TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH
&
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 32
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Đinh Thanh Phương
Khổng Phúc Vĩnh Nhật
Bộ môn Luật Hành chính
MSSV: 5062343
Lớp Luật Hành chính K32
Cần Thơ, tháng 4/2010
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
----***---? ...................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG BẢO VỆ LUẬN VĂN
----***---? ...................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
......................................................................................................................................
1.1.1. Giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1959 ...............................................................3
1.1.2. Thời kỳ từ năm 1959 đến năm 1980 ..................................................................3
1.1.3. Thời kỳ từ năm 1980 đến năm 1992 ..................................................................4
1.1.4. Thời kỳ từ năm 1992 đến nay ............................................................................5
1.2. Vị trí pháp lý, tính chất pháp lý và chức năng của Quốc hội .............................6
1.2.1. Vị trí pháp lý của Quốc hội ..............................................................................6
1.2.2. Tính chất pháp lý của Quốc hội .......................................................................7
1.2.3. Chức năng của Quốc hội ..................................................................................8
1.3. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội ....................................................................10
1.3.1. Cơ cấu tổ chức của Quốc hội ...........................................................................10
1.3.2. Hoạt động của Quốc hội ..................................................................................15
1.4. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội .................................................................16
Chương 2: HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI ....................18
2.1. Các vấn đề chung về chất vấn .............................................................................18
2.1.1. Khái niệm chất vấn ..........................................................................................18
2.1.2. Đặc điểm của chất vấn .....................................................................................19
2.1.3. Chủ thể chất vấn ..............................................................................................19
2.1.4. Đối tượng bị chất vấn ......................................................................................20
2.1.5. Nội dung chất vấn ............................................................................................22
2.1.6. Hình thức chất vấn và thời gian chất vấn .........................................................22
2.2. Ý nghĩa và hậu quả pháp lý của hoạt động chất vấn ..........................................26
2.2.1. Ý nghĩa ............................................................................................................26
2.2.2. Hậu quả pháp lý ...............................................................................................26
Chương 3: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC
HỘI
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHẤT VẤN CỦA ĐẠI
BIỂU
QUỐC HỘI .................................................................................................................27
vấn của đại biểu Quốc hội là một hoạt động rất quan trọng, vì nó sẽ truy cứu trách
nhiệm của những người đứng đầu bộ máy nhà nước trước Quốc hội và toàn thể nhân
dân cả nước. Hoạt động chất vấn này là một hoạt động mà em rất tâm đắc, vì thế, để
hiểu rõ hơn về hoạt động này cũng như để nâng cao hiệu quả chất vấn em chọn đề tài:
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội”.
2. Nội dung của đề tài
Nội dung của đề tài chủ yếu nói về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội
và một số giải pháp nâng cao hiệu quả chất vấn. Nhưng trước đó chúng ta sẽ tìm hiểu
sơ lược về Quốc hội. Tiếp đó là nội dung chính của đề tài là hoạt động chất vấn của
đại biểu Quốc hội. Các đại biểu Quốc hội sẽ chất vấn những đối tượng nào, thời gian
bao lâu, hình thức chất vấn như thế nào qua các kỳ họp của Quốc hội. Từ đó đề ra các
giải pháp nâng cao hiệu quả chất vấn.
3. Giới hạn của đề tài
Đề tài chủ yếu nói về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội qua các kỳ họp
của Quốc hội khóa XII, từ đó tìm ra những ưu điểm và khuyết điểm để đưa ra các
biện pháp khắc phục thích hợp để làm cho hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội
ngày càng hoàn thiện hơn.
4. Bố cục của đề tài
Đề tài gồm ba chương:
- Chương 1: Khái quát chung về Quốc hội.
- Chương 2: Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội.
- Chương 3: Thực tiễn hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội và một số
giải pháp nâng cao hiệu quả chất vấn của đại biểu Quốc hội.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong bài này em chủ yếu dùng phương pháp sưu tầm và phân tích tài liệu từ
luật, sách báo, giáo trình, các trang web (đặc biệt là trang web của Quốc hội). Sau đó
dùng phương pháp đối chiếu, so sánh các tài liệu này với nhau và với một số quan
điểm ở các quốc gia khác. Bên cạnh đó, em còn trích lọc một số ý kiến để bài được
ba (năm 1953) là văn bản có ý nghĩa quan trọng nhằm xóa bỏ chế độ phong kiến
chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ, thực hiện chính sách “người cày có ruộng”
và chế độ sở hữu ruộng đất của nông dân. Đến kỳ họp thứ sáu vào năm 1957, Quốc
hội đã thông qua luật quy định quyền tự do hội họp, luật quy định quyền lập hội, luật
bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và
thư tín của nhân dân và luật về chế độ báo chí. Đây là những đạo luật quy định những
quyền tự do rất cơ bản của người dân.
1.1.2. Thời kỳ từ năm 1959 đến năm 1980
1
Tổng hợp từ tư liệu Quốc hội các khóa trên trang web:
http://www.na.gov.vn/htx/Vietnamese/C1454/C1456/#1t2fr6t5E75u
Trong thời kỳ này, Quốc hội hoạt động theo Hiến pháp 1959, được Quốc hội
thông qua ngày 31-12-1959 và đã trải qua năm khóa hoạt động. Hiến pháp 1959 quy
định rõ ràng và đầy đủ hơn trước về vị trí, vai trò của Quốc hội. Theo đó, Quốc hội có
17 nhiệm vụ, quyền hạn như: làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm pháp luật;
giám sát việc thi hành Hiến pháp, v.v..
Quốc hội khóa II (1960 - 1964) được bầu ngày 8-5-1960 có 362 đại biểu trúng
cử cùng với 91 đại biểu Quốc hội miền Nam được lưu nhiệm theo Nghị quyết của kỳ
họp thứ mười một Quốc hội khóa I. Nhiệm kỳ Quốc hội khóa II là bốn năm và Quốc
hội đã có tám kỳ họp.
Quốc hội khóa III (1964 - 1971) có 455 đại biểu, trong đó có 366 đại biểu
được bầu ngày 26-4-1964 và 89 đại biểu Quốc hội khóa I thuộc các tỉnh miền Nam
được lưu nhiệm. Do hoàn cảnh chiến tranh, nhiệm kỳ Quốc hội khóa III đã kéo dài
bảy năm và chỉ có bảy kỳ họp; Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã họp 95 lần, thông qua
rất nhiều nghị quyết về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, đối ngoại, về tổ chức hành
chính, về nhân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất
chức bộ máy nhà nước được ban hành mới theo Hiến pháp 1980, đáng chú ý là lần
đầu tiên Quốc hội đã ban hành Bộ luật Hình sự (1985) gồm 280 điều quy định về tội
phạm và hình phạt; và Luật Hôn nhân và gia đình (1986) gồm 57 điều trên cơ sở kế
thừa và phát triển Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, thể hiện bước phát triển đáng
kể trong hoạt động lập pháp của Quốc hội.
Quốc hội khóa VIII (1987 - 1992) được bầu ra ngày 19-4-1987 là Quốc hội
của giai đoạn khởi đầu sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng đề ra.
Đặc biệt, Quốc hội khóa VIII đã có tiến bộ nhất định trong việc xem xét, quyết
định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tại các kỳ họp của mình, Quốc hội đã dành
thời gian để thảo luận về các báo cáo của Hội đồng Bộ trưởng về tình hình thực hiện
kế hoạch nhà nước và ngân sách nhà nước; yêu cầu Hội đồng Bộ trưởng báo cáo bổ
sung, cung cấp thêm thông tin, số liệu để có thêm căn cứ xem xét, phân tích trước khi
quyết định. Quốc hội cũng đã phê chuẩn các hiệp định, hiệp ước quan trọng về kinh
tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và giáo dục mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết
1.1.4. Thời kỳ từ năm 1992 đến nay
Đây là thời kỳ Quốc hội được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1992 và đã
trải qua gần bốn nhiệm kỳ hoạt động. Quốc hội đã có những đổi mới cơ bản, khắc
phục tính hình thức, hạn chế trong hoạt động ở các khóa Quốc hội trước và ngày càng
khẳng định vị trí, vai trò quan trọng là cơ quan đại diện dân cử cao nhất, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội khóa IX (1992 - 1997) được bầu ngày 19-7-1992, có 395 đại biểu và
nhiệm kỳ hoạt động là 5 năm.
Công tác giám sát của Quốc hội cũng đã có những đổi mới nhất định như tiến
hành nghe các báo cáo hoạt động của các cơ quan nhà nước ở trung ương; cử các
đoàn đi kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương. Chất vấn và trả lời
chất vấn được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc, thể hiện tinh thần trách nhiệm cao
của đại biểu Quốc hội, của Chính phủ và các cơ quan hữu quan trước nhân dân. Đặc
biệt là từ năm 1994 đến nay, các phiên chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội đã được phát
đoạn quan trọng vì Việt Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO, tạo tiền đề
cho nền kinh tế Việt Nam phát triển và cùng hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
1.2. Vị trí pháp lý, tính chất pháp lý và chức năng của Quốc hội
1.2.1. Vị trí pháp lý của Quốc hội
Từ năm 1945 chế độ Xã hội chủ nghĩa lan khắp thế giới tạo nên một trào lưu
dân quyền mà Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhân dân nắm quyền lực cao nhất.
Nhưng đến năm 1991, Liên Xô tan rã, đánh dấu cho sự thất bại tạm thời của chế độ
Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Châu Âu và một số quốc gia ở Châu Á. Hiện nay trên
thế giới còn khoảng năm quốc gia theo chế độ Xã hội chủ nghĩa. Và hầu hết ở các
quốc gia này Quốc hội vẫn là cơ quan nắm quyền lực cao nhất. Việt Nam là quốc gia
theo chế độ Xã hội chủ nghĩa từ năm 1945, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên đã ghi
nhận Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất và điều đó được ghi nhận xuyên suốt,
trải dài qua bốn bản Hiến pháp. Hiện nay, Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm
2001) chính thức ghi nhận trong Điều 83 và Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hội 2001 (sửa
đổi, bổ sung năm 2007) thì Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bởi vì theo Hiến pháp 1992 (2001), Điều
2 ghi nhận: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhưng nhân dân là những
cá nhân riêng biệt, sống trên khắp mọi miền lãnh thổ Việt Nam nên không thể trực
tiếp, thường xuyên sử dụng quyền lực nhà nước được; hơn nữa cá nhân là các chủ thể
độc lập nên không thể để cho mỗi cá nhân tự quyền sử dụng quyền lực nhà nước để
làm theo ý mình nên cần phải có một tổ chức thống nhất tập trung quyền lực nhà
nước. Vì thế, nhân dân phải bầu ra các cơ quan đại diện để thay mặt mình sử dụng
quyền lực nhà nước. Đó là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Quốc hội là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước bầu ra, bao gồm các đại biểu
đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân và mọi vùng lãnh thổ. Quốc hội có chức năng và
nhiệm vụ phục vụ cho lợi ích chung của nhân dân, nói lên tiếng nói và thể hiện ý chí,
nguyện vọng của nhân dân. Cho nên Quốc hội là cơ quan đại diện cho nhân dân cả
nước, được nhân dân cả nước tín nhiệm trao quyền lực của mình cho Quốc hội. Vì thế
Với vị trí pháp lý và tính chất pháp lý đặc biệt như thế nên chức năng của
Quốc hội (Điều 83, Hiến pháp 1992 (2001)) bao gồm những phương diện lớn như
sau:
* Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Vì Hiến
pháp là đạo luật cơ bản nhất, nó long trọng tuyên bố quyền dân chủ của công dân và
tổ chức quyền lực nhà nước, cho nên chỉ có Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất
mới có khả năng lập ra Hiến pháp. Về lập pháp, việc lập pháp sẽ tạo ra nề nếp sống
cho toàn xã hội. Đó là những khuôn khổ, mẫu mực chung mà con người sống ở đó
phải tuân theo. Và những khuôn khổ, mẫu mực chung đó sẽ được quy định cụ thể
trong luật theo định hướng, chủ trương của Đảng. Mọi cá nhân phải sống và tuân thủ
theo pháp luật. Pháp luật tạo ra những con đường để mọi người có thể sống yên ổn,
trật tự, văn minh và phát triển. Nếu cá nhân nào đi lệch hướng những con đường đó
thì sẽ chịu một chế tài nào đó mà luật sẽ dự liệu sẵn. Cho nên ta thấy hoạt động lập
pháp là hoạt động lập ra một chế độ pháp lý mà con người sống ở đó phải tuân theo,
và là hoạt động mà luật sẽ dự liệu sẵn mọi tình huống mà trong đó quy định những
việc mà con người được làm và không được làm, đó là hoạt động tạo ra sự bình ổn và
phát triển cho toàn xã hội. Vì tính chất quan trọng như thế nên chỉ có Quốc hội mới
có đủ thẩm quyền quyết định3. Cho nên, lập hiến và lập pháp là hai quá trình luôn đi
2
Quốc hội khóa XII chưa có đại biểu nào bị bãi nhiệm. Tuy nhiên, Quốc hội khóa XI trước đây đã có hai đại
biểu Quốc hội bị bãi nhiệm là đại biểu Mạc Kim Tôn (đại biểu tỉnh Thái Bình, vi phạm tội lợi dụng chức vụ
trong khi thi hành công vụ), đại biểu Lê Minh Hoàng (đại biểu thành phố Hồ Chí Minh, vi phạm tội cố ý làm
trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng)
3
Trên thế giới không phải quốc gia nào có Quốc hội thì Quốc hội cũng có quyền lập hiến và lập pháp như ở
Việt Nam. Ở các nước Tư bản chủ nghĩa như Pháp, Mỹ… thì Nghị viện (giống như Quốc hội ở Việt Nam) chỉ
có quyền lập pháp, lập hiến sẽ do một cơ quan do Nghị viện thành lập riêng để lập Hiến pháp. Đây là điều
ngược lại với Quốc hội Việt Nam. Và trên thế giới còn có một số quốc gia đặc biệt, Nghị viện của họ chỉ có
quyền lập pháp mà không có quyền lập một Hiến pháp hoàn chỉnh trên giấy trắng mực đen và cũng không có
pháp, Hành pháp, Tư pháp) như Mỹ thì Tổng thống là người nắm giữ quyền Hành
pháp thì những vấn đề trên sẽ do Tổng thống quyết định, thậm chí là những người giữ
các chức vụ ấy cũng sẽ do Tổng thống chỉ định không thông qua chế độ bầu cử như ở
Việt Nam.
* Chức năng thứ ba là Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với
toàn bộ hoạt động của nhà nước. Nhiệm vụ giám sát của Quốc hội nhằm làm cho
những quy định của Hiến pháp, pháp luật được thi hành triệt để và thống nhất. Quốc
hội giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm đảm bảo cho các cơ quan này
văn bản duy nhất mà hàm chứa trong các văn bản được viết trải qua dòng lịch sử thăng trầm của chính trị, xã
hội, kinh tế như: Common Law (Luật chung), Cases (Lời tuyên án của các vị Thẩm phán), Consuetudinary Law
(Tập quán của dân chúng).
hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định, làm cho bộ máy nhà nước hoạt
động nhịp nhàng, có hiệu lực, không chồng chéo, chống các biểu hiện tham nhũng,
quan liêu, cửa quyền. Theo Điều 7 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội 2003 thì
Quốc hội thực hiện quyền giám sát thông qua:
− Xem xét báo cáo của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
− Xem xét báo cáo của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tình hình thi hành
Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
− Xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban thường
vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
− Thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định và xem
xét báo cáo kết quả điều tra của Ủy ban;
− Bỏ phiếu tín nhiệm các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
− Xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ
tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Số thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định4. Để
đảm bảo cho hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ được khách quan, Luật Tổ
chức Quốc hội 2001 (2007) quy định: thành viên của Ủy ban thường vụ Quốc hội là
đại biểu chuyên trách và không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.
Do Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội nên Ủy
ban thường vụ Quốc hội họp mỗi tháng ít nhất một lần. Tài liệu của phiên họp phải
được gửi đến các thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội chậm nhất là bảy ngày,
trước ngày họp (Điều 18 Luật Tổ chức Quốc hội 2001 (2007)). Ngoài ra, luật còn quy
định Ủy ban thường vụ Quốc hội làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa
số. Phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội phải có ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội tham dự. Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban
thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban thường vụ
Quốc hội biểu quyết tán thành. Pháp lệnh, nghị quyết phải được công bố chậm nhất là
mười lăm ngày, kể từ ngày được thông qua, trừ trường hợp Chủ tịch nước trình Quốc
hội xem lại (Điều 19 Luật Tổ chức Quốc hội 2001 (2007))
* Chủ tịch Quốc hội
4
Ví dụ Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XII hiện nay có mười tám người, bao gồm:
− Chủ tịch Quốc hội: Ông Nguyễn Phú Trọng
− Các Phó Chủ tịch Quốc hội: Ông Nguyễn Đức Kiên, Ông Uông Chu Lưu, Bà Tòng Thị Phóng, Ông
Huỳnh Ngọc Sơn.
− Các Ủy viên: Bà Lê Thị Thu Ba (Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp), Ông Lê Quang Bình (Chủ nhiệm Ủy ban
Quốc phòng và An ninh), Ông Trần Đình Đàn (Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội), Ông Hà Văn Hiền (Chủ
nhiệm Ủy ban Kinh tế), Ông Phùng Quốc Hiển (Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách), Bà Trương Thị Mai
(Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội), Ông Nguyễn Văn Son (Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại), Ông Ksor Phước
(Chủ tịch Hội đồng dân tộc), Ông Đặng Vũ Minh (Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ, Môi trường), Ông
Đào Trọng Thi (Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên, Nhi đồng), Ông Nguyễn Văn
Thuận (Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật), Ông Phạm Minh Tuyên (Trưởng ban Công tác đại biểu), Ông Trần Thế
và được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức Quốc hội 2001 (2007), Điều 26 quy định như
sau:
5
Chủ tịch Quốc hội từ năm 1946 đến nay là:
− Ông Nguyễn Văn Tố (2/3/1946 - 8/11/1946, chức vụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội),
− Ông Bùi Bằng Đoàn (9/11/1946 - 13/4/1955, chức vụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội),
− Ông Tôn Đức Thắng (20/9/1955 - 15/7/1960, chức vụ Trưởng ban Thường trực Quốc hội),
− Ông Trường Chinh (15/7/1960 - 11/4/1971, chức vụ Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội),
− Ông Trường Chinh (11/4/1971 - 4/7/1981, chức vụ Chủ tịch Quốc hội),
− Ông Nguyễn Hữu Thọ (4/7/1981 - 18/6/1987, chức vụ Chủ tịch Quốc hội),
− Ông Lê Quang Đạo (18/6/1987 - 23/9/1992, chức vụ Chủ tịch Quốc hội),
− Ông Nông Đức Mạnh (23/9/1992 - 27/6/2001, chức vụ Chủ tịch Quốc hội),
− Ông Nguyễn Văn An (27/6/2001 - 26/6/2006, chức vụ Chủ tịch Quốc hội),
− Ông Nguyễn Phú Trọng (26/6/2006 - nay, chức vụ Chủ tịch Quốc hội).
− Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và dự án khác liên quan đến vấn đề
dân tộc;
− Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực dân tộc; giám sát hoạt động của
Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc thực hiện chương trình, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số;
− Tham gia ý kiến về dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật của Chính
phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch
giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính
trị - xã hội có liên quan đến vấn đề dân tộc và giám sát việc thực hiện các văn bản đó;
− Kiến nghị với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội các vấn đề về chính
sách dân tộc của nhà nước; các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của các cơ
lệnh và dự án khác, những báo cáo được Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội
giao; trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội ý kiến về chương trình xây dựng
luật, pháp lệnh; thực hiện quyền giám sát trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn do luật
định; kiến nghị những vấn đề thuộc phạm vi hoạt động của Ủy ban (Điều 95, Hiến
pháp 1992 (2001)).
Bên cạnh đó, Điều 22 Luật Tổ chức Quốc hội 2001 (2007), thì Quốc hội
thành lập 9 Ủy ban7 sau:
1. Ủy ban pháp luật.
2. Ủy ban kinh tế.
3. Ủy ban quốc phòng và an ninh.
4. Ủy ban văn hóa, giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.
5. Ủy ban các vấn đề xã hội.
6. Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường.
7. Ủy ban đối ngoại.
8. Ủy ban tài chính và ngân sách.
9. Ủy ban tư pháp.
Mỗi Ủy ban đều phải có một số thành viên làm việc theo chế độ
chuyên trách.
− Ủy ban lâm thời (Điều 23, Luật Tổ chức Quốc hội 2001 (2007)): là
những Ủy ban thành lập khi xét thấy cần thiết để nghiên cứu thẩm tra một dự án hoặc
điều tra về một vấn đề nhất định, ví dụ như Ủy ban kiểm tra tư cách đại biểu Quốc hội
hay Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.
Các Ủy ban Quốc hội gồm có Chủ nhiệm, các Phó Chủ nhiệm và các Ủy viên.
Số Phó Chủ nhiệm và số Ủy viên Ủy ban do Quốc hội quyết định. Thành viên Ủy ban
của Quốc hội do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội. Số thành viên hoạt
động chuyên trách do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định (Điều 25, Luật Tổ chức
Quốc hội 2001 (2007)).
* Chương trình hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội
do Hội đồng và Ủy ban quyết định căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc
thường (Điều 2, Nội quy kỳ họp Quốc hội 2002).
Thành phần tham dự kỳ họp Quốc hội bao gồm: các đại biểu Quốc hội, đại
diện cho các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế - chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang
và người nước ngoài, các đại diện này tham gia với tư cách là người chứng kiến, có
quyền phát biểu nhưng không có quyền biểu quyết. Với thành phần tham dự kỳ họp
như thế đã thể hiện tính dân chủ, công khai của hoạt động Quốc hội.
Việc triệu tập kỳ họp thường lệ của Quốc hội sẽ do Ủy ban thường vụ Quốc
hội quyết định chậm nhất là ba mươi ngày và kỳ họp bất thường chậm nhất là bảy
ngày trước ngày khai mạc kỳ họp. Ủy ban thường vụ Quốc hội phải dự kiến chương
trình làm việc của kỳ họp, dự kiến này phải được gửi đến các đại biểu Quốc hội chậm
nhất là một tháng trước khi Quốc hội họp để các đại biểu nghiên cứu và đóng góp ý
kiến.
1.4. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội
Các nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội trong Điều 84 của Hiến pháp 1992
(2001) và cụ thể hóa trong Điều 2 Luật Tổ chức Quốc hội 2001 (2007). Nhiệm vụ và
quyền hạn của Quốc hội bao gồm:
− Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật, quyết
định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Vì đây là hoạt động lập pháp, là một
trong ba quyền tối thượng của một nhà nước nên nó hiển nhiên được giao cho Quốc
hội là cơ quan quyền lực cao nhất.
− Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị
quyết của Quốc hội; xét báo cáo của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Vì đây là những
cơ quan lãnh đạo đứng đầu nhà nước, chúng ta không thể cho cơ quan cấp dưới giám
sát việc hoạt động của cơ quan cấp trên. Cho nên việc giám sát này sẽ do Quốc hội
thực hiện. Đồng thời những lãnh đạo đứng đầu phải có trách nhiệm báo cáo hoạt động
của mình trước Quốc hội để Quốc hội xem xét, đánh giá và góp ý để công việc được
thực hiện tốt hơn.
ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và
danh hiệu vinh dự nhà nước.
− Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình, quy định về tình trạng khẩn
cấp, các biện pháp đặc biệt khác đảm bảo quốc phòng và an ninh quốc gia.
− Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều
ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước.
− Quyết định trưng cầu ý dân.
CHƯƠNG 2
HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
2.1. Các vấn đề chung về chất vấn
2.1.1. Khái niệm chất vấn
Từ khi có sự phân chia giai cấp, và mâu thuẫn giữa các giai cấp không thể điều
hòa được đã làm xuất hiện nhà nước. Trải qua mấy chục ngàn năm, loài người đã có
bốn kiểu nhà nước tương ứng với năm hình thái xã hội: Công xã nguyên thủy, nhà
nước Chủ nô, nhà nước Phong kiến, nhà nước Tư bản, nhà nước Xã hội chủ nghĩa.
Từ giai đoạn Công xã nguyên thủy đến nhà nước Phong kiến thì những người
đứng đầu là những người mang quyền lực gần như tuyệt đối, thậm chí nắm cả quyền
sinh sát trong tay. Đến thời kỳ Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa thì quyền lực
của những người đứng đầu đã bắt đầu hạn chế. Họ nắm quyền lực trong tay nhưng
đồng thời cũng chịu giám sát từ phía một cơ quan khác, đó là Nghị viện (hay Quốc
hội). Nghị viện sẽ thực hiện quyền giám sát thông qua việc chất vấn những đối tượng
này (những người đứng đầu nhà nước – sẽ được làm rõ ở các mục sau). Vậy chất vấn
là gì?
Chất vấn (interpellation), theo định nghĩa của từ điển Webster’s 1913
Dictionary là yêu cầu quan chức giải thích hoạt động, hành động của mình; là những
câu hỏi buộc phải trả lời. Còn từ điển mạng (WordNet Dictionary) giải thích đó là
quy trình trong Nghị viện nhiều nước nhằm yêu cầu Chính phủ giải thích một động
thái hoặc chính sách của mình. Đó là yêu cầu bằng văn bản của cả Viện hoặc một
dân, là người đưa quốc gia Việt Nam phát triển ngang tầm với các quốc gia phát triển
trên thế giới. Đây là một trách nhiệm nặng nề, một chút sai sót cũng có thể gây ra hậu
quả nghiêm trọng nên cần phải có một cơ quan giám sát để cho những hoạt động này
đi vào guồng trật tự.
− Thứ hai, chất vấn là việc đại biểu Quốc hội đặt ra những câu hỏi cho
những người bị chất vấn trả lời. Việc trả lời này mang tính bắt buộc, mặc dù việc trả
lời đó có xoáy sâu vào trọng tâm câu hỏi hay không. Nhưng dù thế nào thì ta vẫn hiểu
chất vấn có thể xem như là hoạt động truy cứu trách nhiệm nhưng không hề có chế tài
đối với những người bị chất vấn. Ví dụ như vụ chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn tại kỳ họp thứ tư Quốc hội khóa XII, Bộ trưởng Cao Đức Phát
đã thẳng thắng nhận lỗi về việc dự báo sai làm ngừng xuất khẩu gây thiệt hại cho dân.
Nhưng đến nay, ta chưa thấy chế tài nào đưa xuống cho Bộ trưởng. Đây có thể xem
như là một hạn chế của hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội.
− Chỉ có Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bị chất vấn. Vì đây là những người đứng
đầu, chịu mọi trách nhiệm về tình hình của đất nước. Cho nên không phải bất cứ cá
nhân nào chất vấn cũng được, chỉ có đại biểu Quốc hội là những người được nhân
dân cả nước tín nhiệm bầu ra, đại diện cho quyền lợi của nhân dân cả nước mới có
quyền chất vấn những người này. Vì thế, có thể xem chủ thể chất vấn là những chủ
thể đặc biệt.
2.1.3. Chủ thể chất vấn
Như phân tích ở trên cùng với cơ sở pháp lý của Điều 98 Hiến pháp 1992
(2001), Khoản 2 Điều 2 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội 2003, thì đại biểu
Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ
và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Người bị chất vấn phải trả lời những vấn đề
mà đại biểu Quốc hội chất vấn. Vì đại biểu Quốc hội là người đại diện cho nhân dân
tạo), Ông Phùng Quang Thanh (Bộ trưởng Bộ Quốc phòng), Ông Lê Hồng Anh (Bộ trưởng Bộ Công an), Ông
Nguyễn Xuân Phúc (Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ), Ông Trần Văn Tuấn (Bộ trưởng Bộ Nội
vụ), Ông Hà Hùng Cường (Bộ trưởng Bộ Tư pháp), Ông Võ Hồng Phúc (Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư), Ông
Vũ Văn Ninh (Bộ trưởng Bộ Tài chính), Ông Vũ Huy Hoàng ( Bộ trưởng Bộ Công thương), Ông Cao Đức Phát
(Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), Ông Hồ Dũng Nghĩa (Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải),
Ông Nguyễn Hồng Quân (Bộ trưởng Bộ Xây dựng), Ông Phạm Khôi Nguyên (Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường), Ông Lê Doãn Hợp (Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông), Bà Nguyễn Thị Kim Ngân (Bộ
trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội), Ông Hoàng Tuấn Anh (Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du
lịch), Ông Hoàng Văn Phong (Bộ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ), Ông Nguyễn Quốc Triệu (Bộ trưởng Bộ
Y tế), Ông Giàng Seo Phử (Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc), Ông Nguyễn Văn Giàu (Thống đốc Ngân
hàng nhà nước), Ông Trần Văn Truyền (Tổng Thanh tra Chính phủ)
− Chánh án Tòa án nhân dân tối cao: Ông Trương Hòa Bình
− Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Ông Trần Quốc Vượng.