LUẬN văn LUẬT HÀNH CHÍNH NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG đào tạo, bồi DƯỠNG cán bộ, CÔNG CHỨC THỰC TIỄN tại TRƯỜNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ cần THƠ - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên khóa: 2008 – 2012

ĐỀ TÀI

NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC - THỰC TIỄN TẠI
TRƢỜNG CHÍNH TRỊ TP. CẦN THƠ

Giáo viên hƣớng dẫn:
Th.s Võ Duy Nam

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Kim Nhung
MSSV: B080323
Lớp: Luật Hành chính K34

Cần Thơ, tháng 8/2011


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU------------------------------------------------------------------Chƣơng 1: Lý luận chung về cán bộ, công chức và chất lƣợng đào
tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức-------------------------------------------1.1. Khái quát chung về cán bộ, công chức ở Việt Nam--------------------------1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức--------------------------------------------1.1.2 Phân loại cán bộ, công chức----------------------------------------------------1.1.3 Nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức--------------------------------

1.1.4 Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức-------------------------------1.2. Những vấn đề cơ bản về đào tạo và chất lượng đào tạo------------------------------

1.2.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,

19
21
21
24


trường Chính trị thành phố Cần Thơ------------------------------------------------Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đào
tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ, công chức tại trƣờng chính trị TP. Cần
Thơ -------------------------------------------------------------------------------------3.1. Phương hướng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức --------------------------------------------------------------------------------------

38
38

3.1.1 Định hướng nâng cao chất lượng cán bộ, công chức -----------------3.1.2 Định hướng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức ở thành phố Cần Thơ------------------------------------------------------------

38

3.1.3 Một số kiến nghị về chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức--3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

39

đang được đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị TP Cần Thơ----------------

40

38

3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm cải thiện điều kiện khách quan ảnh hưởng

qua đào tạo, bồi dưỡng, trình độ học vấn thấp, chưa được trang bị về lý luận
chính trị, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin vào công việc còn hạn chế...
Chính vì vậy, việc tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng là nhiệm vụ
thiết thực, đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá cán bộ, nâng cao chất lượng cán bộ,
công chức trong cả nước nói chung và ở thành phố Cần Thơ nói riêng “nhằm
từng bƣớc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, đảng
viên, trƣớc hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở có bản lĩnh chính
trị vững vàng, có trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý và kỹ năng, nghiệp vụ tổ
chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó ở địa
phƣơng,cơ sở” theo Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 03/9/2008 của Ban Bí
thư Trung ương Đảng (khóa X). Đây cũng chính là lý do mà người viết chọn
đề tài “Nâng cao chất lƣợng đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức - thực
tiễn tại trƣờng Chính trị TP. Cần Thơ làm luận văn tốt nghiệp của mình, với
mong muốn góp phần phục vụ trực tiếp cho việc nâng cao chất lượng đào tạo,
bồi dưỡng của Trường Chính trị thành phố Cần Thơ.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm là rõ trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ,
công chức hiện tại của cả nước nói chung và của thành phố Cần Thơ nói riêng
từ đó có phương hướng và giải pháp tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng
học viên là cán bộ, công chức đang học tại Trường Chính trị TP. Cần Thơ.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là vấn đề mà Đảng và
Nhà nước ta rất quan tâm, vì thế khi nghiên cứu đề tài nội dung mà em nghiên
cứu là:


- Những vấn đề chung về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
- Khái quát lên thực trạng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thực
tiễn tại trường Chính trị TP. Cần Thơ.
- Từ đó nêu lên phương hướng và giải pháp nhằm để tăng cường công

hình thành từ rất lâu và qua mỗi thời kỳ khác nhau thì có khái niệm khác nhau
về công chức, điển hình:
- Trong công cuộc đấu tranh giành độc lập thống nhất đất nước và đi lên
chủ nghĩa xã hội, có lẽ thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng rất sớm và phổ biến
nhất. Hình tượng “người cán bộ Cách mạng” kiên cường, anh dũng, bất khuất
sẵn sàng hy sinh vì độc lập của tổ quốc, vì tự do của nhân dân đã đi vào lòng
người với bao sự kính yêu, ngưỡng mộ. Do vậy, lúc đầu quan niệm về cán bộ
có thể được hiểu là những người tham gia cách mạng dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam để đấu tranh giành chính quyền từ tay thực dân Pháp
và triều đình nhà Nguyễn.
- Từ khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, lập lên nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay quan niệm về cán bộ, công chức đã trãi
qua nhiều giai đoạn phát triển có những nội dung và phạm vi khác biệt. Điều
này chứng tỏ các thuật ngữ trên ngoài tính khoa học còn chịu sự tác động của
xu hướng chính trị trong từng thời kỳ cách mạng. Cho đến Hiến pháp 1992, thì
thuật ngữ cán bộ, viên chức được sử dụng phổ biến như quy định: “... cán bộ,
viên chức phải tôn trọng nhân dân ..” và “Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn
... đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước ...”(1).
- Thực trạng trong những năm qua, sự hình thành đội ngũ cán bộ, công
chức ở nước ta từ nhiều nguồn, bằng nhiều con đường như: bầu cử, phân công
sau khi tốt nghiệp các chương trình đào tạo, tuyển dụng, đề bạt. Phạm vi cán
bộ rất rộng, đội ngũ không ổn định, luôn có sự điều đồng, thuyên chuyển nơi
này sang nơi khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, mang tính đối phó chắp
vá không kế hoạch. Từ đó việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, đề bạt
đánh giá cán bộ không dựa vào tiêu chí chuyên môn nghiệp vụ dẫn đến khó
khăn trong việc ổn định và phát triển đất nước.
- Trên tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Ủy ban
Thường
(1)


hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà
nước, tổ chức.
g) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ
trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân; Bí thư, Phó Bí thư
Đảng uỷ; người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã,
phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
h) Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Đến nay theo Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 thì
1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước.
2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân


chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp
công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công
chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương
được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của
pháp luật.
3. Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân


cụ thể nhằm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước nói
chung, của hệ thống hành chính nói riêng trong cả nước.
1.1.2 Phân loại cán bộ, công chức:
Cán bộ, công chức được phân loại như sau (2):
 Phân loại theo trình độ đào tạo:
a) Công chức loại A là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ
đào tạo chuyên môn giáo dục đại học và sau đại học;
b) Công chức loại B là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ
đào tạo chuyên môn giáo dục nghề nghiệp;
c) Công chức loại C là người được bổ nhiệm vào ngạch yêu cầu trình độ
đào tạo chuyên môn dưới giáo dục nghề nghiệp.
 Phân loại theo ngạch công chức:
a) Công chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương trở lên;
b) Công chức ngạch chuyên viên chính và tương đương;
c) Công chức ngạch chuyên viên và tương đương;
d) Công chức ngạch cán sự và tương đương;
đ) Công chức ngạch nhân viên và tương đương.
 Phân loại theo vị trí công tác:
a) Công chức lãnh đạo, chỉ huy;
b) Công chức chuyên môn, nghiệp vụ.
1.1.3 Nghĩa vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức:
Về nghĩa vụ của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ:
(2)

Điều 4 Nghị định của Chính phủ số 117/2003/NĐCP ngày 10/10/2003 về tuyển dụng, sử dụng cán
bộ, công chức trong cơ quan nhà nước.

Cán bộ, công chức phải “Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về
kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc giao”(3).

xây dựng đường lối sẽ đúng đắn, đó là điều kiện đưa sự nghiệp cách mạng đi
đến thắng lợi.
Tóm lại, cán bộ, công chức có vai trò quyết định trong sự nghiệp phát
triển đất nước. Chính vì vậy, công tác giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng mang ý
nghĩa rất thiết thực nhằm từng bước nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị, phẩm
chất cách mạng, trình độ trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn của cán bộ,
công chức của nước ta hiện nay.
(3)

khoản 1 Điều 9 luật Cán bộ, công chức 2008 đã quy định cán bộ, công chức

(4)

khoản 4 Điều 11 luật Cán bộ, công chức 2008 về quyền của cán bộ, công chức

(5)

Điều 12 và Điều 13 luật Cán bộ, công chức 2008

(6)

Điều 14 luật Cán bộ, công chức 2008

1.2. Đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức:
1.2.1 Khái niệm “đào tạo, bồi dưỡng” cán bộ, công chức:
“Đào tạo” và “bồi dƣỡng” được hiểu như sau: “Đào tạo” là quá trình
truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của
từng cấp học, bậc học. Còn “Bồi dƣỡng” là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng
cao kiến thức, kỹ năng làm việc (7).
Đào tạo cán bộ, công chức có tính đặc thù so với đào tạo nguồn nhân lực

(7)

Điều 5 Nghị định của Chính phủ số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 về đào tạo, bồi
dưỡng công chức

1.2.2 Đánh giá sơ bộ về năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức:
Để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực
phục vụ cho tiến trình cải cách hành chính nhằm góp phần đắc lực vào sự
nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cần hướng tới mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài. Trước hết, phải xác định năng
lực của đội ngũ cán bộ, công chức hiện có. Vấn đề cần quan tâm là năng lực
được hiểu như thế nào và làm thế nào để đánh giá đúng năng lực của cán bộ,
công chức.
Năng lực được hiểu là khả năng làm việc tốt; chỉ mức độ hoàn thành tốt
công việc nào đó. Một người bình thường đều có năng lực suy nghĩ, phẩm chất,


tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành tốt công việc nào đó
với chất lượng cao (8).
Ngoài ra, năng lực là “khả năng về thể chất và trí tuệ của cá nhân con
người, hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức, tự tạo lập và thực hiện được
hành vi xử sự của mình đề ra hoặc do nhà nước hay chủ thể khác ấn định với
kết quả tốt nhất” (9).
* Tiêu chí đánh giá năng lực:
+ Về trình độ đào tạo: là kết quả của quá trình giáo dục và đào tạo trong
nhà trường. Quá trình giáo dục và đào tạo trong nhà trường cung cấp cho con
người những kiến thức và kinh nghiệm xã hội. Trình độ đào tạo, với tư cách là
kết quả của quá trình đào tạo tại nhà trường được thể hiện thông qua hệ thống
văn bằng, chứng chỉ của cá nhân.

hơn. Ý thức trách nhiệm đối với công việc của người cán bộ, công chức là yếu
tố quan trọng nhằm kết nối các yếu tố về trình độ, kỹ năng, thái độ hành vi và
kinh nghiệm thành một hệ thống năng lực thực sự của cá nhân.


Tóm lại, Năng lực cá nhân có thể thay đổi, phát triển nếu được khai thác,
sử dụng hợp lý và sẽ được phát triển đến mức độ cao nếu mỗi cá nhân được
đào tạo, bồi dưỡng và tạo điều kiện thuận lợi.
Những yếu tố đánh giá năng lực đội ngũ cán bộ, công chức
Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu chung đối với tất cả cán bộ, công
chức phải có khả năng thích ứng với công cuộc đổi mới, đáp ứng nhu cầu thực
tiễn. Đánh giá năng lực đội ngũ cán bộ, công chức cần xem xét qua các yếu tố
sau:
Thứ nhất, việc đánh giá năng lực cán bộ, công chức cần dựa vào kết quả
công việc. Đây là nguyên tắc, là phương pháp chung để đánh giá chất lượng
hoạt động của mỗi cán bộ, công chức cũng như đội ngũ cán bộ, công chức. Tuy
nhiên, khi đi vào từng trường hợp cụ thể cần dựa vào trình độ đào tạo, kỹ năng
nghề nghiệp, thái độ hành vi và kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân.
Thứ hai, sự phù hợp giữa năng lực và yêu cầu công việc. Cần phải xem
xét công việc của cơ quan cũng như nhiệm vụ được giao cho từng cá nhân có
phù hợp hay không. Mức độ phù hợp giữa đối tượng và yêu cầu công việc là
yếu tố đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả công việc, là tiêu
chuẩn cao nhất trong đánh giá năng lực cán bộ, công chức.
Thứ ba, trình độ hiện có của đội ngũ cán bộ, công chức: Ngày nay với
sự phát triển của khoa học công nghệ, yêu cầu người cán bộ, công chức phải có
trình độ chuyên môn nghiệp vụ theo tiêu chuẩn chức danh của cán bộ, công
chức và cả kiến thức pháp luật, về quản lý hành chính nhà nước, quản lý kinh
tế, lý luận chính trị, sử dụng tin học, … mới có thể hoàn thành tốt công việc
được giao.
Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 đã xác định tiêu chí để đánh giá

bố trí đúng theo chức năng, nhiệm vụ dẫn đến tình trạng học đối phó, học để
lấy bằng về hợp thức hóa cơ quan, rất ít trường hợp học với tâm huyết, học để
phục vụ cho Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Bên cạnh đó, phong trào thực hiện cuộc vận động “học tập và làm theo
tấm gương đạo đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi vào chiều sâu và rộng.
Vấn đề đạo đức phẩm chất của người cán bộ, công chức rất quan trọng. Tuy
nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ, công chức tha hóa đạo đức, có thái độ lệch
lạc, hành vi xem nhẹ, coi thường các giá trị truyền thống đạo lý, do đó, đánh
mất nhân phẩm, danh dự của chính mình, sống buông thả chạy theo lối sống
thực dụng. Làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; làm cho
những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước khó thực hiện được. Một
trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do ý thức pháp luật của
một bộ phận cán bộ, công chức chưa được trang bị kiến thức về lý luận chính
trị, tư tưởng đạo đức(11).

(11)

Trích từ bài “Những yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của
Đảng và Đoàn thể thành phố Cần Thơ đến năm 2020 của Lê Phú Hào-Phó Ban tổ chức Thành ủy.

1.2.4 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức:
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Học để làm việc, làm ngƣời,
làm cán bộ, học để phục sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và Nhân
loại (12). Tuy nhiên, qua tổng kết quá trình học tập của các khóa học thời gian
qua tại trường Chính trị đã bộc lộ đối tượng người học chưa xác định đúng
mục đích, động cơ học tập, vẫn còn tồn tại tư tưởng “Học để có bằng cấp, để
chuẩn hóa”, “học cho có, thi cho qua” ... đây là một trong những nguyên nhân
dẫn đến hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Do đó,
muốn nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng thì phải làm sao cho đối tượng


Chƣơng 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC – THỰC TIỄN TẠI TRƢỜNG CHÍNH TRỊ TP. CẦN
THƠ
2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về đào tạo, bồi dƣỡng cán
bộ, công chức:
2.1.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Trong công cuộc đổi mới đất nước cùng tiến trình hội nhập quốc tế đặt
ra yêu cầu to lớn và bức bách về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở tất cả
các cấp là phải có đủ phẩm chất, năng lực góp phần đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của sự nghiệp xây dựng đất nước trong thời kỳ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh


quan niệm “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và Người khẳng định “công
việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Không có đội ngũ
công chức tốt thì dù đường lối, chính sách đúng đắn cũng khó có thể thực hiện
được. Cán bộ, công chức là chiếc cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân,
giữa Trung ương và địa phương. Cán bộ, công chức dù ở bất kỳ cấp nào cũng
đều thực thi pháp luật, đưa pháp luật đi vào cuộc sống nhân dân. Do đó, Cán
bộ, công chức tốt, uy tín Nhà nước được tăng cao, thu hút người dân tích cực
thực hiện quyền và nghĩa vụ, quản lý đạt được hiệu quả và ngược lại.
Theo Người, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cần hướng
tới các mảng nghề nghiệp chuyên môn, chính trị, trình độ lý luận; cụ thể:
+ Trước hết, về huấn luyện nghề nghiệp, để đào tạo, bồi dưỡng có hiệu
quả thiết thực thì phải thực hành khẩu hiệu: “Làm việc gì học việc nấy”; việc
huấn luyện nghề nghiệp đòi hỏi phải hướng vào kiến thức chuyên môn, mang
tính nghiệp vụ chuyên ngành và từ đó áp dụng những kỹ năng đó vào giải
quyết những vấn đề thực tiễn trước mắt.
+ Về huấn luyện chính trị: Người quan niệm phải tập trung nâng cao

khai tốt và thực hiện có hiệu quả.
Thứ hai, nhằm giải quyết công việc đạt được năng suất và hiệu quả trong
điều kiện, môi trường luôn vận động, đổi mới thì ngoài việc trau dồi kiến thức
chuyên môn, người cán bộ, công chức còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng
và kiến thức về quản lý nhà nước.
Thứ ba, đội ngũ công chức trong cơ quan hành chính các cấp phải được
trang bị những kiến thức mới về quản lý nhà nước, về pháp luật, kỹ thuật và
nghiệp vụ hành chính.
Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một nhu cầu thiết
thực nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực của nguồn nhân lực; bảo
đảm tính đồng bộ, tính kế thừa, từng bước chuẩn hóa và trẻ hóa đội ngũ cán bộ,
công chức, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, điều hành của chính quyền các
cấp trong từng thời kỳ.
2.2 Cơ sở pháp lý đối với công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công
chức trong thời gian qua
2.2.1 Cơ sở pháp lý đối với công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công
chức trong cả nƣớc:
Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi
trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Người yêu cầu “Đảng phải nuôi dạy
cán
bộ, nhƣ ngƣời làm vƣờn vun trồng những cây cối quý báu” (15). Bước vào thời kỳ
đổi mới, nhất là từ khi thực hiện Chiến lược cán bộ theo tinh thần Nghị quyết
Trung ương 3 (khoá VIII), công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được quan tâm
đặc biệt và dần đi vào nền nếp. Tại Hội nghị lần thứ 9 BCHTW Đảng khóa X,
Đảng ta đã chỉ rõ: “Nâng cao chất lƣợng công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi
dƣỡng cán bộ theo quy hoạch, theo tiêu chuẩn chức danh cán bộ, coi đây là giải
pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiến lƣợc cán bộ trong giai đoạn
mới”(16). Để thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, tại Đại hội XI, Đảng ta tiếp tục khẳng định chủ trương “nâng cao
chất lƣợng công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, khắc phục tình trạng chạy theo


) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị TW 9 (khoá X), Nxb. CTQG, H, 2009, tr.249-250.

(17)

ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. CTQG, H, 2011, tr.261.

(18)

khoản 1, 2 Điều 48 – luật cán bộ, công chức.

(19)

khoản 1 Điều 49 – luật cán bộ, công chức.

công chức giai đoạn 2011-2015 “Góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức chuyên nghiệp, vững vàng về chính trị, tinh thông nghiệp vụ có đủ năng
lực xây dựng hệ thống chính trị, nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa tiên
tiến, hiện đại”.
Hiện tại, cả nước đã hình thành một hệ thống các trường đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức tương đối hoàn chỉnh gồm: Học viện Chính trị-Hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh; mỗi tỉnh, thành phố đều có trường chính trị và
mỗi huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh có 1 trung tâm bồi dưỡng chính trị, hầu hết
được đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học.
2.2.2 Cơ sở pháp lý đối với công tác đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công
chức tại thành phố Cần Thơ
Trên cơ sở Luật cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008, Nghị
định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo,
bồi dưỡng công chức; Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25 tháng 01 năm
2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số

bồi dưỡng cán bộ, công chức của bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức
đoàn thể các cấp. Trường chính trị thành phố Cần Thơ thời gian qua đã nỗ lực
không ngừng để nâng cao chất lượng đào tạo theo tinh thần Quyết định số 184QĐ/TW ngày 03/9/2008 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) “nhằm
từng bƣớc nâng cao chất lƣợng, hiệu quả đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, đảng viên,
trƣớc hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở có bản lĩnh chính trị
vững vàng, có trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý và kỹ năng, nghiệp vụ tổ
chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó ở địa
phƣơng,cơ sở”; điển hình như sau:
2.2.3.1 Tổng quan về trường Chính trị TP. Cần Thơ
+ Thực hiện Nghị quyết số 22/2003/QH XI của Quốc hội nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (ngày 26-11-2003) và Nghị định số 05/2004/NĐCP (ngày 02-01-2004) của Thủ tướng Chính phủ về việc chia tách tỉnh Cần
Thơ thành đơn vị mới: Thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương và lập mới
tỉnh Hậu Giang.


Căn cứ Quyết định số: 07/QĐ-TU, ngày 03 tháng 01 năm 2004 của Ban
Thường vụ Thành ủy Cần Thơ, về việc thành lập Trường Chính trị TP. Cần
Thơ và quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Trường.
* Vị trí:
- Trường Chính trị TP. Cần Thơ là một đơn vị sự nghiệp trực thuộc
Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố có vị trí như một Ban ngành cấp
thành phố. Về nghiệp vụ Trường chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn của Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Học viện Hành chính Quốc gia.
+ Thành ủy quyết định về tổ chức bộ máy biên chế, chính sách đối với
cán bộ học viên của Trường; lãnh đạo, chỉ đạo nội dung, quy hoạch, kế hoạch
đào tạo bồi dưỡng cán bộ.
+ Ủy ban nhân dân thành phố quản lý, hướng dẫn quy chế đào tạo, kế
hoạch ngân sách, kinh phí đào tạo, cơ sở vật chất và các nhu cầu hoạt động
khác của Trường.
* Chức năng, nhiệm vụ của Trường Chính trị TP Cần Thơ

nước.
5. Có khả năng sư phạm.
6. Có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ.
Tùy theo chức năng của từng khoa thì có tiêu chuẩn riêng đối với đội
ngũ giảng viên ở khoa đó.
Hiện tại, Trường chính trị TP. cần thơ có tổng số 63 người, trong đó biên
chế là 45 người; có 20 giảng viên thuộc 06 khoa trực tiếp đứng lớp (kể cả Ban
Giám hiệu). Giảng viên có trình độ tiến sỹ: 02; giảng viên có trình độ thạc sỹ là
13; giảng viên có trình độ cử nhân là 5).
Đối trượng đào tạo, bồi dưỡng của trường là cán bộ chủ chốt ở cơ sở, là
những người có vốn sống thực tiễn, có kinh nghiệm là việc. Do đó, đòi hỏi lực
lượng giảng viên không những nắm vững lý luận chính trị mà còn phải có lý
luận thực tiễn đời sống mới có thể đáp ứng nhu cầu càng cao của học viên. Ý
thức được điều đó, lãnh đạo trường rất quan tâm tạo điều kiện cho giảng viên
đi học nâng cao trình độ. Hiện tại, có một giảng viên chuẩn bị đi học thạc sỹ ở
nước ngoài, 03 giảng viên đang học thạc sỹ, 05 giảng viên đang học đại học
văn bằng 2. Hàng năm, trường đều tổ chức cho giảng viên đi nghiên cứu thực
tế ở nước ngoài (phối hợp với Học viên chính trị Quốc gia); giảng viên các
khoa đều đi tham quan một số trường bạn trong cả nước nhằm mở rộng tầm
nhìn, trau đổi và học tập kinh nghiệm lẫn nhau; đi nghiên cứu thực tế ở các
quận, huyện trong thành phố.
* Đối tượng học viên (23):
a) Học viên học các lớp trung cấp tập trung:
- Là cán bộ Đảng, chính quyền đoàn thể trong quy hoạch đào tạo, có
năng lực học tập, rèn luyện để trở thành cán bộ lãnh đạo chính trị chủ chốt cấp
cơ sở, Trưởng, Phó phòng ban quận, huyện, thị xã; Trưởng, Phó phòng, ban
thuộc sở, ban ngành của tỉnh, thành phố.
- Có trình độ văn hóa tốt nghiệp phổ thông trung học hoặc tương đương
trở lên.
- Có đủ sức khỏe để học tập.

* Hình thức đào tạo tại trường Chính trị:
- Hình thức đào tạo tập trung:
Học viên học tập trung theo học kỳ tại trường đến hết thời gian đào tạo
theo quy định.
- Đào tạo tại chức:
Tùy theo nội dung chương trình mỗi môn học dài hay ngắn mà học viên
tập trung học từ 01 hoặc 02 tuần mỗi tháng tại trường.
- Đào tạo “Hiệp quản”:


Thực chất của hình thức đào tạo này là liên kết với các Trung tâm bồi
dưỡng chính trị quận, huyện. Học viên ở quận, huyện nào thì học ở tại trung
tâm quận, huyện đó. Đây là hình thức có hiệu quả hiện nay vì nó kết hợp yêu
cầu nâng cao trình độ và điều kiện công tác, đi lại và ăn ở của cán bộ, công
chức và cán bộ chính quyền cơ sở.
Trên cơ sở Điều 4 Nghị định 161/2003/QĐ-TTg ngày 04/08/2003 của
Thủ tướng Chính phủ ban hành chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng rất
cụ thể căn cứ vào tiêu chuẩn, chức danh cán bộ, công chức. Để nội dung
chương trình đào tạo có cấu trúc hợp lý giữa các thành phần kiến thức lý luận
chính trị, quản lý nhà nước, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, có tính thiết thực
trong công việc hàng ngày. Học viện Chính trị-hành chính Quốc gia đã chú
trọng đến công tác biên soạn chương trình, giáo trình để phù hợp với đối tượng
cán bộ, công chức cho từng địa bàn khác nhau kết hợp với việc giao lưu, mở
rộng hợp tác với nhiều nước có nền hành chính phát triển về lĩnh vực đào tạo
cán bộ, công chức để đưa những luận cứ sát đáng hay những kinh nghiệm thực
tiễn vào giáo trình giúp cho công tác đào tạo, bồi dưỡng có hiệu quả hơn.

(23), (24) và (25)

Quyết định số 268/QĐ-HVCT-HCQG, ngày 03 tháng 02 năm 2010 của Giám đốc Học

Bên cạnh đó, tùy theo từng lớp mà trường có chương trình đào tạo cụ thể
dựa trên kế hoạch số 04/KH-UBND ngày 27/01/2011 của UBND TP. Cần Thơ
về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và kế hoạch giảng dạy của Trường
Chính trị TP. Cần Thơ năm 2011 triển khai các chương trình, cụ thể như
sau(26):
+ Chương trình trung cấp lý luận chính trị:
Chương trình này gồm 12 học phần với 2530 tiết, trong đó có 866 tiết về
quản lý nhà nước do học viện Hành chính biên soạn chiếm 1/3 tổng số tiết
chương trình. Đây là chương trình đào tạo tổng hợp cho cán bộ đảng và chính
quyền cơ sở
(25)

Quyết định số 484/2002/QĐ-HVCTQG về chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo Đảng, Chính
quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở hệ trung cấp

nắm vững kiến thức lý luận chính trị và kiến thức quản lý nhà nước có trong hệ
thống và tương đối đầy đủ đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thời gian đào tạo: 12 tháng
+ Chương trình trung cấp Hành chính:
Nội dung chương trình được bố trí thành 20 môn học hoàn chỉnh được
thực hiện trong 2 năm. Người học không những được trang bị những lý luận cơ
bản về chính trị, triết học, kinh tế và điều quan trọng là học kỹ về chuyên môn
nghiệp vụ hành chính đủ để giải quyết các tình huống cụ thể khi thi hành công
vụ.
Thời gian đào tạo: 24 tháng
+ Chương trình trung cấp lý luận chính trị - hành chính:
Dựa trên chương trình trung cấp lý luận chính trị và thêm 3 học phần của
quản lý nhà nước: nhằm giúp cho học viên cả về chính trị lẫn ngạch.
Thời gian đào tạo: 24 tháng
+ Chương trình bồi dưỡng chuyên viên: gồm 24 chuyên đề và phần

Trung bình

2009-2010

0

2 (3,9%)

49 (96,1%)

95

2009-2010

2 (2,1%)

29
(30,52%)

64
(67,36%)

69

2009-2010

4 (5,79%)

14
(20,28%)

tổng đội ngũ có trình độ trung cấp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status