TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KHOÁ 30
(2004 – 2008)
Đề tài:
CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG
TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VÀ GIÁ TRỊ
Trung tâm Học liệu ĐH CầnĐƯƠNG
Thơ @ Tài
liệu học tập và nghiên cứu
ĐẠI
Giảng viên hướng dẫn:
Ths:Võ Duy Nam
Sinh viên thực hiện:
Tô Thanh Tú
MSSV: 5044080
Lớp: Luật Thương mại 30
Cần Thơ, 5/2008
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
LỜI NÓI ĐẦU
----oOo---1. Tính cấp thiết của đề tài
viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, các báo của trung ương và địa phương.
Tuy nhiên, như thế cũng chưa đủ để xây dựng những chế định luật nhằm xử lý một
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 1
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
cách triệt để vấn nạn này. Chính vì vậy, nghiên cứu cách phòng, chống tham nhũng
luôn luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong tiến trình lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước kinh nghiệm
phòng, chống tham nhũng trong các triều đại phong kiến có một giá trị tham khảo
vô cùng to lớn, đặc biệt là Quốc triều hình luật, bộ luật hình tiến bộ nhất trong chế
độ phong kiến, vấn đề phòng, chống tham nhũng có một giá trị đương đại hết sức
quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm nhất hiện nay trong quá trình hội
nhập kinh tế Quốc tế. Trên cơ sở đó, tìm ra các giải pháp để hạn chế tham nhũng
cũng như xây dựng một cơ chế thực hiện pháp luật về chính sách phòng, chống
tham nhũng được hoàn thiện hơn. Đây cũng chính là lý do Tôi chọn đề tài này làm
trọng tâm nghiên cứu.
2. Phạm vi nghiên cứu
Do hạn chế về nguồn tài liệu nghiên cứu cũng như kiến thức pháp luật về
lĩnh vực có liên quan đến đề tài tham nhũng cho nên trong đề tài này Tôi chỉ tập
trung nghiên cứu về vấn đề chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều
hình luật và so sánh với pháp luật hiện hành để thấy được giá trị đương đại của
chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình luật hiện nay.
luật và giá trị đương đại.
Chương 3: Những giá trị đương đại và bài học phòng, chống tham
nhũng ngày nay.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 3
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THAM NHŨNG VÀ CHÍNH SÁCH
PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG
1.1 Khái niệm chung về tham nhũng
1.1.1 Khái niệm
Tham nhũng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà
nước và tồn tại song song cùng với sự phát triển của Nhà nước. Lịch sử Nhà nước
từ khi xuất hiện đến nay cho thấy, tham nhũng như một khuyết tật bẩm sinh của
“quyền lực”, là một loại tội phạm cực kỳ nguy hiểm bởi tính chất và hậu quả của nó
gây ra. Cho nên, tham nhũng được coi như là một “quốc nạn”cần phải chủ động
phòng ngừa và kiên quyết trừng trị bằng nhiều biện pháp mạnh mẽ để răng đe. Vì
vậy, để phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tham nhũng đòi hỏi chúng ta phải
hiểu rõ tham nhũng là gì? Những đặc điểm nhận dạng những hành vi tham nhũng,
nguyên nhân và hậu quả do nó gây ra…Trong đó, việc xác định chính xác khái niệm
hội, tập thể và công dân. Nhà nước ở đây được hiểu bao gồm cả các tổ chức đoàn
(1)
(2)
Nguồn: Từ điển Anh - Việt, Nxb. TP. Hồ Chí Minh – 1997, tr. 210.
Từ điển tiếng Việt – Nxb. Đà Nẵng – 1998, tr. 878.
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 4
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
thể, tổ chức xã hội. Chủ thể của những hành vi tham nhũng có thể là cá nhân, một
nhóm người, có thể là một tập đoàn người của một đơn vị.
Tham nhũng được biểu hiện cụ thể bằng những hành vi:
- Tham ô;
- Hối lộ, nhận hối lộ;
- Làm trái chính sách, trái quy định của Nhà nước để trục lợi.
Từ những hành vi trên, ta có thể mạnh dạn đưa ra khái niệm “tham nhũng”
như sau: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng
chức vụ, quyền hạn đó để tham ô, hối lộ, nhận hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì
động cơ vụ lợi, gây thiệt hại tài sản của Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm
hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức, công chức nhà nước”. Còn theo Luật
phòng, chống tham nhũng vừa được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm
2005 tại Điều 1 khoản 2 thì: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền
hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.
của tham nhũng như sau:
- Về chủ thể: Chủ thể của tham nhũng phải là những người có chức vụ,
quyền hạn hay có trách nhiệm trong việc quản lý một số công việc cụ thể như: làm
việc trong bộ máy Nhà nước, bộ máy của Đảng chính trị, trong bộ máy của các tổ
chức kinh tế Nhà nước hay tư nhân (nếu hiểu tham nhũng theo nghĩa rộng).
- Về mặt hành vi: Tham nhũng được thể hiện bằng cách người thực hiện
hành vi lợi dụng chức vụ, quyền lực, lợi dụng nhiệm vụ, trọng trách cũng như vị trí,
địa vị công tác mà mình được giao phó để không làm hoặc làm trái với những
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 5
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
nguyên tắc quản lý Nhà nước, trái với nội dung công việc được giao, gây thiệt hại
đến lợi ích chung của Nhà nước, xã hội, các tổ chức và công dân.
- Về mặt động cơ, mục đích: Thể hiện ở chỗ vụ lợi cá nhân cho bản thân, cho
nhóm mang tính tập thể hoặc cho những người khác, sự vụ lợi cá nhân về vật chất
có thể được hưởng ngay nhưng cũng có thể phải qua khâu trung gian, hoặc là
chuyển vụ lợi cá nhân cho người thân. Những đặc điểm trên ngoài tác dụng giúp
chúng ta nhận diện những hành vi tham nhũng còn là yếu tố trong cấu thành tội
phạm hình sự để xử lý nhũng hành vi tham nhũng.
1.1.3 Nguồn gốc của tham nhũng
Tham nhũng xuất hiện từ rất sớm từ khi có sự phân chia quyền lực và hình
thành nhà nước. Có ý kiến cho rằng tham nhũng bắt nguồn từ nền văn hóa độc tài đề
cao cá nhân, coi trọng biếu xén. Ý kiến khác cho rằng: xã hội thay đổi các chuẩn
mực về đạo đức, xã hội biến đổi liên tục, nền kinh tế biến đổi mạnh sinh ra tham
hội bắt đầu có giai cấp, Nhà nước. Như vậy là trong chế độ xã hội cộng sản nguyên
thủy không có hiện tượng tham nhũng.
Lịch sử loài người đã trải qua ba lần phân công lao động xã hội lớn, mà mỗi
lần xã hội lại có những bước tiến mới làm sâu sắc thêm quá trình tan rã của chế độ
cộng sản nguyên thủy. Sau lần phân công lao động xã hội đầu tiên – chăn nuôi tách
ra khỏi trồng trọt thành một ngành kinh tế độc lập thì những mầm mống đầu tiên
của chế độ tư hữu xuất hiện, xã hội đã phân chia thành người giàu, người nghèo.
Đến lần phân công lao động thứ hai - thủ công nghiệp tách ra khỏi nông nghiệp, nô
lệ đã trở thành bộ phận cấu thành chủ yếu của hệ thống xã hội và lần phân công lao
động thứ ba – ngành thương nghiệp phát triển, xuất hiện tầng lớp thương nhân.
Những thay đổi trên đã làm đảo lộn đời sống thị tộc, chế độ thị tộc đã tỏ ra bất lực,
những xung đột về lợi ích giữa các giai cấp, giữa người giàu và kẻ nghèo diễn ra
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 6
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
gay gắt. Xã hội đòi hỏi cần phải có một tổ chức mới đủ sức mạnh để giải quyết
những mâu thuẫn, xung đột đó, tổ chức đó chính là Nhà nước. Nhà nước ra đời cùng
với bộ máy của nó đã kịp thời giải quyết những mâu thuẫn, xung đột nhưng cũng từ
trong bộ máy của nó đã kế thừa những mầm mống tham nhũng manh nha từ thời thị
tộc, bộ lạc giờ trở thành căn bệnh tham nhũng tồn tại song song và gắn liền với bộ
máy Nhà nước.
Tham nhũng là căn bệnh muôn thuở, căn bệnh ung thư của mọi Nhà nước.
Cội nguồn của nó chính là ở thuộc tính tự nhiên của con người kết hợp cùng với
những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định đó là các xã hội có giai cấp và Nhà nước.
của Nhà nước và tồn tại song song cùng với sự phát triển của Nhà nước, do đó nó sẽ
tiêu vong cùng với sự tiêu vong của Nhà nước. Tức là khi xã hội không còn giai cấp
và đấu tranh giai cấp đó là xã hội Cộng sản chủ nghĩa. Khi đó con người “Làm việc
theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” thì nguồn gốc tự nhiên và xã hội của tham
nhũng sẽ không còn.
1.1.3.2 Nguồn gốc kinh tế - chính trị - xã hội của tham nhũng hiện đại
Mặc dù là một hiện tượng muôn thuở, tham nhũng ở mỗi triều đại, mỗi thời
đại lịch sử, chịu tác động của những nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội khác nhau.
Để chống tham nhũng có hiệu quả cần phải dựa trên cơ sở phân tích khoa học
những nhân tố đó. Dưới đây là những phân tích sơ bộ về nguồn gốc kinh tế - chính
trị - xã hội của tham nhũng hiện đại:
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 7
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
- Về mặt kinh tế: Tham nhũng là hậu quả của môi trường kinh tế thiếu minh
bạch. Môi trường kinh tế thiếu minh bạch là mảnh đất tốt cho các hành vi tham
nhũng sinh sôi nảy nở. Điều này lý giải tại sao tham nhũng tại các nước đang phát
triển trầm trọng hơn nhiều so với các nước phát triển, nơi có môi trường kinh tế
minh bạch hơn. Tại những nước có môi trường kinh tế kém minh bạch, việc trốn
thuế diễn ra tràn lan, lý do đơn giản là tại đó hành vi này dễ dàng thực hiện trót lọt
hơn tại các quốc gia khác. Trong môi trường kinh tế thiếu minh bạch, sự can thiệp
thái quá và nhiều khi thô bạo của các cơ quan Nhà nước vào hoạt động kinh doanh
làm méo mó các quan hệ kinh tế - xã hội. Đó là tình trạng tốt tạo điều kiện thuận lợi
Trang 8
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
quan trọng của nó được trả lương quá thấp so với nhu cầu tối thiểu của cuộc sống.
Thể chế bất hợp lý đã buộc nhiều người phải tham nhũng để sống và tồn tại.
- Về mặt pháp luật: Tham nhũng là kết quả của tình trạng các quyền và lợi
ích cá nhân bị hạn chế hoặc chưa được hợp pháp hoá. Tình trạng nhiều quyền lợi
chính đáng của cá nhân không được hợp pháp hoá hoặc bị hạn chế như chúng ta có
thể quan sát thấy tại nhiều quốc gia chậm phát triển. Điều này trên thực tế đã đẩy
nhiều người vào vòng xoáy tham nhũng để thoả mãn các khát vọng thật ra là chính
đáng của họ. Điều nguy hiểm là ở chỗ tình trạng này sẽ tạo ra sự nhập nhằng về
nhận thức. Việc thay thế các quy định của pháp luật bằng những thoả mãn ngầm
trên quy mô xã hội hoặc đạo đức xã hội khiến các nhóm lợi ích luôn đấu tranh với
nhau trên cùng một cá nhân. Nếu chúng ta tạo cho cá nhân một không gian sống tốt,
nếu chúng ta hợp pháp hoá các quyền cá nhân chính đáng để mỗi các nhân có thể
phát huy tối đa sức sống, sức sáng tạo của họ trong khuôn khổ pháp luật, chắc chắn
rất nhiều người bình thường sẽ sống và ứng xử theo những chuẩn mực được chấp
nhận rộng rãi trong xã hội.
- Về mặt văn hoá xã hội: Tham nhũng được hỗ trợ bởi những yếu tố tiêu cực
trong nền văn hoá, chẳng hạn tính gia trưởng vốn là một đặc điểm rất rõ nét trong
các triều
phong
kiến.
Văn hoá
gia@
hợp logic. Trên thực tế, việc chống chủ nghĩa cá nhân một cách thái quá luôn luôn
dẫn đến một tình trạng cực đoan trong đời sống tinh thần của xã hội. Tâm lý xem
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 9
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
nhẹ, nếu không muốn nói là bài bác các giá trị cá nhân khiến người ta tìm mọi cách
hạn chế không gian sống của cá nhân, làm cho con người thiếu ý thức trách nhiệm
về hành vi của mình, dễ dàng bằng lòng với thực tại, dễ dàng tham nhũng, tiếp tay
hoặc ít nhất là mặc nhiên thừa nhận tham nhũng. Sự ngộ nhận về giá trị cá nhân và
giá trị tập thể còn dẫn đến cả hiện tượng tham nhũng mang tính tập thể, nghĩa là có
sự kết cấu, đồng tình để tiến hành hành vi tham nhũng trên quy mô lớn hơn. Đó
chính là mầm mống của tội phạm có tổ chức. Còn nếu cá nhân nào không chịu tham
nhũng, họ sẽ không còn là người của tập thể, họ sẽ bị loại khỏi cuộc chơi. Điều này
giải thích tại sao tham nhũng trong các triều đại phong kiến có sự nhìn nhận sai lệch
về cá nhân và tập thể lại càng trầm trọng và khó đẩy lùi hơn trong đương đại.
1.1.4 Tác hại và sự cần thiết phải phòng, chống tham nhũng
1.1.4.1 Tác hại của tham nhũng
Tham nhũng là một căn bệnh cố hữu của quyền lực, là kẻ thù bên trong của
mọi chính quyền, là nguyên nhân từng làm sụp đổ nhiều triều đại và quốc gia. Ở
Việt Nam hiện nay, tham nhũng đang được coi là “trọng bệnh” của bộ máy công
quyền. Trước tác động của các quan hệ kinh tế thị trường, tham nhũng càng có môi
trường thuận lợi để bùng phát.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
mạnh kinh tế để “lo lót” nhằm lũng đoạn, giành giật thị trường, cạnh tranh bất hợp
pháp, phá vỡ các quy luật của thị trường. Nạn “buôn” cơ chế, “buôn” chính sách
cũng từ đó mà xuất hiện.
Ngoài ra, sự phát triển của tham nhũng còn có nguyên nhân từ sự can thiệp
quá sâu của Nhà nước vào sự vận hành của nền kinh tế. Sự nhập nhằng, lẫn lộn giữa
chức năng quản lý nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh đã dẫn tới những
quyết định kinh tế mang tính tùy tiện, lúc cấm, lúc mở, có việc vừa bao cấp lại vừa
hạch toán theo cơ chế thị trường dễ bị lợi dụng để tham nhũng, tiêu cực. Biểu hiện
rõ nhất là cơ chế “xin – cho” vẫn còn tồn tại, tình trạng chủ quan, bao cấp vẫn chưa
mất hẳn, làm cho mối quan hệ ngầm giữa quan chức và doanh nghiệp ngày càng
phát triển, và đi cùng với nó là nạn đút lót, “hoa hồng”, “lại quả” và những thỏa
thuận ăn chia, bớt xén. Đó là lý do giải thích tại sao nhiều doanh nghiệp được ưu
tiên hợp đồng đầu tư, cung ứng dịch vụ bằng thư tay, điện thoại, thậm chí bằng các
công văn can thiệp một cách thẳng thừng. Hàng loạt các vụ án tham nhũng lớn,
phức tạp, gây hậu quả nghiêm trọng đã được phát hiện và xử lý trong thời gian qua
như: vụ án Lã Thị Kim Oanh (Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn), vụ án tham
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
nhũng tiêu cực ở Tổng công ty Dầu khí Việt Nam, vụ án cấp phát quota dệt may
(Bộ Thương mại), vụ PMU 18 (Bộ Giao thông vận tải)… là những minh chứng
thuyết phục.
- Đối với lĩnh vực văn hoá - xã hội: Làm cho xã hội suy thoái, con người trở
nên biến chất, đời sống xã hội không lành mạnh. Tư tưởng con người bị dao động,
niềm tin vào lẽ phải công bằng, dân chủ không còn, mục tiêu xây dựng xã hội văn
minh không đạt được. Từ đó, dẫn đến đời sống con người trở nên suy thoái, những
tư tưởng, những lối sống tiến bộ dần dần biến mất, làm cho con người trở nên vụ
lợi, tranh giành quyền lực,… Từ xưa tới nay, “quan tham, lại nhũng” là những hiện
tượng bị xã hội lên án vì sự tồn tại của nó thách thức các nguyên tắc đạo đức, những
giá trị văn hoá cơ bản của dân tộc. Tuy nhiên, trong tâm lý của người dân, tham
vậy rất khó giải quyết, bởi vì lúc bấy giờ, chúng ta nói đến những điều được chấp
nhận về mặt văn hoá xã hội, trở thành “chuyện thường ngày” trong đời sống xã hội.
Như vậy, tham nhũng với những hành vi, hiện tượng và biểu hiện cũng như
tác hại to lớn của nó có thể làm hỏng đời sống kinh tế của xã hội, làm tăng tình
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trạng nợ nần, bần cùng hóa đất nước và thậm chí không loại trừ khả năng là làm sụp
đổ chính quyền, đánh mất chủ quyền quốc gia dân tộc. Chính vì vậy, Đảng và Nhà
nước ta xác định tham nhũng là “quốc nạn” và là một trong bốn nguy cơ lớn đối
với sự tồn vong của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa.
1.1.4.2 Sự cần thiết phải phòng, chống tham nhũng
Tham nhũng là “quốc nạn”, muốn phòng, chống tham nhũng phải nhận diện
tham nhũng thật rõ ràng từ nhiều phía. Người dân không thể tham nhũng, tham
nhũng là một loại tội phạm đặc biệt giành cho kẻ có quyền. Tội này liên quan mật
thiết đến chức vụ, chức vụ càng cao, quyền hành càng nhiều thì cơ hội phạm loại tội
này càng lớn. Một đặc trưng của loại tội phạm này được mô tả một cách hình ảnh là
con mèo ăn vụng con cá con thì ai cũng có thể đánh, còn con cọp bắt cả con trâu thì
mọi người phải né tránh, vì sợ cọp vồ(3). Điều đó cho thấy việc trừng trị loại tội
phạm này thường chỉ dừng lại ở cấp dưới, mới chỉ tắm từ vai xuống. Từ đó cho
thấy, cần phải có chính sách phòng, chống tham nhũng triệt để, nhằm hạn chế tình
trạng “quốc nạn” này. Khi đất nước ta đã và đang mở cửa để hội nhập kinh tế quốc
(3)
Nguồn: Mục sự kiện, chính trị, pháp luật, Tạp chí Pháp lý, số 7 – 2005.
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 12
hútĐH
được Cần
sự quanThơ
tâm của
hội. học tập và nghiên cứu
1.2 Chính sách phòng, chống tham nhũng
Chính sách phòng, chống tham nhũng là chiến lược được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm nhất hiện nay và nó cũng là cơ sở cho việc định hướng, điều chỉnh các
mối quan hệ và bảo vệ các chuẩn mực xã hội, nhất là các thể chế về chống quan
liêu, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực là điều mà chúng ta đang hướng tới trong
quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì
dân.
Bác Hồ chỉ rõ tham nhũng là “giặc nội xâm”, Đảng ta đã xác định là một
trong bốn nguy cơ của đất nước. Thế nhưng hôm nay việc chống tham nhũng chưa
tương xứng, chưa thực sự ngang tầm với một cuộc chiến đấu chống giặc “nội xâm”,
chống “quốc nạn”, chống một nguy cơ của đất nước. Để phòng, chống tham nhũng
có hiệu quả phải có chính sách triển khai đồng bộ, kiên quyết. Sau đây là các chính
sách:
(4)
Nguồn: Mục Tiêu điểm, Tạp chí Pháp lý, số 12 (76) tháng 6/2006
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 13
SVTH: Tô Thanh Tú
Ở các nước tư bản, tham nhũng là bản chất của chế độ. Trong xã hội ta, tham
nhũng không phải là bản chất của chế độ mà là sự tha hoá của một số bộ phận cán
bộ, đảng viên có chức, có quyền. Tuy vậy, chống tham nhũng rồi chúng ta đừng
nghĩ rằng sẽ có một xã hội trong đó mọi người đều trong sáng, không chút vẩn đục.
Điều đó sẽ là không tưởng vì một khi còn nền kinh tế nhiều thành phần, cơ chế thị
trường thì còn cơ sở khách quan cho tệ nạn tham nhũng phát sinh.
Nhưng chúng ta có thể hạn chế đến mức thấp nhất nếu công tác chống tham
nhũng được định hướng lãnh đạo và quản lý điều hành một cách tích cực của Nhà
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 14
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
nước, sự giám sát tối đa của Quốc hội và cơ quan bảo vệ pháp luật đến nơi, đến
chốn; đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, công tác tư tưởng,
công tác tổ chức, biết dựa vào nhân dân mà hành động.
Cuộc đấu tranh chống tham nhũng là nội dung lớn, là nhiệm vụ quan trọng
của công tác xây dựng Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;
phải tiến hành thường xuyên, liên tục, làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước trong
sạch, có hiệu lực lãnh đạo, điều hành đất nước, tăng cường sự đoàn kết nhất trí
trong nội bộ Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân. Làm tốt điều đó sẽ chống tham
nhũng được tận gốc, lấy lại lòng tin cho nhân dân, cũng cố được vai trò lãnh đạo
của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
đôi nộp
vào@
kho”
.Trong
Việt xưa,
Trung tâm
Học
liệu
ĐHgấp
Cần
Thơ
Tài
liệu cách
họchiểu
tậpcủavàngười
nghiên
cứu
“tham quan ô lại, sách nhiễu nhân dân, ăn hối lộ, đục khoét của công, vơ vét tiền
của dân, cậy quyền làm bậy…” được dùng để chỉ những kẻ có chức, quyền và lợi
dụng chức, quyền đó, bằng những thủ đoạn, cách thức khác nhau để mưu lợi cho
riêng mình. Những hành vi này xâm hại đến trật tự kinh tế của xã hội phong kiến,
phá hoại kỉ cương phép nước, khiến dân chúng lầm than, cực khổ và sinh lòng oán
thán triều đình.(6)
2.1.2 Đặc điểm của tham nhũng trong Quốc triều hình luật
Dựa trên khái niệm về tham nhũng trong Quốc triều hình luật ta có thể rút ra
3 đặc điểm chính của tham nhũng như sau:
- Về chủ thể: Chủ thể của tham nhũng trong Quốc triều hình luật phải là quan
lại- những người có chức vụ, quyền hạn hay có trách nhiệm trong việc quản lý một
số công việc cụ thể mà triều đình giao phó.
vượng, một chế độ hợp lòng dân. Bởi sự vững mạnh, lâu bền của ngôi Thiên tử
trong bất kỳ triều đại nào đều không chỉ nhờ thấm nhuần và thực thi Vương đạo mà
cần được sự trung thành và thương yêu nhà vua của quần thần, sự “tâm quy” của
muôn dân. Do vậy, “công tâm” là chiến thuật lấy lòng dân của bất cứ triều đại nào
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
cần duy trì sự ổn định để xây dựng và bảo vệ vương quyền. Triết lý này được thể
hiện rõ nét trong các quy định pháp luật của các triều đại phong kiến Việt nam, thể
hiện qua các Chỉ, Dụ, Sắc, Lệnh của Nhà vua và triều đình phong kiến.
Để ngăn chặn tham nhũng trong bộ máy, các nhà nước phong kiến đã tiến
hành rất nhiều biện pháp. Từ việc cải cách bộ máy nhà nước, tuyển chọn người hiền
tài để giúp dân, giúp nước, giám sát bộ máy quan lại để đánh giá đạo đức và năng
lực làm việc, xử lý hành vi tham nhũng... Các biện pháp được đề ra và thực hiện là
khá toàn diện và triệt để. Các biện pháp phòng, chống tham nhũng thời kỳ phong
kiến nhìn chung đều thể hiện khá rõ tư tưởng và quan điểm của các triều đại. Đó là
luôn đề cao các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, coi phòng ngừa là một trong
những biện pháp quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng và duy trì
một bộ máy nhà nước phong kiến trong sạch, không có chỗ cho những tên tham
quan, ô lại tồn tại.
Xử lý các hành vi tham nhũng (7)
(7)
Nguồn: : Tạp chí Thanh tra Chính phủ - Viện khoa học Thanh tra của Ths. Phạm Thị Huệ
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 17
thì bị cách chức hay bị đồ; quan ngũ phẩm lục phẩm thì bị đồ hoặc lưu, quan thất
phẩm trở xuống thì bị lưu hoặc tử hình. Quan tướng hiệu nhận lời thì bị tội đồ hoặc
lưu, nếu không thiệt hại đến việc quân thì được giảm…”
Qua các phân tích trên ta có thể thấy các triều đại phong kiến Việt Nam nói
chung và Quốc triều hình luật nói riêng đều có thái độ kiên quyết trong việc ngăn
chặn và xử lý nạn tham nhũng. Các hình phạt dành cho tội tham nhũng thường rất
nghiêm khắc, nhẹ thì làm bãi chức, Lưu (đày đi xa và bắt làm việc khổ sai); Đồ (bắt
làm các công việc khổ nhục)… mức hình phạt nặng có thể bị chém đầu. Các biện
pháp xử lý cũng rất đa dạng nhằm hạn chế tối đa sự phát triển của tệ nạn này. Chính
nhờ những biện pháp kiên quyết và phù hợp như vậy mà nhiều triều đại đã duy trì
được sự ổn định chính trị, xã hội, đồng thời quản lý điều hành đất nước vượt qua
những giai đoạn khó khăn bởi thiên tai, địch họa.
Xử lý tài sản tham nhũng trong pháp luật phong kiến: Bên cạnh các hình phạt
hình sự, tuỳ từng trường hợp, người có hành vi tham nhũng còn bị áp dụng một số
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 18
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
hình phạt phụ như: phạt tiền, tịch thu tài sản, biếm tước… Những quy định của Bộ
Luật Hồng Đức về vấn đề xử lý tài sản tham nhũng khá rõ ràng và dựa trên nguyên
tắc người có hành vi tham nhũng đều phải bồi thường gấp đôi số tài sản tham nhũng
và sung công hoặc trả lại cho người dân.
Những quy định thời Lê được thể hiện rõ trong Quốc triều hình luật, Bộ luật
này đã xác định khá rõ ràng vấn đề xử lý tài sản tham nhũng, về nguyên tắc người
có hành vi tham nhũng đều phải bồi thường gấp đôi số tài sản tham nhũng và sung
việc quy định các chế tài áp dụng đối với người có hành vi tham nhũng là xử lý kỷ
luật hoặc xử lý hình sự, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005 đã có những quy
định về vấn đề xử lý tài sản có được từ hành vi tham nhũng. Theo quy định của
Luật thì về nguyên tắc tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu, trả lại cho chủ
sở hữu, quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ Nhà nước.
Những quy định về xử lý tài sản tham nhũng là điểm mới trong Luật phòng,
chống tham nhũng năm 2005, và khắc phục được những thiếu sót của Pháp lệnh
chống tham nhũng năm 1998. Đồng thời, những quy định về xử lý hành vi tham
nhũng và tài sản tham nhũng của Luật còn phần nào thể hiện biện pháp xử lý hành
vi tham nhũng toàn diện và triệt để của Nhà nước ta. Đó là một bước tiến trong quá
trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế phòng, chống tham nhũng toàn diện, triệt để và
hiệu quả.
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 19
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
2.1.3 Sự kế thừa của pháp luật đương đại trong phòng, chống tham nhũng
Chống tham nhũng là việc của toàn dân (8).
Các quy định của pháp luật phong kiến đều thể hiện sự đề cao chế định tố
cáo tham nhũng. Các triều đại đều có cơ chế khuyến khích, động viên người tố cáo
hành vi tham nhũng hiệu quả và coi đây là việc làm cần thiết vì phải có sự hợp lực
bảo vệ, để người dân không bị trù dập khi tố cáo hành vi tham nhũng, ngăn chặn
mọi yếu tố trả thù của kẻ tham nhũng và vây cánh.
Nguồn: Tạp chí Thanh tra Chính phủ - Viện khoa học Thanh tra của Ths. Phạm Thị Huệ
GVHD: Ths.Võ Duy Nam
Trang 20
SVTH: Tô Thanh Tú
Chính sách phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều Hình luật và giá trị đương đại
cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn thể
hiện quan điểm chống tham nhũng là việc của toàn Đảng, toàn dân, phải huy động
sức mạnh của toàn bộ hệ thống chính trị, khuyến khích, động viên sự tham gia tích
cực của toàn xã hội – xã hội hoá – trong công tác đấu tranh phòng, chống tham
nhũng. Trên cơ sở đó, chúng ta đã đề ra những định hướng quan trọng trong công
tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về tham nhũng để người dân có nhận
thức sâu sắc về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng như vai trò của họ
trong cuộc đấu tranh đầy khó khăn phức tạp này, từ đó, phát huy sức mạnh quần
chúng nhân dân trong việc phát hiện, tố giác hành vi tham nhũng.
Chính vì vậy, việc chúng ta ghi nhận tố cáo hành vi tham nhũng là một chế
định quan trọng trong pháp luật về phòng, chống tham nhũng là rất quan trọng và
thực sự là phương tiện hữu hiệu, thuận tiện để người dân tố cáo hành vi tham
nhũng. Với bốn điều quy định về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng,
chống tham nhũng, Luật đã khẳng định vai trò cũng như trách nhiệm của các tổ
chức, doanh nghiệp và cá nhân công dân trong phòng, chống tham nhũng; có các
quy định cụ thể khuyến khích và đảm bảo sự tham gia của xã hội; quy định rõ về
quyền tiếp cận thông tin của cơ quan, tổ chức và công dân và cơ chế cụ thể để thực
hiện quyền này.
phòng, chống tham nhũng của các triều đại phong kiến Việt nam và Quốc triều hình
luật tương đối toàn diện và triệt để. Tuy vậy, vì nhiều lý do khác nhau tham nhũng
không bị loại bỏ hoàn toàn, trong mỗi giai đoạn của các triều đại, khi quản lý bị
buông lỏng thì nạn tham nhũng lại phát triển mạnh mẽ, làm đất nước suy yếu, niềm
tin của dân chúng đối với vương triều bị suy giảm nghiêm trọng. Ở khía cạnh nào
đó, tham nhũng là một nguyên nhân dẫn đến sự suy vong của các vương triều phong
kiến Việt Nam. Thiết nghĩ, đó cũng là bài học lịch sử để lại cho chúng ta nhiều suy
ngẫm.
Với quyết tâm chống tham nhũng triệt để, tạo sự ổn định chính trị, xã hội để
phát triển kinh tế trong quá trình hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng
xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật phòng, chống
tham nhũng nói riêng. Trong bối cảnh phòng, chống tham nhũng hiện nay ở Việt
Nam - một xã hội mang đậm những dấu ấn văn hoá truyền thống – thì việc nghiên
cứu những kinh nghiệm của cha ông với mục đích “ôn cố tri tân” thiết nghĩ, là một
việc làm có nhiều ý nghĩa thiết thực. Qua đó, rút ra những bài học kinh nghiệm quý
báu của cha ông trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng để đề ra những giải pháp
Trung tâm
Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
vừa thiết thực hiệu quả vừa hợp lòng dân trong hoàn cảnh xây dựng nhà nước pháp
quyền hiện nay ở Việt Nam.
2.2 Các biện pháp(9) phòng, chống tham nhũng trong Quốc triều hình
luật.
Bộ “Luật Hồng Đức” ra đời lúc bấy giờ là một Bộ Luật chống tham nhũng
mạnh mẽ nhất, tích cực nhất ở nước ta thời trước. Trong 722 điều của Bộ Luật
Hồng Đức thì có trên 40 điều bao hàm nội dung bài trừ tham nhũng. Có một số điều
còn hạn chế các đặc quyền, đặc lợi của quan lại. Nhiều điều khác ấn định mức xử
phạt, trừng trị các hành vi đục khoét của công, lợi dụng quyền lực để sách nhiễu dân
lành. Điều l38, Bộ Luật Hồng Đức có ghi: “...quan lại mà tham nhũng, nhận hối lộ,
làm sai phép thì bị phạt; tham ô từ một đến chín quan tiền, bị cách chức. Từ l0 đến
hiệu quả và triệt để.
Nghiên cứu các quy định pháp luật phong kiến và Quốc triều hình luật cũng
có thể nhận thấy rằng, mặc dù các đạo luật nổi tiếng của các triều đại phong kiến
Việt Nam nói chung và Quốc triều hình luật nói riêng mà chúng ta còn lưu giữ được
cho đến ngày nay là các Bộ hình luật, pháp luật thiên về việc quy định các biện
phápHọc
trừng phạt,
các bộ Thơ
hình luật
các học
Sắc, Sệnh,
của các cứu
vị
Trung tâm
liệu nhưng
ĐH Cần
@cũng
Tàinhư
liệu
tập Chỉ
và dụ,
nghiên
vua phong kiến nói chung và vua Lê Thánh Tông nói riêng cũng thể hiện rất rõ tinh
thần, tư tưởng phòng ngừa tham nhũng. Tuy rằng trong từng giai đoạn, thời kỳ khác
nhau ứng với mỗi triều đại khác nhau, những tinh thần ấy được cụ thể hoá bằng
những biện pháp khác nhau, nhưng luôn góp phần quan trọng vào việc xây dựng
một bộ máy chính quyền trong sạch, vững mạnh, một đội ngũ quan lại thanh liêm.
Tinh thần, tư tưởng đó được thể hiện rõ qua các biện pháp chính sau:
- Thứ nhất là các triều đại phong kiến Việt Nam đều chú trọng cải cách bộ
máy hành chính:
lại đã được áp dụng.
Một trong những biện pháp rất được các triều đại tin dùng đó là lệ hồi tỵ.
Theo lệ này thì viên quan đứng đầu một địa hạt không được phép nhậm chức tại quê
hương mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được phép có bất động sản
trên địa hạt mình cai quản, không được có người cấp phó là đồng hương, và điều
quan trọng là các quan lại này đều được dịch chuyển địa hạt cai quản theo một chu
trình nhất định. Dưới thời Lê, lệ này được áp dụng thường xuyên nhằm hạn chế và
ngănHọc
chặn những
khả năng
sinh các
trái học
với chức
giao của
Trung tâm
liệu ĐH
CầnnảyThơ
@ hành
Tài viliệu
tậptrách
vàđược
nghiên
cứu
các quan lại.
- Thứ hai là thiết lập một chế độ lương bổng công bằng, hợp lý cho đội ngũ
quan lại:
Một trong những biện pháp được các triều đình phong kiến thiết lập và luôn
cố gắng thực hiện đó là định rõ chế độ bổng lộc cho đội ngũ quan lại tuỳ thuộc vào
chức quan và tính chất công việc cũng như khả năng của từng người. Ngay khi lên
ngôi, Vua Lê Thánh Tông đã lập ra quan chế, lễ nghi, chế độ lộc điền, tiền tuế bổng