Thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 49

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN PHƢƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG,
CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Đà Nẵng, năm 2018


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN PHƢƠNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG,
CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành

: Chính sách công

Mã số


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn “Thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của tôi. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả được trình bày trong luận văn là trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực, trên cùng địa bàn.
Tác giả luận văn

Lê Văn Phƣơng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG ........................................................................ 7
1.1. Các khái niệm cơ bản ........................................................................................... 7
1.2. Nội dung thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng ................................ 10
1.3. Các nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng17
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG
THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM .................................. 24
2.1. Các nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng
tại tỉnh Quảng Nam ................................................................................................... 24
2.2. Thực trạng văn bản quy định về chính sách phòng, chống tham nhũng tại tỉnh
Quảng Nam ............................................................................................................... 30
2.3. Kết quả thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Quảng Nam.. 33
2.4. Đánh giá việc thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Quảng
Nam ........................................................................................................................... 49
Chƣơng 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM .............................................................................................. 58
3.1. Các quan điểm cơ bản về chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách


: Phòng, chống tham nhũng

TTCP

: Thanh tra Chính phủ

TTHC

: Thủ tuc hành chính

UBND

: Uỷ ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Số hiệu

Tên bảng biểu

Bảng 2.1. Kết quả kê khai tài sản, thu nhập 5 năm (2012 – 2016)
Bảng 3.1. Danh sách và số điện thoại, đường dây nóng của 19 đồng chí
lãnh đạo được công khai để tiếp nhận thông tin có liên quan
đến tham nhũng.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại, gây thiệt hại nghiêm

các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương; sự tham gia tích cực
của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân và báo chí.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện chính sách PCTN trên cả nước nói chung và
tại tỉnh Quảng Nam nói riêng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa đạt mục tiêu
“ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng” mà Nghị quyết Trung ương 3 (khóa
X) đã đề ra. Tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng, với biểu hiện ngày càng tinh
vi, phức tạp, xảy ra trên diện rộng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực,
“làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, thách
thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà
nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ”.
Xuất phát từ những thực trạng trên, học viên đã chọn đề tài "Thực hiện
chính sách phòng, chống tham nhũng từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài
luận văn thạc sĩ, nhằm đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện chính sách
phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua để từ đó đưa ra
những quan điểm, giải pháp tăng cường thực hiện tốt hơn chính sách PCTN tại
tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới là việc làm có tính cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tham nhũng của nhiều
học giả, đặc biệt là các công trình nghiên cứu của tổ chức minh bạch quốc tế
(Transparency International), Ngân hàng thế giới (World Bank). Ở Việt Nam đã
có nhiều học giả, nhà chính trị, nhà khoa học quan tâm đến vấn đề nhạy cảm này
và đã có nhiều đề tài và bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng, có thể
kể đến một số công trình như:
Đề tài cấp Bộ năm 2015 “Tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong
khu vực tư ở Việt Nam” do Tiến sĩ Đinh Văn Minh, Phó Viện trưởng Viện Khoa
học Thanh tra làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài đưa ra một số vấn đề chung về tham

2





nâng cao hiệu quả hoạt động phòng, chống tham nhũng của các cơ quan thanh tra
nhà nước;
Đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra góp phần phòng, chống
tham nhũng, lãng phí, thất thoát trong đầu tư xây dựng” của tác giả Nguyễn Đức
Hạnh, Thanh tra Chính phủ (năm 2009). Đề tài đã đi sâu phân tích vị trí, vai trò
của công tác thanh tra góp phần phòng, chống lãng phí, thất thoát, tham nhũng
trong quản lý đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước;
Luận án “Tham nhũng ở nước ta hiện nay và biện pháp khắc phục” của
Phó tiến sĩ triết học Lê Văn Cương, năm 1993; Đề tài nghiên cứu khoa học
“Thanh tra với cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay” do Thanh tra nhà
nước (nay là Thanh tra chính phủ) tiến hành năm 1995; Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp Bộ về tham nhũng do Ban Nội chính trung ương Đảng chủ trì, năm
1997; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Tham nhũng và phòng chống tham
nhũng trong xây dựng cơ bản” do Bộ Công an chủ trì năm 2000; Luận văn tiến sĩ
luật “Tình hình, nguyên nhân và các biện pháp đấu tranh chống tội phạm tham
nhũng” của Trần Công Phàn, năm 2002; Dự án “Nghiên cứu đấu tranh chống
tham nhũng” của Ban Nội chính trung ương do SIDA tài trợ kết thúc năm 2005;
Các bài nghiên cứu, bài viết của các nhà báo, chuyên gia về lĩnh vực này
như: “Tham nhũng và chống tham nhũng ở nước ta”, Vũ Xuân Kiều, Tạp chí
Cộng sản số 12-1996; “Tham nhũng: nhận diện từ các khía cạnh pháp lý và cơ sở
pháp lý mới” của GS,TS Đào Trí Úc, Viện trưởng Viện NN&PL đăng trên Tạp
chí Cộng sản số 2-1997; Phòng, chống tham nhũng trong tình hình hiện nay”, Vũ
Quốc Hùng, Tạp chí Xây dựng Đảng số 9-2004…
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực tiễn thực hiện chính sách
phòng, chống tham nhũng tại tỉnh Quảng Nam như là một đề tài nghiên cứu độc
lập. Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ, đề tài luận
văn được tổng kết từ thực tiễn việc thực hiện chính sách phòng, chống tham
nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam để phân tích, đánh giá từ đó đưa ra các giải

hợp, so sánh và tổng kết từ thực tiễn để xem xét, giải quyết các vấn đề cụ thể về
lý luận và thực tiễn. Những nội dung liên quan đến vấn đề nghiên cứu được thu
thập, tổng hợp từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, như các công trình nghiên cứu,

5


giáo trình, sách, báo, tạp chí, báo cáo tổng kết, văn bản pháp luật,...Trong đó chú
trọng sử dụng nguồn số liệu từ các cơ quan chuyên trách về công tác phòng,
chống tham nhũng của tỉnh Quảng Nam.
Phương pháp trình bày của luận văn: Dựa trên cơ sở tổ chức các bước của
quy trình chính sách, đề tài sẽ phân tích nội dung thực hiện chính sách PCTN.
Hay nói cách khác từng nội dung được trình bày sẽ đồng thời lồng ghép theo tổ
chức các bước thực hiện chính sách.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ hệ thống hóa được cơ
sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài của luận văn sẽ đưa ra bức
tranh chung về thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam; đồng thời, cung cấp các luận cứ khoa học và đưa ra các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách phòng, chống tham
nhũng trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện nay. Đây cũng là nguồn tư liệu tham
khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm có 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách phòng, chống
tham nhũng.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng từ
thực tiễn tỉnh Quảng Nam.

một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các
mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978).
Nhìn vào thực tiễn của nước ta có thể thấy: Chính sách công là sự cụ thể hóa

7


các chủ trương, quan điểm, định hướng của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước. Các quyết định về chính sách công là những quyết định chính trị bao hàm
ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân. Chính
sách công tập trung giải quyết các vấn đề xã hội đang đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp
với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối
quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối quan
hệ giữa các bên tham gia chính sách.
Từ các phân tích trên, chúng ta có thể hiểu rằng: Chính sách công là tổng thể
chương trình hành động của chủ thể nắm quyền lực công nhằm giải quyết những
vấn đề nổi cộm trong cuộc sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được
các mục tiêu đề ra và bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững.
1.1.2. Các giai đoạn chính của quá trình chính sách
- Hoạch định chính sách với các bước cụ thể là:
+ Lập chương trình (Agenda setting);
+ Hình thành chính sách (Policy formulation);
+ Thông qua chính sách (Policy adoption).
- Thực hiện chính sách (Policy implementation): Để tổ chức thực hiện
chính sách, người ta có thể tuân thủ theo các bước sau:
+ Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách;
+ Phổ biến tuyên truyền chính sách;
+ Phân công, phối hợp triển khai thực hiện chính sách;
+ Giám sát, đôn đốc thực hiện chính sách;
+ Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách;

Thực hiện chính sách phòng chống tham nhũng là khâu hợp thành của chu
trình chính sách phòng, chống tham nhũng, là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí
của Đảng, Nhà nước trong chính sách phòng, chống tham nhũng thành hiện thực
đối với đối tượng cần phải phòng, chống tham nhũng nhằm đạt được mục tiêu
phòng, chống tham nhũng đã định.
Nó có ý nghĩa cơ bản sau đây:

9


Thứ nhất, thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng có vị trí quan
trọng kết nối các khâu trong chu trình chính sách thành một hệ thống và là bước
hiện thực hoá chính sách phòng, chống tham nhũng.
Thứ hai, qua kết quả thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng sẽ
giúp ta biết được chính sách đó có đúng, phù hợp và đi vào thực tiễn hay không.
Thứ ba, quá trình thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng với
những hoạt động thực tiễn sẽ góp phần vào việc điều chỉnh, bổ sung và hoàn
thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn phòng, chống tham nhũng đáp ứng
yêu cầu của cuộc sống.
1.2. Nội dung thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng
Việc thực hiện chính sách phòng, chống tham nhũng là vấn đề phức tạp, về
cơ bản có những nội dung sau:
1.2.1. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục và tổ chức việc thực
hiện chính sách phòng, chống tham nhũng
Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về phòng chống
tham nhũng nói riêng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội.
Việc thực thi và chấp hành pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác
nhau, trong đó có yếu tố ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của nhân dân. Đặc
trưng rõ nét của ý thức pháp luật - thể hiện thái độ của các thành viên trong xã
hội đối với kỷ cương, pháp luật là sự đánh giá và ghi nhận tính công bằng của

Nhà nước. Một trong những nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật là do
trình độ văn hoá pháp lý của một bộ phận nhân dân, trong đó có cả cán bộ, công
chức còn thấp. Rõ ràng, việc nâng cao văn hoá pháp lý có quan hệ gắn bó mật
thiết với việc tiếp tục tăng cường pháp chế.
1.2.2. Cải cách hành chính, công khai minh bạch trong hoạt động của cơ
quan, tổ chức, đơn vị, đổi mới công nghệ quản lý nhằm phòng ngừa tham nhũng
Tham nhũng xuất hiện do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân do các
thủ tục hành chính (TTHC) rườm rà, phức tạp, không rõ ràng tạo điều kiện thuận lợi
cho một số cán bộ, công chức nhũng nhiễu, vòi vĩnh tiền, tài sản của cá nhân, tổ
chức khi giải quyết TTHC; cộng thêm cơ chế kiểm tra, thanh tra, kiểm soát hoạt

11


động hiệu quả thấp, việc xử lý người vi phạm chưa nghiêm, dẫn đến tham nhũng
vẫn đang tồn tại hàng ngày, hàng giờ, gây bức xúc trong dư luận xã hội.
Một trong những xu hướng chung của cải cách hành chính ở khu vực và
trên thế giới là hướng tới việc xây dựng một nền hành chính gọn nhẹ, hoạt động
linh hoạt, năng động, hiệu quả, cung ứng tốt nhất các dịch vụ công cho xã hội,
đáp ứng các yêu cầu hội nhập và toàn cầu hoá. Trong đó, việc ứng dụng các
thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin vào các
hoạt động hành chính đã và đang góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của
hoạt động công vụ, thay đổi cách làm việc, góp phần xây dựng hoàn thiện các
chuẩn mực về thủ tục hành chính của chính phủ.
Tóm lại, cải cách hành chính, trong đó cải cách TTHC là trọng tâm, luôn
được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện. Cải cách TTHC nhằm bảo đảm sự
thống nhất, đồng bộ, đơn giản, công khai, minh bạch của TTHC, từ đó tạo sự
thuận lợi cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong tiếp cận, tham gia giám sát
và thực hiện TTHC; tăng cường trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức; góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, từ đó, góp phần phòng,

chức trong thực thi nhiệm vụ, công vụ; làm căn cứ để các cơ quan, đơn vị được
phân cấp quản lý xử lý trách nhiệm khi cán bộ, công chức, viên chức vi phạm
các chuẩn mực xử sự trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội,
là căn cứ để các tổ chức và nhân dân giám sát việc chấp hành pháp luật của cán
bộ, công chức, viên chức.
Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức thể hiện ở đạo đức công
vụ đó là một dạng đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp có thể được hiểu
là một hệ thống quy định hoặc quy tắc gắn liền với những chuẩn mực về cách
ứng xử đạo đức của một nghề nhằm hướng dẫn hành vi đúng đắn và việc ra
quyết định trong phạm vi nghề đó. Với cách hiểu này, có thể suy ra rằng đạo đức
công vụ là những giá trị và chỉ dẫn nhằm hướng dẫn quyết định của những người
thực hành các hoạt động công quyền.
Đạo đức công vụ chịu ảnh hưởng bởi tính chất và những đặc điểm của công
vụ, cụ thể bao gồm:

13


+ Mục đích của công vụ là phục vụ nhân dân và xã hội.
+ Nội dung hoạt động công vụ gắn với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời thực hiện
chức năng tổ chức phục vụ các nhu cầu chung của xã hội không vì mục đích lợi
nhuận. Hoạt động công vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp.
+ Chủ thể thực thi công vụ là công chức.
+ Tính chất của công vụ: công vụ không chỉ thuần tuý mang tính quyền lực
nhà nước, mà còn bao gồm cả hoạt động của các tổ chức do nhà nước thành lập
(được nhà nước uỷ quyền) để phục vụ các nhu cầu của nhân dân.
Với những đặc điểm như vậy, đối chiếu vào đạo đức công vụ với tư cách
một loại đạo đức nghề nghiệp, có thể thấy:
+ Về mục đích, đạo đức công vụ đề cao đạo đức và những hành vi đúng

quan, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị; phải gắn kết chặt chẽ với quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sắp xếp, bố trí, sử dụng cán bộ; bố trí cân đối, hài
hòa giữa luân chuyển cán bộ với việc phát triển nguồn cán bộ tại chỗ.
Việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức nhằm
phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng đã được thực hiện nhất là từ sau khi có Luật
Phòng, chống tham nhũng, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức,
viên chức theo quy định của Luật này được tiến hành một cách rộng rãi, chặt chẽ
và “bài bản” hơn.
Việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức được thực
hiện theo Luật phòng, chống tham nhũng và Nghị định số 158. Còn việc luân
chuyển cán bộ được thực hiện theo Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 25/01/2002,
của Bộ Chính trị về việc luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý và Kết luận số 24KL/TW, ngày 5/6/2012, của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác quy hoạch và
luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức và luân chuyển
cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều điểm khác nhau ví dụ như:
+ Chuyển đổi vị trí công tác nhằm chủ động phòng ngừa tham nhũng.
+ Luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm mục đích chính là đào tạo,

15


bồi dưỡng toàn diện và sử dụng có hiệu quả đội ngũ cán bộ.
Tuy nhiên, cả 2 cách đều góp phần thực hiện tốt việc phòng ngừa tham
nhũng đối với CB,CC,VC trong quá trình thực thi công vụ.
Để CB,CC,VC yên tâm công tác và hoàn thành tốt nhiệm vụ đồng thời
không cần tham nhũng cũng đảm bảo mức sống cho bản thân và gia đình thì
chính sách tiền lương, chính sách đãi ngộ cần phải được chú trọng, trước hết cần
phải có cơ chế để cán bộ, công chức phải sống dựa vào lương, xóa bỏ những cơ
chế hình thành nên các chế độ, chính sách ngoài lương như phụ cấp, thâm
niên…; chỉ trả lương cho những cán bộ, công chức làm được việc, loại bỏ những

Thanh tra được coi là tai mắt của các cấp lãnh đạo, quản lý và được tổ chức
thành một hệ thống từ Trung ương đến địa phương.
Trong hệ thống các giải pháp trực tiếp và gián tiếp phòng, chống tham
nhũng thì hoạt động thanh tra chính là một phương thức quan trọng để thực hiện
nhiệm vụ này thể hiện qua các phương diện công tác cũng như thực tiễn hoạt
động của các tổ chức thanh tra nhà nước trong những năm vừa qua.
Phòng, chống tham nhũng là một trong những trách nhiệm của Thanh tra
Chính phủ (TTCP) và ngành Thanh tra. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của
mình, TTCP đã thể hiện vai trò như một công cụ không thể thiếu được của nhà
nước trong cuộc đấu tranh PCTN hiện nay.
Kiểm toán nhà nước (KTNN) là công cụ phục vụ cho sự minh bạch về tài
chính ngân sách thông qua việc công khai kết quả kiểm toán báo cáo tài chính
của các tổ chức, các cấp ngân sách. Đây là cơ sở cho hoạt động giám sát của các
đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, của các cơ quan nhà nước, các tổ
chức xã hội và của công dân đối với công tác quản lý tài chính ngân sách, đặc
biệt là các nguồn lực tài chính nhà nước. KTNN là công cụ quan trọng để phát
hiện những hiện tượng, những dấu hiệu tham ô, lãng phí, không tuân thủ pháp
luật trong quản lý kinh tế, tài chính, sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực tài
chính, tài sản nhà nước...
1.3. Các nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách phòng, chống
tham nhũng
Thứ nhất, chủ thể thực hiện chính sách PCTN
Tham nhũng, lãng phí vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều ngành, nhiều cấp,

17


nhiều lĩnh vực với phạm vi rộng, tính chất phức tạp, gây hậu quả xấu về nhiều
mặt; để công tác phòng, chống tham nhũng thực sự đạt được kết quả như mong
đợi thì vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước, xã hội trong việc thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status