“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
Là một căn bệnh xuất phát từ và gắn liền với quyền lực công, tham nhũng
xuất hiện từ rất sớm trong xã hội loài người. Nó đặc biệt trở thành vấn nạn khi các
nhà nước ra đời.
Lịch sử nhân loại cho thấy không phải đợi đến thời kỳ hiện đại, tham nhũng
xuất hiện ngay trong các nhà nước chủ nô và phong kiến mà Việt Nam không phải
là ngoại lệ.
Ở Việt Nam, ngay từ thời phong kiến, cha ông ta đã sớm nhận biết được tác
hại của tham nhũng và đã có nhiều biện pháp phòng chống. Những biện pháp này
hiện vẫn còn là kinh nghiệm quý báu cho công cuộc phòng chống tham nhũng của
nước ta.
Nước trị hay loạn cốt ở trăm quan, được người giỏi thì nước trị, dùng người
xấu thì nước loạn. Các bậc đế vương đời trước sở dĩ hưng được nghiệp là nhờ dùng
người quân tử, bị mất nước là vì dùng kẻ tiểu nhân. Thế cho nên “quan lại tham
nhũng là giặc, là sâu mọt của dân, mà trộm cướp nổi lên cũng vìđó vậy”. Nhận
thức được tham nhũng là “quốc nạn”, các triều đại phong kiến đã có cố gắng ít
nhiềuđể từng bước đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ nó. Tham nhũng, ngoài lòng tham của
con người còn có nguyên nhân khác là cơ chế có nhiều kẽ hở nên quan tham có cơ
hội để đục khoét. Để hạn chế tệ nạn này, nhiều triều vua đã có quy định cụ thể
nhưng đến đời vua Lê Thánh Tông thì được nâng lên thành luật (Luật Hồng Đức).
Đến triều Nguyễn cũng ban hành Luật Gia Long (hay còn gọi là Hoàng Việt luật
lệ). Luật Hồng Đức không chỉ có các điều xử quan tham mà còn có các điều về
tuyển người tài, chế độ lương bổng... Song dù có quy định chặt chẽ thế nào cũng
không thể bao quát hết được nên trước hết vua, quan phải là tấm gương.
1
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
I, Khái quát chung về bối cảnh lịch sử, nhũng chính sách và tư tưởng chính trị
pháp lý thời vua Lê Thánh Tông:
1, Tiểu sử vua Lê Thánh Tông:
Tên tuổi và sự nghiệp Lê Thánh Tông gắn chặt với một giai đoạn cường
thịnh của Việt Nam ở nửa sau thế kỷ 15. Lê Thánh Tông tên là Tư Thành, hiệu
Thiên Nam động chủ, con thứ tư Lê Thái Tông, mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao. Ông
sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (1442) tại nhà ông ngoại ở khu đất chùa Huy
Văn Hà Nội ngày nay, mất ngày 30 tháng giêng năm Đinh Tỵ (1497).
Lê Thánh Tông lên làm vua năm 1460, hai lần đổi niên hiệu: Quang Thuận
(1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497). Trong gần 40 năm làm vua, ông đã đưa
triều Lê phát triển tới đỉnh cao về mọi mặt: chính trị, xã hội, kinh tế, quốc phòng,
3
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
văn hóa. Sử gia Ngô Sĩ Liên khen Lê Thánh Tông là "vua sáng lập chế độ, mở
mang đất đai, bờ cõi khá rộng, văn vật tốt đẹp, thật là vua anh hùng, tài lược".
Về phương diện văn học, Lê Thánh Tông là một nhà thơ lớn, tác phẩm ông
để lại rất phong phú, vừa thơ, vừa văn xuôi, vừa Hán, vừa Nôm, hiện còn được sao
chép trong các tập: Thiên Nam dư hạ (trong đó có bài phú nổi tiếng Lam Sơn
Lương Thủy phú), Châu Cơ thắng thưởng Chinh Tây kỷ hành, Minh lương cẩm tú,
Văn minh cổ xúy, Quỳnh uyển cửu ca, Cổ tâm bách vịnh, Thập giới cô hồn quốc
ngữ văn...
luật Hồng Đức là một trong những thành tựu đáng tự hào nhất của sự nghiệp Lê
Thánh Tông và của cả thời đại ông. Sự ra đời của bộ luật Hồng Đức được xem là
sự kiện đánh dấu trình độ văn minh cao của xã hội Việt Nam hồi thế kỷ 15. Lê
Thánh Tông, người khởi xướng luật Hồng Đức, là người thực hiện nghiêm chỉnh
pháp luật đã ban hành. Ông đã thu lại quyền chỉ huy của tổng quân đô đốc Lê Thiệt
vì con Lê Thiệt giữa ban ngày phóng ngựa trên đường phố và dung túng gia nô
đánh người. Lê Thánh Tông thường bảo với các quan rằng: "Pháp luật là phép tắc
chung của Nhà nước, ta và các người phải cùng tuân theo".
5
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
Lê Thánh Tông cũng là người phát triển những giá trị văn hóa dân tộc. Về
phương diện văn hóa Lê Thánh Tông đã có công tạo lập cho thời đại một nền văn
hóa với một diện mạo riêng, khẳng định một giai đoạn phát triển mới của lịch sử
văn hóa dân tộc. Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông đẩy mạnh
phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài. ở Việt Nam thời phong kiến, chưa bao giờ nền
giáo dục, thi cử lại thịnh đạt cũng như vai trò của trí thức lại được đề cao như đời
Lê Thánh Tông. Ngoài Hàn lâm viện, Quốc sử viện, Nhà Thái học, Quốc Tử Giám
là những cơ quan văn hóa, giáo dục lớn. Lê Thánh Tông còn cho xây kho bí thư
chứa sách, đặc biệt đã sáng lập Hội Tao Đàn bao gồm những nhà văn hóa có tiếng
đương thời mà Lê Thánh Tông là Tao Đàn chủ soái.
Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hồng Đức quốc âm thi tập, Hồng
Đức thiên hạ bản đồ, Thiên Nam dư hạ... là những giá trị văn hóa tiêu biểu của
tự cường dân tộc, động lực mãnh liệt đưa Lê Thánh Tông đạt tới vinh quang trong
sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước hồi thế kỷ 15.
2, Bối cảnh lịch sử trước cải cách của Lê Thánh Tông:
Trước khi đi tìm hiểu cải cách Lê Thánh Tông, chúng ta cần xem xét bối
cảnh của công cuộc cải cách, qua đó mới nhìn nhận được hết các khía cạnh của nú.
Mới nhìn, tưởng rằng cuộc cải cách này chỉ bắt nguồn từ nguyên nhân đơn giản
trước mắt là sự yếu kém của bộ máy hành chính đã được cải tổ từ Lê Thái Tổ đến
Lê Nhân Tông. Nhưng thực tế nú bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa, mà từ Lê Thái
Tổ đến Lê Nhân Tông tuy cũng muốn làm nhưng chưa thực hiện được. Nguyên
nhân trước hết là do khủng hoảng thiết chế chính trị diễn ra từ cuối Trần: Cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý nhà nước và hành chính mang tính phân tán, quyền lực của
nhà nước quân chủ quan liêu trung ương tập quyền bị hạn chế. Cuộc cải cách của
Hồ Quý Ly nhằm thay thế thiết chế quân chủ quý tộc bằng một thiết chế mới quân
chủ quan liêu là đúng đắn, cần thiết, nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và
chủ quan, nú đã thất bại nhanh chóng. Dưới thời thuộc Minh (Trung Quốc), Đại
Việt trở thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh của nhà Minh do ba ty quản lý.
7
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427) thắng lợi. Năm 1428, Lê Lợi lên
ngôi hoàng đế, bắt tay xây dựng cường quốc mới theo thiết chế cũ của nhà Trần. Ở
trung ương, dưới vua là các chức Tả, Hữu tướng quốc, Bình chương, Đại hành
khiển, Tả hữu bộc xạ là những trọng thần giúp vua bàn bạc các “quyền quốc trọng
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
đến nỗi hỏng, mất, đến khi có việc lại đến hạch sách. Còn kẻ coi dân thì chỉ vụ lợi
riêng, không lo nuôi dưỡng dân, hoặc tha cho người giàu, bắt tội người nghèo
mua gỗ làm nhà làm cửa, xử kiện không công bằng, chỉ gây bè phái, lo hối lộ…”.
Ngay trong bản Trung hưng kí, được viết sau khi Lê Thái Tông lên ngôi cũng đã
nêu như sau: “hối lộ công hành… phường dốt đặc nổi dậy như ong…Văn giai như
Đào Công Soạn tuổi gần 80, tế thần như Lê Ê không biết một chữ. Người trẻ
không biết nghĩ, tự ý làm càn; người già không chết đi, thành ra tai hại. Bán quan,
mua ngục, ưa giàu, ghét nghèo…kẻ xiểm nịnh được nghe theo, bọn dạn sát thì
được bổ dụng”.
Thực trạng đó cũng làm cho nhà nước tập quyền thêm suy yếu. Để xây dựng
một nhà nước quân chủ trung ương tập quyền mạnh, đòi hỏi phải chấn chỉnh lại kỉ
cương phép nước, phải cải cách cả thiết chế chính trị, cả về cơ chế vận hành của bộ
máy hành chính từ trung ương đến địa phương, khắc phục tình trạng bất cập giữa
tập trung và phân tán. Tình hình trên đặt ra yêu cầu cần tiến hành một công cuộc
cải cách, đặc biệt là mặt hành chính nhằm chấn chỉnh bộ máy hành chính nhà
nước, xây dựng một nhà nước tập quyền có đủ khả năng ổn định lại tình hình, đưa
đất nước phát triển đi lên. Lê Thánh Tông - Vị vua hiền trong triều đại nhà Lê lên
ngôi đã đảm đương công việc này.
3, Phòng, chống tham nhũng - nhìn từ kinh nghiệm lịch sử dân tộc
Tham nhũng là một "căn bệnh" xuất hiện từ khá sớm trong xã hội loài
người, khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành các tập đoàn quyền lực - "căn
bệnh" mà lực lượng cầm quyền rất dễ mắc phải. Nhìn lại lịch sử, suốt chiều dài
hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, cha ông ta đã sớm nhận biết
được nguy cơ này và có những "phương thuốc đặc trị" với căn bệnh nguy hiểm:
tham nhũng.
9
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
10
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
tổ chức các kỳ "khảo công" nhằm khảo xét việc hay, dở và đánh giá năng lực của
quan lại các cấp. Thời vua Lê Thánh Tông lần đầu tiên áp dụng chế độ thử việc đối
với quan lại. Sau một thời gian bổ nhiệm nhất định, triều đình sẽ căn cứ vào kết
quả công việc của quan lại để có hướng sử dụng tiếp theo. Thanh liêm, trung thực
luôn là những tiêu chí hàng đầu để tuyển chọn quan lại thời kỳ này.
Đến thời nhà Nguyễn, tuy việc tuyển chọn, sử dụng quan lại chưa được xây
dựng một cách bài bản nhưng cách lựa chọn quan lại luôn thể hiện sự chú trọng,
quan tâm, cất nhắc người tài đức. Đây là điểm nổi bật trong việc chọn người điều
hành, quản lý, duy trì trật tự xã hội của triều Nguyễn.
Một biện pháp được coi là kinh nghiệm của các triều đình phong kiến trong
sử dụng quan lại là thực hiện chế độ "hồi ty". Thực chất đây là quy định cụ thể về
việc bổ nhiệm và sử dụng quan lại. Theo đó, quan đứng đầu một địa hạt không
được nhậm chức tại quê mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được có
nhà cửa, đất vườn… trên địa hạt đang cai quản và quan lại phải được dịch chuyển
địa hạt cai quản sau một thời gian nhất định. Với việc thường xuyên thực hiện có
hiệu quả chế độ này, nhà Lê đã hạn chế và ngăn chặn những nguy cơ nảy sinh các
hành vi tiêu cực trong đội ngũ quan lại. Dưới triều Nguyễn, kinh nghiệm trên đã
được nâng lên thành một phương châm sử dụng quan lại. Luật "hồi ty" được vua
Minh Mạng ban bố năm 1831 nhằm nghiêm cấm các hiện tượng tiêu cực trong
thanh tra, xử án, chấm thi… Đến thời vua Thiệu Trị, triều đình bổ sung thêm các
điều khoản trong xử án để tránh tình trạng vì nhận hối lộ, tham nhũng mà bao che,
nhận hàng tháng. Điều này có ý nghĩa lớn về vật chất vì quan lại có thể dựa vào
tiền dưỡng liêm mà giữ gìn liêm khiết của bản thân để có thể làm việc một cách
công tâm. Do đó, tiền dưỡng liêm thực sự là một biện pháp góp phần quan trọng
trong việc ngăn ngừa tham nhũng dưới triều Nguyễn.
Các triều đại phong kiến đã thành lập và duy trì có hiệu quả hoạt động của
các cơ quan giám sát thực quyền.
Song song với việc cải cách, củng cố bộ máy nhà nước, các triều đình phong
kiến còn có cơ chế để giám sát hành vi của đội ngũ quan lại các cấp. Năm 1250,
vua Trần Thái Tông đã đặt ra "Ngự sử đài" là cơ quan có nhiệm vụ giám sát các
hoạt động của quan lại, giữ gìn kỷ cương trong triều đình. Dưới triều vua Lê Thánh
12
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
Tông, vai trò của Ngự sử đài tiếp tục được phát huy. Triều đình đã lập ra "Lục
khoa" là cơ quan thanh tra ở sáu bộ, có trách nhiệm điều tra, phát hiện những việc
làm sai trái của quan lại ở các bộ. Đối với các địa phương, triều đình cho lập cơ
quan "Giám sát Ngự sử" để thường xuyên đi xem xét, kiểm tra công việc ở cấp đạo
trở xuống.
Sau khi lập ra nhà Nguyễn, năm 1804 vua Gia Long đã đặt các chức Đô ngự
sử và Phó đô ngự sử. Năm 1827, vua Minh Mạng đặt thêm các chức Cấp sự trung
và Giám sát ngự sử. Đến năm 1832, vua Minh Mạng chính thức lập ra Đô sát viện
với chức năng chính là phát hiện hành vi sai trái của quan lại trong triều, kể cả
hoàng thân quốc thích. Đồng thời, Đô sát viện cũng có trách nhiệm giám sát việc
thi cử tuyển chọn hiền tài cho triều đình. Hoạt động của cơ quan đặc biệt này đã
nghiêm khắc, bất kể kẻ tham nhũng là quan lại hay hoàng thân quốc thích. Ngay từ
thời nhà Lý đã có những quy định cụ thể về việc trừng trị những hành vi tham ô, ăn
trộm của công. Nhà Lê, trong Bộ luật Hồng Đức đã xác định gần 30 điều khoản
quy định chế tài áp dụng cho các hành vi tham nhũng với những hình luật hết sức
nghiêm khắc tùy theo mức độ mà xử lý, nhẹ thì cách chức, bãi chức; nặng hơn thì
xử lưu (lưu đày đi xa), xử đồ (bắt làm các công việc khổ sai)… hình phạt nặng nhất
có thể là xử chém. Bên cạnh các hình phạt hình sự, tùy từng trường hợp, người có
hành vi tham nhũng còn bị áp dụng thêm một số hình phạt phụ như: phạt tiền, tịch
thu tài sản, biếm tước… Kế thừa những tư tưởng đó, "Luật Gia Long" về sau có 17
quyển quy định riêng về luật hình đối với tội nhận đút lót (hối lộ) và gần 20 điều
14
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
khoản quy định liên quan tới nội dung này. Điều 392 Luật Gia Long quy định:
"Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư kho cũng như
mạo phá vật liệu đem về nhà nếu tang vật thu được lên đến 40 lượng thì bị chém".
Đồng thời, các triều đại phong kiến đã quy định rõ cách thức xử lý tài sản có
được do tham nhũng. Quy định về xử lý tài sản tham nhũng trong Bộ luật Hồng
Đức dựa trên trên nguyên tắc chung nhất, đó là người có hành vi tham nhũng phải
có trách nhiệm bồi thường gấp đôi số tài sản tham nhũng để sung công hoặc trả lại
cho người dân. Đây cũng là nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng được quy định
trong Luật Gia Long của triều Nguyễn. Ví dụ, Điều 138: Quan ty làm trái pháp luật
mà ăn hối lộ, tiền ăn hối lộ xử phạt gấp đôi, nộp vào kho; Điều 560: Lãng phí của
công thì phải bồi thường gấp đôi;… Những hình phạt đối với tội tham nhũng khá
Thuở ấy tại kinh thành Thăng Long có tên trộm rất nổi tiếng. Hắn có tài xuất
qủy nhập thần. Hắn định trộm của ai thì nhà đó dù đã phòng bị, vẫn không thoát.
Là tên trộm lành nghề nhưng hắn được đông đảo nhân dân yêu mến. Bởi hắn
chuyên môn trộm của nhà giàu đem cho người nghèo. Nhân dân còn phong tuớc
hiệu cho hắn là Quận Gió! Hắn đi về, tới lui nhanh như gió. Thoắt ẩn, thoắt hiện. Ở
những nơi không ai ngờ, hắn ngang nhiên xuất hiện. Ở những chốn canh phòng cẩn
mật, không ai có thể lọt qua, hắn vẫn luồn qua được.
16
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
Tiếng đồn về Quận Gió lọt đến tai vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Nhà
vua quyết định cải trang vi hành để tìm hiểu sự thật.
Đã cận giờ giao thừa. Có một người đàn ông trạc 20 tuổi, tìm đến nơi Quận
Gió đang trú ngụ. Người đàn ông tự xưng là môn sinh trường Giám. Năm hết, tết
đến, muốn về quê Thanh Hóa cúng giỗ ông bà. Nhưng nhà nghèo không có tiền
nên đến phiền Quận Gió giúp cho một ít làm lộ phí. Nghe xưng danh là Giám sinh,
Quận Gió hồ hởi nói: - Giúp ai tôi cũng sẵn lòng. Giúp học trò nghèo thì tôi càng
không tiếc sức. Nhưng tôi không có sẳn tiền. Tôi là một đạo chích. Vậy anh muốn
tôi lấy của ai?
- Trộm của phú ông ở cửa Tây - người đàn ông nói.
- Không được! Phú ông ở cửa Tây giàu có là nhờ cày sâu, cuốc bẫm, lao
động vất vả quanh năm suốt tháng trên các cánh đồng các làng Nghi Tàm, Võng
Thị. Không nên lấy của ông ấy, Quận Gió đáp.
truyền đi khắp vương quốc. Dân chúng khấp khởi mừng thầm. Vận nước rối bời
dưới thời vua cha Lê Thái Tông và vua anh Lê Nhân Tông. Nay vua sáng đã xuất
hiện. Bọn quan lại sâu mọt thì cả sợ.
Riêng đối với vua Lê Thánh Tông, chuyến vi hành gặp Quận Gió càng làm
cho ông thêm lo lắng nhiều điều. Ông tại ngôi mới được hai năm. Trước mắt ông là
trăm công nghìn việc quốc gia đại sự phức tạp, khó khăn nhiều bề. Tất cả đều đòi
hỏi phải có cách xử lý nhanh chóng và có hiệu quả. Riêng đối với tệ tham nhũng là
điều làm ông có nhiều trăn trở nhất. Dưới triều vua cha, vua anh, thế nước nghiêng
lệch.
Theo ông, nguyên nhân chính là do nạn tham nhũng. Vào tháng 3 năm1463,
nghĩa là chỉ 3 năm sau khi lên ngôi, trong một buổi chầu ông nói với các quan
rằng: “Người quân tử là cội gốc để tiến lên trị bình, kẻ tiểu nhân là thềm bậc dẫn
đến họa loạn. Ta và các ngươi đã thề với trời đất dùng người quân tử, bỏ kẻ tiểu
nhân, ngày đêm chăm chăm không lơi. Các ngươi chớ có quên đấy !”.
Đấu tranh phòng chống tham nhũng - căn bệnh kinh niên của quan lại, là
cuộc đấu tranh rất khó nhọc. Đó là những kẻ tội đồ trăm đầu, nghìn tay. Chém đầu
18
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
này, đầu khác lại mọc ra. Chặt tay này thì tay khác lại lòi ra. Trong các buổi thiết
triều, ông thường răn dạy các quan lại phải luôn giữ liêm chính.
Có lần vua nói với Thượng thư bộ Hộ Nguyễn Cư Đạo rằng: “Ta khi còn ít
tuổi làm bạn với nhà ngươi. Khi ta lên ngôi báu, ngươi làm quan kinh diên. Về mặt
thần hạ, ngươi với ta là bạn tri kỷ, là bạn học thức. Về mặt vua tôi, ngươi với ta là
quan trở lên thì xử tội chém… (điều 138). Những tội như: “Quan, lại ỷ thế chiếm
đoạt đất đai của lương dân” (điều 370); “Quan, lại lạm dụng chức quyền để chiếm
đoạt ruộng đất công, nuôi nô tỳ quá hạn định” (điều 372); “Quan, lại vay mượn
của dân hay cho dân vay để lấy lãi cao” (điều 638); “Quan phiên trấn sách nhiẽu
dân” (điều 163); “Tôi tớ nhà Công Hầu ỷ thế chiếm ruộng đất, cưỡng bức con
gái”(điều 336); “Quan, lại tự tiện xuống làng xã sách nhiễu nhân dân” (điều 632)
… đều bị nghiêm trị. Như tại điều 639 có quy định: “Các quan Ty tự tiện lấy của
cải, đồ vật của nhân dân dùng vào việc riêng thì xử như tội ăn hối lộ và bồi thường
gấp đôi trả cho nhân dân”...
Rất nhiều quan chức được cất nhắc nhờ nịnh bợ và quà cáp hối lộ, những kẻ
nịnh thần thăng quan nhờ quà cáp hối lộ chắc chắn là vì mình chứ chẳng vì dân,
đó là nguyên nhân chính khiến lòng dân oán thán.
Vào tháng 3 năm 1463, trong một buổi thiết triều, nhà Vua nói: “Người quân
tử là cội gốc để tiến lên trị bình, kẻ tiểu nhân là thềm bậc dẫn đến họa loạn. Ta và
các ngươi đã thề với trời đất dùng người quân tử, bỏ kẻ tiểu nhân, ngày đêm chăm
chăm không lơi. Các ngươi chớ có quên đấy !”
Sau vài năm chống tham nhũng, nhà Vua thấy rằng cần phải có một bộ luật
để rõ ràng để chống tham nhũng. Bộ Luật Hồng Đức được ra đời, định rõ tội danh
và hình phạt với các quan lại tham nhũng, từ đó, nạn tham nhũng dần dần bị đẩy
lùi.
Vua Lê Thánh Tông cũng ra các sắc chỉ nhấn mạnh chống tham nhũng:
– Năm 1475, định lệnh cấm vơ vét xoay tiền trong các việc xây dựng sửa
chữa, kẻ nào mượn cớ và vơ vét xoay tiền thì trị tội như luật xoay tiền.
20
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
Nam ta bấy giờ văn minh thêm ra và lừng lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa
bao giờ cường thịnh đến vậy”.
Mặc dù còn bị hạn chế bởi tư tưởng phong kiến trong quản lý và điều hành
xã hội song nhìn chung các triều đại phong kiến Việt Nam trước đây đều đã chủ
động phòng, chống tệ nạn tham nhũng, trong đó các biện pháp phòng ngừa luôn
luôn được coi trọng. Cụ thể các biện pháp của vua Lê Thánh Tông như sau:
1. Thực hiện chế độ lương bổng và đãi ngộ hợp lý:
Đặt quan để làm việc “tất phải có lương bổng để nuôi, rồi sau mới bắt phải
thanh liêm được”. Bởi vì “người làm quan có đầy đủ thì mới bắt đầu làm điều
thiện”. Mặt khác, triều đình “có gia ơn cho người làm quan thì người làm quan
mới gia ơn cho dân”. Do đó, để cho người làm quan giữ được đức thanh liêm thì
lương bổng phải hậu và phải bảo đảm nuôi sống được họ. Ý thức được điều này,
năm 1473, Lê Thánh Tông định chế độ bổng lộc cho quan lại trong kinh, ngoài
trấn. Theo đó, việc phân cấp bổng lộc được thực hiện dựa theo nguyên tắc: “Những
nơi ít việc và nơi rất ít việc, những chức thong thả và những chức rất thong thả
tiền bổng có khác nhau”. Đối với các quan cùng phẩm hàm nhưng giữ các trọng
trách ở địa phương số tiền lương cũng không có sự khác biệt so với các quan trong
triều nhằm khuyến khích các quan làm việc ở lộ, phủ và để quan lại không vì lương
bổng quá thấp so với quan trong kinh mà sinh ra vơ vét của dân, sinh ra nhũng lạm.
22
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
Ngoài lương bổng, để tăng nguồn thu cho quan lại, Lê Thánh Tông còn ban
“CHÍNH SÁCH CỦA VUA LÊ THÁNH TÔNG
TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG”
bỏ kết quả tuyển dụng: “Phàm quan trong kinh sư và ngoài thừa tuyên, lúc bắt đầu
bổ dụng hãy cho thí nghiệm về công việc làm, người nào trong 3 năm làm đầy đủ
chức vụ không lỗi lầm mới được thực thụ; nếu người nào không làm đủ chức vụ sẽ
bị truất bãi”. Bên cạnh đó, nhà nước Lê Thánh Tông hàng năm còn cử người trong
Lục bộ, Lục tự, Lục khoa đi về các đạo dò xét phẩm cách quan lại các địa phương:
“Nhà vua hạ lệnh cho các quan trong Lục bộ, Lục tự, Lục khoa chọn những nha lại
biết chữ và có hạnh kiểm, mỗi bộ, mỗi tự, mỗi khoa đều chọn lấy hai người để
phân phái đi xét hỏi cặn kẽ về sự đau khổ ở dân gian và chính sự địa phương tốt
hay xấu”. Khi phát hiện trường hợp quan lại tham ô, tham nhũng, triều đình sẽ cử
quan lại có đủ năng lực và phẩm hạnh về địa phương điều tra, nếu quả là người có
lỗi thì chiếu theo luật mà định tội.
Đối với quan lại ở địa phương, chính quyền Lê Thánh Tông đặt cơ quan
giám sát ở 13 đạo có chức năng đàn hặc, kiểm tra, thanh tra quan lại: “Về chức
trách hiến sát sứ và hiến phó sứ ở 13 đạo, thì chuyên giữ các việc trình bày lời nói
phải trái, dò hỏi điều tra và đàn hặc những việc làm trái phép, thẩm cứu xét hỏi
việc ngục tung của quan lại, đi tuần hành”. Hàng năm hoặc bất thường ty Thừa,
Hiến tiến hành kiểm tra, dò xét kỹ tư cách quan lại sau đó tâu lên: “Thừa, Hiến các
xứ phải xét kỹ các quan trong bộ thuộc của mình, hạng liêm khiết, hạng tham ô,
hạng siêng năng, hạng lười biếng... hàng năm có kén chọn để tiến công hay không
tiến công, tiến công nhiều hay ít, đều phải kể tên những quan lại ấy tâu bày lên
cho vua biết, để định sự truất bãi hoặc cất nhắc”. Để bảo đảm tính công bằng,
khách quan cũng như tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào phòng chống tham
ô, tham nhũng, khi thanh tra quan lại địa phương phải dựa vào dư luận của nhân
dân, coi đó là một tiêu chí để đánh giá mức độ liêm khiết của quan lại: “Các quan
vệ sở, phủ, châu, huyện bên ngoài nếu có người đẽo khoét quân lính, mọi hại nhân
dân, chỉ chăm làm lợi cho mình, không lo nghĩ đến phép nước... thì hai ty Thừa,
tích cực nhất ở nước ta thời phong kiến. Bộ luật Hồng Đức được ban hành bao
gồm 722 điều trong đó có gần 40 điều bao hàm nội dung chống tham ô, tham
nhũng, trừng trị hành vi đục khoét, lợi dụng chức vụ và quyền lực để sách nhiễu
dân lành... Đối với hành vi ăn hối lộ, một số điều luật quy định: “Quan ty làm trái
25
Bài thảo luận môn Luật Phòng chống tham nhũng
Lớp B3DS1