ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** Phạm Thị Huệ
Thanh tra và vấn đề phòng chống tham
nhũng
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà nội – 2006
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 9
CUỘC ĐẤU TRANH PHÕNG, CHỐNG THAM NHŨNG 84
3.1. Quan điểm phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay 84
3.1.1. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố hệ thống chính trị
và khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Ðảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh 84
3.1.2. Trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng vừa tích cực, chủ động phòng ngừa
vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính. 85
3.1.3. Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài;
phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực và
có trọng tâm, trọng điểm. 86
3.1.4. Chống tham nhũng phải gắn với việc đổi mới công tác tổ chức cán bộ, xây
dựng rõ chế độ trách nhiệm của cán bộ, công chức, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức. 87
2
3.1.5. Chống tham nhũng phải gắn liền với mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát
huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước, kế
thừa truyền thống tốt đẹp của dân dộc, chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có
chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài. 90
3.2. Giải pháp và kiến nghị đổi mới công tác thanh tra nhằm góp phần nâng cao hiệu
quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng. 92
3.2.1. Đổi mới nhận thức và quan điểm đối với hoạt động thanh tra 92
3.2.2. Hoàn thiện thể chế thanh tra 94
3.2.3. Kiện toàn tổ chức, hoạt động của các cơ quan Thanh tra 98
3.2.4. Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực cho cán bộ, thanh tra
viên nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. 101
3.2.5. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra với các cơ quan kiểm toán,
điều tra, viện kiểm sát trong phòng, chống tham nhũng 104
KẾT LUẬN 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
càng nghiêm trọng. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh hơn nữa cuộc
chiến chống tham nhũng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, phải phát huy sức
mạnh tổng hợp của nhân dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của
Đảng bằng nhiều giải pháp tích cực, kiên quyết và triệt để, các giải pháp phải
mang tính đồng bộ và theo lộ trình nhất định.
Trong bối cảnh đó, với việc Việt nam ký kết Công ước của Liên hợp
quốc về chống tham nhũng; tham gia Chương trình hành động chống tham
nhũng khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Chương trình hành động chống
tham nhũng trong khuôn khổ APEC; ban hành Luật phòng, chống tham nhũng
năm 2005 càng khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc
đấu tranh chống tham nhũng.
1.2. Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện
nay, những biện pháp mang tính phòng ngừa là chủ yếu và có ý nghĩa
quan trọng. Bởi lẽ, những biện pháp này nhằm mục đích thủ tiêu những
nguyên nhân và điều kiện sản sinh ra tham nhũng. Do vậy, các biện pháp
phòng ngừa rất được chú trọng áp dụng trong cuộc đấu tranh này như: Các
biện pháp quản lý; pháp luật; biện pháp tổ chức…trong đó có hoạt động thanh
tra, kiểm tra, giám sát. Hoạt động thanh tra của hệ thống thanh tra hành chính,
thanh tra chuyên ngành sẽ phát hiện kịp thời những thiếu sót, sơ hở trong cơ
chế quản lý nhà nước, từ đó đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện
là biện pháp phòng ngừa nạn tham nhũng hữu hiệu nhất ở nước ta hiện nay.
Chính vì vai trò quan trọng của công tác thanh tra trong đấu tranh
phòng, chống tham nhũng nên trong Luật phòng, chống tham nhũng đã quy
định việc thành lập đơn vị chuyên trách chống tham nhũng trong Thanh tra
Chính phủ và xác định Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm “Tổ chức, chỉ
3
đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật
về phòng, chống tham nhũng …” và “xây dựng hệ thống dữ liệu chung về
phòng, chống tham nhũng” (Điều 76 Luật phòng, chống tham nhũng năm
Đảng chủ trì, năm 1997; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Tham nhũng và
phòng chống tham nhũng trong xây dựng cơ bản” do Bộ Công an chủ trì năm
2000; Luận văn tiến sĩ luật “Tình hình, nguyên nhân và các biện pháp đấu
tranh chống tội phạm tham nhũng” của Trần Công Phàn, năm 2002; Dự án
“Nghiên cứu đấu tranh chống tham nhũng” của Ban Nội chính trung ương do
SIDA tài trợ kết thúc năm 2005; Hiện nay Thanh tra Chính phủ đang chủ trì
nghiên cứu đề tài độc lập cấp Nhà nước về “Luận cứ khoa học cho việc xây
dựng chiến lược phòng ngừa và nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tham
nhũng ở Việt Nam đến năm 2020”; các bài nghiên cứu, bài viết của các nhà
báo, chuyên gia về lĩnh vực này như: “Tham nhũng và chống tham nhũng ở
nước ta”, Vũ Xuân Kiều, Tạp chí Cộng sản số 12-1996; “Tham nhũng: nhận
diện từ các khía cạnh pháp lý và cơ sở pháp lý mới” của GS,TS Đào Trí Úc,
Viện trưởng Viện NN&PL đăng trên Tạp chí Cộng sản số 2-1997; Phòng,
chống tham nhũng trong tình hình hiện nay”, Vũ Quốc Hùng, Tạp chí Xây
dựng Đảng số 9-2004;…
Các công trình, bài cáo nêu trên đã nghiên cứu những khía cạnh khác
nhau về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trên cơ sở nghiên cứu
những vấn đề lý luận và thực tiễn về tham nhũng tại Việt nam trong giai đoạn
hiên nay. Nhưng có thể nói, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên
cứu một cách tổng quát vai trò của công tác thanh tra đối với cuộc đấu tranh
phòng, chống tham nhũng trong bối cảnh xã hội hiện nay.
Việc nghiên cứu Luận văn này được tiến hành trong khi Việt nam đang
5
xây dựng những văn bản hướng dẫn thi hành Luật phòng, chống tham nhũng
và Luật Thanh tra nhằm tạo ra một cơ chế phòng ngừa tham nhũng có hiệu
quả trong bối cảnh Việt nam đang chuẩn bị gia nhập Công ước Chống tham
nhũng của Liên hợp quốc. Trên cơ sở kế thừa những kết quản nghiên cứu và
tổng kết vai trò của công tác thanh tra với đấu tranh phòng, chống tham nhũng
trên thế giới và trong lịch sử Việt nam, luận văn đã tiếp cận và tập trung vào
công tác thanh tra là công cụ phòng, chống tham nhũng hữu hiệu.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Việc nghiên cứu luận văn này được dựa trên cơ sở phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ
Chí Minh về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng; Tư tưởng Hồ Chí
Minh về vài trò của công tác thanh tra trong quản lý Nhà nước nói chung và
phòng, chống tham nhũng nói riêng; xem xét công tác thanh tra chống phòng,
tham nhũng trên quan điểm lịch sử cụ thể, qua từng thời kỳ của cách mạng
Việt nam.
-Việc nghiên cứu đề tài của luận văn dựa trên phương pháp duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lê Nin về nhà nước và pháp luật, đồng thời đứng trên
quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa.
- Bên cạnh đó, tác giả đã vận dụng các phương pháp, so sánh, phân
tích, tổng hợp, thống kê, tổng kết thực tiễn để xem xét, giải quyết các vấn đề
cụ tể về lý luận và thực tiễn.
7
6. Ý nghĩa của luận văn
Trong điều kiện tham nhũng đang phát triển tràn lan với mức độ ngày
càng nghiêm trọng như hiện nay, việc tìm ra nguyên nhân và đưa ra những đề
xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng
thông qua thanh tra (một lĩnh vực hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng trong
phòng ngừa và chống tham nhũng) là vấn đề có ý nghĩa hết sức lớn. Mặt khác
việc nghiên cứu đề tài còn góp phần làm rõ những vẫn đề lý luận để xem xét,
đánh giá những những mặt tích cực cũng như những hạn chế của công tác thanh
tra trong phòng, chống tham nhũng hiện nay, trên cơ sở đó xác định phương
hướng đổi mới nâng cao vai trò của hoạt động này trong thời gian tới.
7. Kết quả nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tham nhũng và
bẩm sinh của “quyền lực”, là loại tội phạm cực kỳ nguy hiểm bởi tính chất và
hậu quả mà nó gây ra. Có thể nói, tham nhũng có từ rất lâu và cũng có rất
nhiều cách hiểu về khái niệm này xuất phát từ điều kiện, đặc thù riêng của
mỗi quốc gia và phương pháp tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu.
Từ điển Bách khoa của Brue Khaus Cộng hoà Liên Bang Đức nêu khái
niệm: “Tham nhũng là hiện tượng mất phẩm chất, hối lộ, đút lót, thường xảy
ra đối với công chức có quyền hành”
[21,10]
. Người Áo cho rằng: “Tham nhũng
là hiện tượng lừa đảo, hối lộ, bóc lột”
[21,10]
. Các chuyên gia của Ngân Hàng
thế giới và Tổ chức minh bạch quốc tế lại cho rằng: “Tham nhũng có thể được
định nghĩa như là sự làm dụng quyền lực công để mưu cầu lợi ích cá nhân hay
một lợi ích của một nhóm người mà ta phải trung thành với nó”
[45,28]
.
Theo tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế
chống tham nhũng (năm 1969) thì tham nhũng được định nghĩa đơn giản,
trong một phạm vi hẹp, đó là "sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi
riêng”. Còn theo định nghĩa của Ban nghiên cứu của Hội đồng châu Âu thì
khái niệm tham nhũng đã có sự phát triển rộng hơn, bao gồm hành vi hối lộ
và bất kỳ một hành vi nào khác của những người được giao thực hiện một
trách nhiệm nào đó trong khu vực nhà nước hoặc tư nhân nhưng đã vi phạm
10
trách nhiệm được giao để thu bất kỳ một thứ lợi bất hợp pháp nào cho cá nhân
hoặc cho người khác
[21,108].
11
Có thể nhận thấy, quan niệm về tham nhũng ở các nước trên thế giới
không giống nhau tuỳ thuộc vào truyền thống lịch sử, yếu tố văn hoá, điều
kiện kinh tế - xã hội, tình hình tham nhũng và phương pháp tiếp cận. Nhìn
chung, tồn tại hai loại khái niệm phổ biến nhất về tham nhũng:
- Khái niệm tham nhũng được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm hành vi
của mọi chủ thể có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn
và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Chủ thể
của hành vi tham nhũng có thể là cán bộ, công chức, viên chức hoặc người
khác thuộc khu vực nhà nước hoặc khu vực tư nhân.
- Theo nghĩa hẹp thì tham nhũng được hiểu là hành vi của người có
chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nước đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn
đó vì vụ lợi, tức là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn,
tài sản của Nhà nước.
Quan niệm thứ hai được thừa nhận rộng rãi hơn cả và là khái niệm
chính thống được pháp luật Việt Nam quy định (trong Luật phòng, chống
tham nhũng). Trong luận văn này, tác giả cũng tiếp cận và phân tích tham
nhũng dưới góc độ này nhằm nêu bật được vai trò của thanh tra với tư cách là
một thiết chế quyền lực công đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham
nhũng trong giai đoạn hiện nay.
Ngoài ra, việc pháp luật của Việt nam quy định giới hạn phạm vi hẹp
như vậy là để nhằm bảo đảm cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng tập trung
vào những hành vi tham nhũng xảy ra phổ biến nhất, bảo đảm tính trọng tâm,
trọng điểm nhằm nâng cao hiệu quả trong đấu tranh chống tham nhũng. Đồng
thời bảo đảm cho khu vực tư phát triển, khuyến khích đầu tư nước ngoài với
việc bảo đảm các quyền tài sản của công dân, quyền bí mật trong kinh doanh,
quyền cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp.
12
Với quan niệm này, tham nhũng được coi là hành vi của người có
cấp thấp…
1.1.2. Nguồn gốc và nguyên nhân của tham nhũng
Có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc và nguyên nhân của
tham nhũng, và thực tế cũng có nhiều nguyên nhân dẫn đến tệ nạn tham
nhũng, có nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân
trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp, nguyên nhân phổ biến và nguyên nhân đặc
thù. Trên cơ sở nghiên cứu hành vi tham nhũng gắn liền với sự ra đời và phát
triển của Nhà nước, trong luận văn này, tác giả tiếp cận nguồn gốc và nguyên
nhân của tham nhũng ở hai mặt chủ quan và khách quan như sau:
1.1.2.1. Nguyên nhân khách quan.
a) Tham nhũng là căn bệnh của xã hội, xuất hiện từ khi có giai cấp
Tham nhũng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện cùng với sự ra đời của
Nhà nước và tồn tại song song cũng với sự phát triển của Nhà nước. Trong xã
hội cộng sản nguyên thuỷ chưa có giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật,
quyền lực tồn tại trong xã hội để quản lý các công việc của xã hội là quyền
lực xã hội, nó chưa tách khỏi xã hội mà gắn liền với xã hội, hoà nhập với xã
hội. Vì cơ sở kinh tế của xã hội là chế độ công hữu, không ai có tài sản riêng,
mọi người bình đẳng về địa vị và quyền lợi kinh tế, họ cùng nhau quản lý tài
sản công, do đó trong xã hội không có tình trạng tham nhũng. Khi trong xã
hội bắt đầu có sự phân chia thành các giai cấp có lợi ích đối lập nhau, luôn
đấu tranh để bảo vệ lợi ích của mình. Từ đó, đã xuất hiện nhà nước, với tư
cách là cơ quan quyền lực nhằm điều hoà những lợi ích khách quan, thậm chí
đối lập nhau giữa cá nhân với cá nhân, giữa tập đoàn người này với tập đoàn
14
người khác, giữa cá nhân hoặc tập đoàn người và xã hội. Quyền lực bao giờ
cũng được thực thi thông qua con người cụ thể và một khi những con người
cụ thể đó sử dụng quyền lực được nhà nước trao cho mình để vụ lợi thì hành
vi đó là hành vi tham nhũng. Như vậy, trong xã hội có giai cấp, có Nhà nước
là có sự xuất hiện của tham nhũng.
chẽ còn nhiều hạn chế, sơ hở, dễ bị lợi dụng để thực hiện hành vi tư lợi cá
nhân. Bộ máy nhà nước cồng kềnh, nhiều tầng nấc, hoạt động kém hiệu quả,
năng lực quản lý điều hành đất nước còn nhiều hạn chế. Trong quản lý hành
chính, vẫn còn nhiều những quy định thiếu thực tế và không cần thiết; định
nghĩa và tiêu chuẩn áp dụng không rõ ràng trong nội dung các quy định, thể
chế pháp luật; thủ tục hành chính phức tạp, rườm rà là môi trường để nạn
nhũng nhiễu, hạch sách dân chúng nảy sinh trong cán bộ công chức, tâm lý
thích ăn đút lót nhằm bù đắp thu nhập vốn rất thấp của cán bộ, công chức vẫn
thịnh hành.
c) Do tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường bên cạnh tính tích cực cũng là một nguyên nhân
làm xuất hiện tham nhũng và có thể làm cho tình trạng tham nhũng đã có trở
nên trầm trọng hơn. Qua gần hai mươi năm phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh những thành tích đã đạt được, chúng
ta cũng phải đối mặt mới những tiêu cực, hạn chế là mặt trái của cơ chế thị
trường. Đó là sự cạnh tranh khốc liệt, những khoản lợi nhuận khổng lồ mà sự
thông thoáng của cơ chế thị trường có thể mang lại đã hình thành tâm lý làm
giầu tối đa của các nhà kinh doanh. Sức hấp dẫn của đồng tiền làm cho người
sản xuất, kinh doanh có xu hướng tối đa hóa lợi nhuận bằng mọi giá, và họ
16
luôn tìm cách hối lộ, đút lót, móc ngoặc với công chức nhà nước để tạo lợi thế
trong kinh doanh. Cơ chế kiểm soát tài chính lại chưa đủ mạnh để có thể hạn
chế những mối liên kết này, do vậy, những lỗ hổng trong cơ chế, chính sách
đã bị lợi dụng tối đa để thu lợi bất chính.
Trong bối cảnh đó, cơ chế quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường
vẫn còn mang nặng dấu ấn sự can thiệp của nhà nước. Những Tổng công ty,
doanh nghiệp nhà nước với những ưu đãi về thuế và nhiều ưu đãi khác vẫn chi
phối thu nhập quốc dân. Những yếu tố này đã tạo ra sự bất bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế. Mặt khác, thủ tục cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, vay
dụng quyền lực, địa vị và chức vụ đó để chiếm đoạt dưới mọi hình thức giá trị
tiền bạc, của cải của Nhà nước, xã hội và người khác nhằm thoả mãn nhu cầu
lợi ích của bản thân. Nói cách khác, nguy cơ xảy ra tham nhũng luôn tiềm
tàng trong những người có chức vụ, quyền hạn nếu như họ không thắng được
cái “tôi” trong người họ, nếu không đủ bản lĩnh, phẩm chất, thì khi có điều
kiện họ sẽ dễ lợi dụng ưu thế để giành lấy lợi ích cho riêng mình. Như vậy,
vấn đề lợi ích là yếu tố chủ quan dẫn đến tham nhũng. Khi yếu tố lợi ích kết
hợp với sự tham lam, tha hoá, biến chất, xuống cấp về đạo đức của những
người có chức vụ, quyền hạn thì khả năng xảy ra tham nhũng là rất cao.
Trong thời kỳ đổi mới ở nước ta, trước tác động của mặt trái nền kinh
tế thị trường, một bộ phận cán bộ, đảng viên đã bị thói tham lam, tính ích kỷ,
cá nhân chi phối, họ không cưỡng lại được sức hút to lớn của những lợi ích
mờ ám dẫn đến vi phạm pháp luật, tham nhũng. Đạo đức “cần, kiệm, liêm,
chính” nhiều khi bị chủ nghĩa thực dụng, cá nhân lấn át.
Chế độ tiền lương tuy đã có bước cải cách nhưng vẫn chưa bảo đảm
nhu cầu cuộc sống của nhiều cán bộ, công chức, khiến họ luôn có nhu cầu
18
kiếm thêm để bù đắp thu nhập thấp, do vậy dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng
khi có điều kiện, cơ hội. Tiền lương thấp cộng với áp lực của các nhu cầu sinh
hoạt của bản thân, của con cái, gia đình trong nền kinh tế thị trường đã khiến
cho một số cán bộ, công chức không giữ được mình nên đã tham nhũng.
Trong khi cơ chế chính sách không được quy định cụ thể, rõ ràng, minh
bạch, chế độ tiền lương chưa thoả đáng thì vẫn còn tồn tại những suy nghĩ
“phải tin tưởng vào cán bộ” của mình chứ, họ không xấu xa, không lợi dụng
những sơ hở của chính sách, pháp luật để tham nhũng đâu. Đây chính là sai
lầm làm cho tham nhũng phát triển.
Nghị quyết Đại hội Đảng Toàn quốc lần X chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ
quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra
Thứ nhất, Tham nhũng gây thiệt hại rất lớn về tài sản của nhà nước, của
tập thể và của nhân dân.
Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, đã lợi dụng
chức vụ, quyền hạn đó để thực hiện các hành vi trái pháp luật nhằm chiếm
đoạt tài sản hoặc các lợi ích bất hợp pháp khác. Với động cơ vụ lợi, một số
người đã lợi dụng vị trí của mình trong bộ máy nhà nước hoặc lợi dụng những
quyền hạn nhất định được pháp luật hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
giao cho để thực hiện các hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc các lợi ích khác của
nhà nước, của tập thể hoặc cá nhân. Hậu quả của hành vi tham nhũng không
chỉ là việc tài sản, lợi ích của nhà nước, của tập thể hoặc của cá nhân bị xâm
phạm, biến thành tài sản riêng của người thực hiện hành vi tham nhũng mà nó
còn làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Thậm chí nó còn làm đất nước tụt hậu xa hơn về kinh tế, khoa học, công
nghệ, làm thất thoát nguồn lực đầu tư dẫn đến là giảm hiệu quả sử dụng
20
nguồn vốn từ ngân sách nhà nước hoặc vốn vay nước ngoài, tiếp nhận những
công nghệ lạc hậu, v.v.
Thứ hai, tham nhũng làm chậm quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
các quốc gia.
Kết qủa nghiên cứu trên thế giới cho thấy, tham nhũng thường xảy ra ở
mức độ nghiêm trọng ở các nước đang phát triển và chậm phát triển. Tệ tham
nhũng là nguy cơ làm cho các quốc gia này bị tụt hậu xa hơn về kinh tế so với
các nước phát triển. Bởi tham nhũng là nguyên nhân khiến các nước nghèo sử
dụng không có hiệu qủa các nguồn đầu tư trong nước và nước ngoài cho phát
triển kinh tế - xã hội. Ở Việt nam, tham nhũng là trở lực lớn đối với quá trình
đổi mới. Ngoài sự yếu kém về thể chế, trình độ quản lý, thì ngay cả những
quan điểm, chủ trương và tư duy đổi mới cùng cơ chế, chính sách, pháp luật
đúng đắn phù hợp đã bị những kẻ tham nhũng bóp méo làm công cụ để thực
hiện những lợi ích cá nhân. Tham nhũng đã biến sự thông thoáng của cơ chế,
có sự cấu kết, móc ngoặc, thông đồng giữa các công chức để cùng đục khoét
tài sản của nhà nước. Điều đáng báo động là việc tham nhũng, ăn hối lộ
dường như đã trở thành thói quen của một số cán bộ, công chức. Bộ máy nhà
nước ta đang yếu đi đáng kể, hiệu quả, hiệu lực của công tác quản lý bị giảm
sút nghiêm trọng bởi chính sự tha hoá biến chất của một bộ phận những người
đang có trách nhiệm trong bộ máy đó. Nghị quyết Đại hội Đảng X đã khẳng
định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ
hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ
phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”. Đây là một thực trạng đáng
báo động không những cho tình hình kinh tế – xã hội mà cho cả thể chế của
22
chúng ta trong quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước, tiến hành sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Thứ tư, Tham nhũng tạo ra sự mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựng đất nước và đến một chừng mực nào
đó gây mất ổn định chính trị, kinh tế - xã hội.
Theo Robert Klitgaard, một chuyên gia chống tham nhũng của Hoa kỳ
thì: “Tham nhũng là một vấn đề nhạy cảm, nhiều công dân các nước đang
phát triển đã ngần ngại đề cập chủ đề này, đơn giản là vì nó đã làm cho họ
quá mệt mỏi. Họ đã từng thấy các nhà lãnh đạo lên gân, lên cốt lý thuyết về
đạo đức nhưng lại đấu tranh chống tham nhũng một cách nửa vời và chẳng
đem lại hiệu quả gì…”
[21,23]
. Ở nhiều nước đang phát triển, quan điểm thất bại
và sự tuyệt vọng là hai cách phản ứng duy nhất của nhân dân đối với nạn
tham nhũng ngày một thêm trầm trọng.
Trong những năm qua tại Việt nam, tệ tham nhũng đã diễn ra ở mức độ
nghiêm trọng. Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp trung ương, tại những
chương trình, dự án lớn, nó còn tràn làn trong các cấp chính quyền cơ sở là cơ