảo bạn đọc, giới phê
bình lưu tâm. Có nhiều chuyên luận, luận văn, luận án, các bài báo, bài cảm nhận trên
Internet đề cập đến sáng tác của Thuận từ nhiều phương diện khác nhau.
Nguyễn Thị Bình trong bài Đổi mới tiểu thuyết Việt Nam đương đại: lối viết
hậu hiện đại cho rằng sáng tác của Thuận in đậm dấu ấn hậu hiện đại. Điều đó được
thể ở nhiều phương diện: nỗ lực giải thiêng văn học, coi sáng tạo văn học là một trò
chơi đầy trí tuệ và lí thú, "từ chối khung tự sự truyền thống ", “ý thức nhại văn và
phức hợp thể loại” [11, tr.243], xây dựng nhân vật theo kiểu "tạo ra nhân vật mà
Phương Tây gọi là nhân vật phi nhân vật" [11, tr.239], “xây dựng nhân vật cũng là
phá hủy nhân vật" [11, tr. 241]. Trong bài viết Chất thơ trong văn xuôi đương đại,
Nguyễn Thị Bình lại chú ý tới chất thơ trong tiểu thuyết của Thuận. Theo bà, chất thơ
ấy được ẩn sau cuộc sống chẳng có gì thú vị, ẩn sau giọng điệu giễu nhại, giọng điệu
dửng dưng lạnh lùng.
Bùi Việt Thắng trong bài Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi Mới (1986 2016): Những thăng trầm, cũng đánh giá cao Thuận, coi Thuận là một trong những
gương mặt tiêu biểu “khúc xạ một hướng đi của tiểu thuyết đương đại Việt” [102] và
chủ đề xuyên suốt trong tiểu thuyết của Thuận theo ông là “người Việt tha hương và
những bi kịch nhỏ mà họ suy nghiệm, những kiếp người bị đánh bật cội rễ” [102]. Tuy
nhiên, khác với Nguyễn Thị Bình, Bùi Việt Thắng tỏ ra khá dè dặt khi bàn tới hậu hiện
đại trong tiểu thuyết của nhà văn này, nhưng thừa nhận cách viết của Thuận “khác


5

truyền thống thì rõ ràng như dưới mặt trời” [102].
Trần Huyền Sâm trong chuyên luận Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ
Việt Nam đương đại cho rằng diễn ngôn chấn thương trong sáng tác của Thuận nói

Nam xuất bản ở nước ngoài, chúng tôi chỉ có thể đọc trên Internet, nên chúng tôi
không đưa vào diện khảo sát, mà chỉ tập trung nghiên cứu nhân vật chấn thương ở 6
tác phẩm: Chinatown, Thang máy Sài Gòn, T mất tích, Chỉ còn 4 ngày là hết
tháng tư, Paris 11 tháng 8, Vân Vy.
Ngoài ra, như đã trình bày ở trên, bên cạnh sáng tác của Thuận là chủ yếu, chúng
tôi có điểm qua, so sánh với sáng tác của các tác giả tiêu biểu trong văn học dân tộc có
bóng dáng nhân vật chấn thương như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn


7

– Đoàn Thị Điểm(?), Hoàng Ngọc Phách, Nam Cao, Nguyên Hồng, Lê Lựu, Nguyễn
Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư, Đoàn Minh
Phượng, Linda Lê…
Bóng dáng nhân vật chấn thương còn thấy thấp thoáng trong một số tác phẩm
văn học dân gian, đặc biệt trong sáng tác của các dân tộc miền núi. Tuy nhiên, do
không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, nên chúng tôi chỉ xem đây là những tư
liệu tham khảo khi cần.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp liên ngành: Chúng tôi sử dụng một số kiến thức của y học, tâm lí
học về chấn thương để nghiên cứu về nhân vật chấn thương.
- Phương pháp loại hình: Phương pháp này giúp chúng tôi tiến hành phân loại
nhân vật chấn thương.
- Phương pháp thi pháp học: Phương pháp thi pháp học giúp chúng tôi khảo sát các
hình thức mang tính nội dung, sự quy định lẫn nhau giữa hình thức và nội dung từ đó có
cơ sở lí giải các vấn đề trong tiểu thuyết của Thuận liên quan đến nhân vật chấn thương.
- Phương pháp hệ thống: Vận dụng phương pháp hệ thống, chúng tôi đặt các yếu
tố giữa nhân vật chấn thương, các yếu tố nội dung và các hình thức biểu hiện trong
một chỉnh thể có sự quy định, tác động qua lại lẫn nhau. Chúng tôi cũng đặt tác phẩm
của Thuận trong bối cảnh đổi mới hội nhập của văn học Việt Nam đương đại để có sự

Chúng tôi trình bày về khái niệm văn học chấn thương, nhân vật chấn thương
như là một biểu hiện của văn học chấn thương, ý nghĩa và thực tiễn của việc nghiên
cứu văn học chấn thương ở nước ta, nghiên cứu về bóng dáng nhân vật chấn thương
trong lịch sử văn học dân tộc và một số khái niệm liên quan khác. Chương 1 tạo điểm
tựa lí thuyết để chúng tôi tiếp tục tiến hành nghiên cứu hai chương còn lại.
Chương 2: Các kiểu loại nhân vật chấn thương và bức tranh đời sống qua lăng
kính nhân vật chấn thương trong sáng tác của Thuận.
Ở chương này, trên cơ sở phương pháp loại hình, chúng tôi tiến hành phân loại
nhân vật chấn thương trong tiểu thuyết của Thuận, đồng thời nghiên cứu bức tranh đời
sống trong tác phẩm của Thuận được thể hiện qua lăng kính chấn thương.
Chương 3: Các phương thức khắc họa nhân vật chấn thương trong sáng tác của
Thuận.
Chúng tôi nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa nhân vật chấn thương với các
phương thức tự sự trong tiểu thuyết của Thuận. Thực ra, phương thức tự sự là một vấn
đề rộng, chúng tôi chỉ tập trung một số vấn đề liên quan đến việc thể hiện nhân vật
chấn thương mang dấu ấn riêng của Thuận.


9

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
NGHIÊN CỨU THẾ GIỚI NHÂN VẬT CHẤN THƯƠNG
TRONG SÁNG TÁC CỦA THUẬN
1.1. Chấn thương, văn học chấn thương, nhân vật chấn thương và việc nghiên
cứu văn học chấn thương
1.1.1. Chấn thương
Chấn thương (tiếng Anh là “trauma”) xuất phát từ thuật ngữ “wound” (vết thương,
thương tích) trong tiếng Hy Lạp. Từ điển bách khoa y học phổ thông định nghĩa:
“Bất kì tác động nào từ bên ngoài (ngoại giới) gây ra tổn thương thực thể cho cơ thể
hoặc gây ra rối loạn hoạt động tinh thần hoặc cảm xúc của con người” [52, tr.129].

của phê bình chấn thương hiện đại – đã đưa ra định nghĩa đáng chú ý về chấn thương.
Theo bà “chấn thương mô tả như là những kinh nghiệm choáng ngợp về những sự kiện
đột ngột hay thảm họa mà phản ứng đối với những sự kiện đó thường xuất hiện dưới
dạng ảo giác và các hiện tượng mang tính chất xâm nhập thường bị trì hoãn và tái
diễn một cách không kiểm soát được” [87]. Nói cách khác, chấn thương là những nỗi
đau vượt ngưỡng và kinh nghiệm chấn thương là kinh nghiệm đến sau. Tại thời điểm
sự kiện diễn ra thì sự đồng hóa hoặc kinh nghiệm không có một cách đầy đủ mà đến ở
thời điểm muộn hơn bằng sự lặp lại đối với người đã có trải nghiệm đó. Nạn nhân –
người mà đã trải nghiệm qua sự kiện chấn thương – không thể nào quên được sự kiện
ấy, dù bị trấn áp, bị đè nén thì sự kiện đó vẫn liên tục ám ảnh. Nó trở lại trong đời sống
nạn nhân bằng những hồi ức đứt đoạn, những mảnh vỡ của sự kiện, bị biến dạng và
hiện hữu trong đời sống vô thức của nạn nhân. “Sự trở về của hồi tưởng như một sự
gián đoạn – như một cái gì đó với một lực lượng gây ảnh hưởng hoặc tác động – cho
thấy rằng nó không thể nghĩ đơn giản như một sự miêu tả" [111, tr.115]. Cũng theo
Cathy Curth, kinh nghiệm chấn thương là những kinh nghiệm không được khẳng định
bởi vì nó là cái không thể chứng thực, nhưng là cái được dùng làm quy chiếu.
1.1.2. Văn học chấn thương
Mầm mống văn học chấn thương có từ rất lâu, song chỉ đến thế kỉ XX nó mới
thực sự trở thành một xu hướng sáng tác cũng như nghiên cứu phê bình. Bởi thế kỉ
XX, nhân loại trải qua nhiều sự kiện kinh hoàng để lại nỗi đau dai dẳng trong đời sống
mỗi cá nhân cũng như cộng đồng như hai cuộc chiến tranh thế giới, Mĩ ném bom
nguyên tử hủy diệt thành phố Hiroshima và Nagasaki, hàng triệu người Do Thái bị
Đức Quốc xã sát hại trong các trại tập trung, hàng triệu trí thức Trung Quốc rơi vào


11

cảnh màn trời chiếu đất, bị bức hại bởi sự đàn áp mang danh nghĩa Cách mạng văn
hóa… Trước những sự kiện kinh thiên động địa đó, loài người phải đặt câu hỏi: cái gì
tồn tại là có ý nghĩa nhất? Tại sao con người lại rơi vào thảm họa diệt vong? Làm thế


Moses and Monotheism (Moses và nhất thần luận) của S. Freud được Cathy Caruth
đọc trên tinh thần đó. Theo bà, S. Freud đã viết lại lịch sử bị hư cấu hóa của người Do
Thái trong hoàn cảnh hiện tại là hàng triệu người Do Thái đang bị khủng bố, tàn sát
bởi Đức quốc xã như là lời giải đáp cho câu hỏi “làm thế nào mà người Do Thái dẫn
đến cơ sự này” [87], đồng thời cũng là cách Freud cất lên giọng nói của mình – giọng
nói của một người đang chạy trốn bởi Đức quốc xã. Nói cách khác, tác phẩm đó Freud
viết về chấn thương trong vô thức của cộng đồng Do Thái và viết về vết thương của
chính mình. Hành động đó như là cách tự chữa lành vết thương.
Amos Goldberg cũng có quan điểm tương tự khi nghiên cứu tác phẩm của các
nạn nhân của hiện tượng Holocaust. Amos Goldberg cho rằng: trước khi bị sát hại, các
nạn nhân Do Thái đã rơi vào hai hình thức của cái chết: “cái chết của chủ thể nạn
nhân bởi cái biểu đạt của kẻ hủy diệt và cái chết tượng trưng của nạn nhân” [90]. Khi
Đức Quốc xã cho đánh dấu người Do Thái, bắt đầu bằng việc đánh dấu cơ sở kinh
doanh của họ, đến việc bắt họ đeo biểu tượng trên quần áo và cuối cùng thích chữ trên
người họ, tức là đồng nhất cái biểu đạt và cái được biểu đạt, làm triệt hủy bản ngã của
nạn nhân, khiến cho ham muốn hay ngôn ngữ của nạn nhân không còn tồn tại. Cái chết
tượng trưng là cái chết của việc người ta không thể cất lên tiếng nói của mình, hoặc
tiếng nói ấy hoàn toàn không có nghĩa. Amos Goldberg khẳng định “Thảm kịch lớn
nhất ẩn dấu trong sự va chạm gây chấn thương này là nguy cơ của sự triệt tiêu của
toàn bộ ý nghĩa, hay nói cách khác thảm kịch khủng khiếp nhất xảy ra khi chủ thể
không còn lại bất kì một ngữ cảnh văn hóa, lịch sử, cá nhân thích đáng nào để có thể
khơi thông được chấn thương. Khi đó nạn nhân không thể cất tiếng nói hoặc tiếng nói
của anh ta/chị ta hoàn toàn không có ý nghĩa, nạn nhân rơi vào trạng thái câm nín”
[90]. Vì vậy, hành động viết của nạn nhân theo nhà nghiên cứu này là “nạn nhân đã cố
gắng đóng khung chính mình trong vùng chấn thương để không rơi vào một trong hai
hình thức tồi tệ hơn rất nhiều – với mối quan hệ giữa đời sống và cái chết bị dừng lại
vì cái chết do cái biểu đạt gây ra và cái chết tượng trưng – cả hai cái chết này đều do
kẻ sát nhân áp đặt nhằm hư vô hóa nạn nhân trước khi giết chết anh ta/ hay chị ta”
[90]. Và những câu chuyện tự thuật đó “không chỉ có ý nghĩa là một sự miêu tả lại

Ở Trung Quốc, văn học chấn thương được hiểu như một trào lưu văn học, được
gọi là “văn học vết thương”. Từ “vết thương” được các nhà nghiên cứu Trung Quốc
gọi theo tên một truyện ngắn nổi tiếng của Lư Tân Hoa. Trào lưu văn học này ra đời từ
sau Đại cách mạng văn hóa (1976) và kéo dài trong khoảng 10 năm. Khi cuộc Cách
mạng văn hóa kết thúc, người ta bàng hoàng nhận ra thực chất cuộc cách mạng ấy là


14

một cuộc bức hại công khai đối với nhân dân Trung Quốc dưới danh nghĩa cách mạng,
để lại những “vết thương” trầm trọng cả về tinh thần lẫn thể xác đối với họ, không dễ
gì có thể nguôi ngoai. Văn học vết thương với tiếng nói phủ định triệt để đối với Cách
mạng này – một cuộc cách mạng đẫm máu và nước mắt trong lịch sử Trung Quốc hiện
đại. Các tác phẩm của trào lưu văn học vết thương nặng về phơi bày nỗi đau khổ trong
thời động loạn. Những tác phẩm tiêu biểu như: Chủ nhiệm lớp (Lưu Tâm Vũ), Ôi
(Phùng Ký Tài), Tôi phải làm thế nào (Trần Quốc Khải), Mãi mãi là mùa xuân
(Thẩm Dung)… Ra đời ngay sau khi cuộc Cách mạng văn hóa vừa kết thúc, các nhà
văn vừa tỉnh dậy sau một cơn ác mộng kéo dài nên thành tựu về nội dung và nghệ
thuật của trào lưu văn học vết thương không cao. Nó kéo dài cho tới giữa những năm
80 của thế kỷ XX thì kết thúc sứ mệnh lịch sử và nhường chỗ cho trào lưu văn học
“tầm căn” (tìm nguồn).
Như vậy, văn học chấn thương có thể hiểu là một trào lưu văn học hoặc một lí
thuyết nghiên cứu phê bình. Với đề tài Thế giới nhân vật chấn thương trong sáng
tác của Thuận, chúng tôi chọn cách hiểu văn học chấn thương như một lí thuyết
nghiên cứu phê bình của Phương Tây.
1.1.3. Nhân vật, thế giới nhân vật chấn thương như một biểu hiện của văn
học chấn thương
“Nhân vật văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người
trong tác phẩm văn học – cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng các
phương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ” [62, tr.114]. "Bất cứ tác phẩm văn học nào

Nói tóm lại, là con người được miêu tả trong tác phẩm, nhân vật là một phương
tiện nghệ thuật để nhà văn phản ánh hiện thực cuộc sống và con người, thể hiện tư
tưởng, tình cảm, quan điểm của chính nhà văn về hiện thực ấy, con người ấy.
Khi người cầm bút là nhà văn với tư cách là nạn nhân tự thuật câu chuyện đầy
ám ảnh của mình, hay vì nỗi đau của đồng loại mà lên tiếng chia sẻ, thì tất cả đều thể
hiện qua các nhân vật. Nhân vật là phương tiện để tác giả nói lên tiếng nói bên trong
của mình về thế giới, về những gì đang giễu ra trước mắt, về những trải nghiệm có thể
đầy đau đớn và day dứt tưởng như đã chìm khuất trong tiềm thức. Có thể nói, nhân vật
bị nỗi đau vượt ngưỡng như là biểu hiện của văn học chấn thương. Trong các tác phẩm
có nhân vật chấn thương, điểm nhìn chủ yếu được nhìn từ phía nhân vật chấn thương.
Nhân vật chấn thương được sử dụng như một lăng kính để nhìn ra thế giới.
1.1.4. Việc nghiên cứu văn học chấn thương ở Việt Nam
Xã hội Việt Nam tuy may mắn không phải trải qua những sự kiện kinh hoàng


16

kiểu như hiện tương Holocoust với người Do Thái hay Cách mạng văn hóa với người
Trung Quốc, nhưng cũng không hiếm những sự kiện biến động. Do đó, dấu vết văn
học chấn thương cũng xuất hiện không ít trong văn học nước nhà. Việc nghiên cứu văn
học chấn thương đã bắt đầu được chú ý trong những năm gần đây, và cách hiểu về văn
học chấn thương cũng được tiếp nhận từ hai nguồn: lí thuyết phê bình văn học của
phương Tây và trào lưu văn học vết thương của Trung Quốc.
Theo hướng tiếp cận văn học chấn thương như một trào lưu văn học, đáng kể
nhất là luận văn Đặc trưng mỹ học của bộ phận văn học “vết thương” trong văn
xuôi Việt Nam thời kì đổi mới (Qua sự so sánh với văn học Trung Quốc) của Lê Văn
Hiệp năm 2012.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu văn học chấn thương ở Việt Nam hiện nay chủ yếu
vẫn theo hướng tiếp cận phê bình của văn học phương Tây. Trước hết, phải kể đến nỗ
lực giới thiệu lí thuyết văn học chấn thương của một số nhà nghiên cứu. Năm 2010,

tiểu thuyết và các thể tự sự tự thuật; mà quan trọng hơn là giúp lí giải nhiều vấn đề
lịch sử tâm hồn – lịch sử hình thành chấn thương. Công việc ấy có thể giúp ích ít nhiều
cho việc khắc phục/giảm thiểu những chấn thương tinh thần thậm chí cho nhân loại
trong tương lai” [83].
Không chỉ ở góc độ nghiên cứu phê bình, mà văn học chấn thương còn được đặt
ra với cả người sáng tác. Năm 2010, Trần Xuân An trong bài viết Văn học về các vết
thương chiến tranh, hậu chiến cho rằng: cần có nhiều hơn những sáng tác viết về vết
thương chiến tranh và cả thời hậu chiến trên một tinh thần cởi mở. Cần có nhiều tác
phẩm trả lời các câu hỏi “Tại sao dân tộc ta phải trải qua cuộc chiến tranh chống xâm
lược suốt 117 năm (1858-1975) hay 131 năm (1858-1989)? Tại sao có phong trào Văn
thân, Bình Tây sát tả? Tại sao có chiến tranh lạnh giữa hai khối? Tại sao có cải cách
ruộng đất? Tại sao có “vết thương” Bến Hải, vĩ tuyến 17? Tại sao có phong trào
chống tả đạo Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu? Tại sao có vấn đề Hoàng Sa rồi sau
đó là Trường Sa? Tại sao có cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh sau ngày
Thống nhất? Tại sao có Đổi mới” [82]? Bởi vì, theo tác giả, “dẫu có những sai lầm
lớn, rất đỗi nghiêm trọng đi nữa, thì sự thật kháng chiến chống Pháp, chống Nhật,
kháng chiến chống Mỹ và chống bành trướng Bắc Kinh – Kh’Mer Đỏ thắng lợi đã là
một chuỗi sự thật lịch sử hào hùng, vĩ đại không ai có thể phủ nhận được. Sự thật còn
là công cuộc cả dân tộc ta đã và đang chống lại sự xâm lược của Trung Quốc đối với
hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hiện nay” [82]. Việc viết một cách sâu sắc, chân
thực những vết thương ấy theo Trần Xuân An cũng có nghĩa là nó góp phần “chữa


18

lành những vết thương chiến tranh, hậu chiến, hoà giải và đoàn kết dân tộc” [82].
Như vậy, lí thuyết phê bình chấn thương chỉ mới xuất hiện trên thế giới chưa đầy
ba mươi năm nay, và cũng chỉ mới bước đầu được giới thiệu nghiên cứu ở Việt Nam
sáu bảy năm trở lại đây, nhưng thực sự nó đang mở ra một hướng đi đầy triển vọng.
Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Hiếu: “Phê

cuộc sống, di hại mãi trong đời sống cá nhân của họ. Nó liên tục dày vò khiến cho
người đó khó trở lại cuộc sống bình thường. Điều đó liên quan đến sức khỏe thể chất
và tâm lý, cũng như mức độ hỗ trợ xã hội, trải nghiệm trong quá khứ và kỹ năng ứng
phó của từng cá nhân khác nhau.
Bên cạnh những nguyên nhân gây chấn thương mang tính chất riêng tư trong đời
sống cá nhân nói trên, còn có những chấn thương liên quan đến đời sống cộng đồng.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến những sự kiện chấn thương mang tính cộng đồng như
hiện tượng buôn bán nô lệ, hiện tượng những nạn nhân Do Thái bị Đức Quốc xã sát
hại trong thế chiến thứ II, Cách mạng văn hóa, hay sự kiện Thiên An Môn ở Trung
Quốc… Những chấn thương kiểu này thường di căn qua nhiều thế hệ và việc xoa dịu
những vết thương đó đòi hỏi rất nhiều thời gian, lòng khoan dung, sự thiện chí khi
nhìn vào sự thật của cả cộng đồng. Nhiều sự kiện trong lịch sử trải qua nhiều thế hệ
vẫn như một bóng ma không ngừng tra vấn con người trong hiện tại, nó thậm chí có ý
nghĩa trong việc xác lập căn tính cho một cộng đồng. Đánh giá tác động của cuộc nội
chiến 1861–1865 đối với lịch sử nước Mĩ, giáo sư sử học Drew Gilpin Faust, hiệu
trưởng đại học Harvard, cho rằng: cuộc nội chiến ấy “giữ vị trí cốt lõi trong căn tính
quốc gia. Sự tàn bạo và ý nghĩa sống còn của cuộc Nội chiến khiến nó, cho đến tận
ngày hôm nay, vẫn choán một mảng lớn trong tâm thức dân tộc. Rất nhiều tranh luận
quan trọng về cuộc chiến – về công lý, bình đẳng, dân quyền, dân chủ và trung tâm
quyền lực quốc gia – tiếp tục định hình các chính sách của nước Mỹ cả một thế kỷ rưỡi
sau khi chiến tranh kết thúc. Và chúng tôi vẫn tiếp tục tự vấn một cách nhọc nhằn về ý
nghĩa của cuộc chiến đối với tình trạng phân biệt chủng tộc vẫn tồn tại cho đến tận
bây giờ” [89].
Xã hội Việt Nam dù may mắn không phải trải qua những sự kiện kinh thiên động
địa như sự kiện Holocaust, sự kiện Hiroshima và Nagasaki, sự kiện Thiên An Môn…
Song, nếu chỉ tính trong vòng một thế kỉ qua cũng thấy có rất nhiều những sự kiện gây
tổn thương cho đời sống cộng đồng như: chiến tranh, trận đói kinh hoàng năm Ất Dậu,
cải cách ruộng đất, Văn nhân Giai phẩm, cải cách công thương nghiệp… Những vết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status