LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại lý LUẬN và THỰC TIỄN về CHỌN LUẬT áp DỤNG TRONG hợp ĐỒNG MUA bán HÀNG hóa QUỐC tế – đề XUẤT CHO VIỆT NAM - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2009 – 2013

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA QUỐC TẾ – ĐỀ XUẤT CHO VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:
ThS. Lê Minh Trung

Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Văn Sáng
MSSV: 5095458
Lớp: Luật thương mại 2 – K35

CẦN THƠ, 2013


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..
………………………………………………………………………………………..


LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 2
5. Kết cấu luận văn............................................................................................. 2
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ ..................................................... 4
1.1. Một số vấn đề chung về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ............ 4
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................. 4
1.1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa ............................................... 4
1.1.1.2. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ................................... 5
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế ................................... 8
1.1.2.1. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ................................ 8
1.1.2.2. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ............................ 9
1.1.2.3. Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế ...... 11
1.1.2.4. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ........................... 11
1.1.3. Vai trò của hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại quốc tế ......... 12

1.2. Chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ........ 13
1.2.1. Khái niệm về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế ...................................................................................................................... 13
1.2.2. Vai trò của việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế .............................................................................................................. 13

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

SVTH: Huỳnh Văn Sáng

2.3.5. Quy phạm xung đột của Việt Nam xác định hệ thống pháp luật của nước
nào sẽ được sử dụng để điều chỉnh quan hệ hợp đồng ....................................... 32

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam

2.4. Hạn chế sự áp dụng của luật trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế được lựa chọn bởi các bên ................................................................ 33
2.4.1. Trong một số trường hợp, các bên chỉ được chọn pháp luật nước ngoài khi
pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể .................................................. 33
2.4.2. Chọn pháp luật nước ngoài nhưng việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp
dụng pháp luật nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam.................................................................................................................. 34

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP
ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN
Ở VIỆT NAM ...................................................................................................... 36
3.1. Thực trạng chọn luật áp dụng và những hạn chế trong việc chọn luật
áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ở Việt Nam .......... 36
3.1.1. Thực trạng chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
ở Việt Nam. ...................................................................................................... 36
3.1.2 Những hạn chế trong việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán
hàng hoá quốc tế ở Việt Nam............................................................................ 38

3.2. Những đề xuất hoàn thiện việc chọn luật áp dụng đối với hợp đồng

Do tính chất đặc thù của hợp đồng quốc tế là loại hợp đồng có liên quan đến
hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, nên trong quá trình giao kết và thực hiện
đã gây ra không ít những vấn đề pháp lý phức tạp. Đặc biệt, khi phát sinh các tranh
chấp về hợp đồng trong lĩnh vực thương mại quốc tế, các bên trong tranh chấp thường
lúng túng, không biết việc giải quyết các tranh chấp đó sẽ ra sao?, hậu quả pháp lý
như thế nào do không hiểu biết về hệ thống pháp luật sẽ được đem ra áp dụng để giải
quyết tranh chấp?.
Nhận thấy tầm quan trọng cũng như sự quan tâm của nhiều người về vấn đề
nêu trên, người viết đã đi sâu nghiên cứu đề tài: “Lý luận và thực tiễn về chọn luật
áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - đề xuất cho Việt Nam”.
GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 1

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam

2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống
các quy định hiện hành của pháp luật về chọn luật áp dụng cho HĐMBHHQT giữa
các bên cũng như thực tiễn thi hành các quy định này, đồng thời có sự so sánh giữa
các quy định của luật và thực tiễn thực hiện. Bên cạnh đó người viết cũng so sánh
giữa quy định của Việt Nam với các nước về vấn đề được đặt ra. Từ đó sẽ tìm ra
những thiếu sót, bất cập trong các quy định của luật về vấn đề liên quan, sau cùng là
đề xuất phương hướng hoàn thiện để nhằm góp phần thu hẹp dần sự khác biệt giữa
pháp luật quốc gia với pháp luật các nước.


chung của HĐMBHHQT, khái niệm, vai trò của chọn luật áp dụng cũng như nguồn
luật điều chỉnh trong HĐMBHHQT.
Chương 2. CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HOÁ QUỐC TẾ - LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN. Chương 2 đi chi tiết vào các nguyên tắc
chọn luật áp dụng trong HĐMBHHQT, hạn chế trong việc chọn luật trong
HĐMBHHQT.
Chương 3. THỰC TRẠNG CHỌN LUẬT ÁP DỤNG TRONG HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN Ở VIỆT NAM.
Chương cuối là những thực trạng, hạn chế và đề xuất những hướng hoàn thiện về việc
chọn luật áp dụng trong HĐMBHHQT ở Việt Nam.
Mặc dù đã cố gắng hết sức trong quá trình nghiên cứu luận văn nhưng do đây
là vấn đề còn khá mới mẽ, thời gian nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo còn hạn
chế. Quan trọng hơn hết, do kiến thức của người viết còn hạn hẹp, lại chưa có điều
kiện tiếp cận nhiều với thực tiễn do đó có những ý tưởng trong luận văn phần lớn
mang tính lý thuyết và có thể không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy,
người viết hy vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và bạn đọc để
bài viết này được hoàn thiện tốt hơn.
Xin chân thành cảm ơn!

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 3

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam

CHƯƠNG 1

Trang 4

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam
theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua
có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán. Như vậy, hợp đồng mua bán hàng
hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong pháp
luật dân sự (hiểu theo nghĩa rộng).
1.1.1.2. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hoạt động thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể
khác nhau vượt quá biên giới lãnh thổ của một quốc gia, hoạt động thương mại quốc
tế chủ yếu là hoạt động xuất nhập khẩu. Công cụ pháp lý được sử dụng cho hoạt động
này chính là hợp đồng.
Hiện nay có rất nhiều tên gọi khác nhau cho loại hợp đồng này: Hợp đồng
mua bán trong tư pháp, hợp đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng xuất nhập khẩu
hàng hóa, hợp đồng mua bán quốc tế, hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân
nước ngoài,…Tuy có nhiều cách gọi khác nhau nhưng tất cả đều có chung một cách
nhìn đó là hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất quốc tế.
Mặc dù có chung cách nhìn nhận về hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất
quốc tế, nhưng cách hiểu của các nước lại khác nhau.
Theo tinh thần Điều 1 của Công ước Lahaye 1964 về mua bán quốc tế động
sản hữu hình thì một hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là HĐMBHHQT khi các
bên chủ thể có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hóa trong hợp đồng
được dịch chuyển qua biên giới và hợp đồng được xác lập ở các nước khác nhau.
Theo khoản 1 Điều 1 của Công ước Viên 1980 về HĐMBHHQT, yếu tố nước ngoài
của hợp đồng là yếu tố chủ thể của hợp đồng. Chủ thể của hợp đồng là các bên có trụ
sở thương mại ở các nước khác nhau. Cả hai công ước đều không đề cập đến yếu tố

hợp đồng tao ra sự di chuyển qua lại biên giới các giá trị trao đổi tương ứng giữa hai
nước.
Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam cũng không quy định về khái niệm
của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hoặc yếu tố quốc tế, nước ngoài của hợp
đồng mua bán hàng hóa mà chỉ có định nghĩa về mua bán hàng hoá quốc tế tại Điều
27 Luật thương mại 2005 như sau:
“1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu,
nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.
2. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng
văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”.
Từ đó có thể suy luận rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật
Việt Nam là văn bản thỏa thuận của các cá nhân, tổ chức trong việc xuất khẩu, nhập

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 6

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam
khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu hàng hóa. Hai hay nhiều
bên tham gia giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế - một loại giao dịch dân sự2 hoặc
giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - một loại hợp đồng dân sự3 theo pháp
luật Việt Nam có thể là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài
có nơi cư trú hoặc trụ sở ở Việt Nam hoặc nước ngoài. Nghĩa là, theo quy định của
Luật thương mại 2005, hoạt động mua bán hàng hóa được coi là mua bán hàng hóa
quốc tế không phụ thuộc vào nơi cư trú, trụ sở hay quốc tịch của các bên là Việt Nam
hay nước ngoài. Luật thương mại 2005 lấy tiêu chí vận chuyển hàng hóa qua biên


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam
- Các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập,
thay đổi, chấm dứt quan hệ mua bán hàng hóa theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại
nước ngoài.
- Hàng hóa - đối tượng mua bán ở nước ngoài.
Trong khi đó, “mua bán hàng hóa quốc tế” theo Luật thương mại 2005 chỉ căn
cứ vào tiêu chí duy nhất là hàng hóa được vận chuyển qua biên giới.
Về nguyên tắc, Bộ luật dân sự với tư cách là đạo luật “gốc” sẽ có hiệu lực áp
dụng đối với các hoạt động thương mại chưa được điều chỉnh bởi Luật Thương mại.
Theo khoản 3 Điều 4 Luật thương mại 2005: “Hoạt động thương mại không được quy
định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật
dân sự”.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và HĐMBHHQT có một số điểm
tương đồng như: bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho
bên mua và nhận thanh toán còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận
hàng và chuyển quyền sở hữu (Điều 428 Bộ luật dân sự 2005; khoản 8 Điều 3 Luật
thương mại 2005). Trong khoa học pháp lý có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này,
song theo người viết HĐMBHHQT khác với hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước
ở tính quốc tế của nó (tính quốc tế của hợp đồng đã được phân tích ở phần khái niệm).
Chính tính quốc tế của hợp đồng đã làm cho HĐMBHHQT có những đặc điểm quan
trọng.
1.1.2.1. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Trên thực tế thì pháp luật thương mại quốc tế không có sự điều chỉnh đặc biệt
nào đối với chủ thể của HĐMBHHQT. Điều này được giải thích bởi chủ thể của hoạt
động này (pháp nhân hay cá nhân – thương nhân) có được quyền ký kết hợp đồng hay
không thì phải phù hợp với pháp luật quốc gia áp dụng đối với các chủ thể đó. Theo
quy định của pháp luật Việt Nam, HĐMBHHQT được coi là hợp pháp khi chủ thể của

Công ước Viên 1980 không đưa ra một khái niệm trực tiếp về hàng hóa.
Nhưng tại Điều 2 Công ước có quy định: Công ước sẽ không áp dụng trong các
trường hợp mua bán đấu giá, hàng hóa dùng cho cá nhân, mua chứng khoán, tàu thủy,
máy bay,… Vậy ta có thể nói rằng, việc mua bán hàng hóa ngoài những hàng hóa mà
Điều 2 Công ước Viên 1980 quy định thì đó chính là đối tượng của HĐMBHHQT.

Giáo trình luật hợp đồng thương mại quốc tế - Khoa kinh tế - Trường Đại học quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh, Nxb.Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tr.11.
5
Nguyễn Vũ Hoàng: Về các tiêu chí xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 11 (187)/2003, tr.25.
4

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 9

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam
Ở Việt Nam, khái niệm hàng hóa được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật
thương mại 2005. Theo đó, hàng hóa là tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình
thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất.
Như vậy, pháp luật các nước nói chung có những quan điểm khác nhau về
hàng hóa. Sự khác nhau này dẫn đến hệ quả là cùng một thực thể nhưng theo pháp
luật nước này thì được phép mua bán, còn theo pháp luật nước khác thì có thể bị cấm
mua bán.
Đối với các HĐMBHHQT thông thường hàng hóa được mua bán sẽ được dịch

tệ. Trong HĐMBHHQT, các bên có thể thỏa thuận chọn đồng tiền thanh toán là đồng
tiền của nước người mua, nước người bán hoặc của một nước thứ ba nào đó. Do đó,
đồng tiền thanh toán trong HĐMBHHQT thường là ngoại tệ đối với ít nhất một bên
hoặc cả hai bên của hợp đồng. Ví dụ, một doanh nghiệp Việt Nam bán một lô hàng
thủy sản đông lạnh cho một doanh nghiệp Mỹ. Các bên chọn đồng tiền thanh toán là
đồng đô la Mỹ. Đồng đô la Mỹ là ngoại tệ đối với doanh nghiệp Việt Nam. Trong
trường hợp nếu hai bên của hợp đồng thỏa thuận là thanh toán bằng đồng EURO thì
lúc này đồng EURO là ngoại tệ đối với cả hai bên Việt Nam và Mỹ. Nếu các bên có
thỏa thuận động tiền thanh toán là của nước thứ ba thì nên sử dụng đồng USD hoặc
đồng EURO để thanh toán vì tương đối ổn định và thường được sử dụng rộng rải hơn
các loại tiền tệ khác.
1.1.2.4. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Một hợp đồng có hiệu lực khi nó được các bên ký kết theo hình thức do luật
định. Pháp luật của nhiều nước cho phép các bên được tự do trong việc lựa chọn hình
thức của hợp đồng ngoại trừ một số trường hợp nhất định pháp luật bắt buộc phải tuân
theo một hình thức nhất định.
Theo quy định của khoản 4 Điều 81 Luật thương mại Việt Nam năm 1997, thì
HĐMBHHQT phải được ký kết bằng văn bản. Luật thương mại năm 2005 cũng quy
định hợp đồng phải được ký kết bằng văn bản hoặc những hình thức khác tương
đương (khoản 2 Điều 27). Tuy nhiên có thể nói rằng hợp đồng mua bán hàng hóa nói
chung và HĐMBHHQT nói riêng, trong mọi trường hợp nên được ký kết bằng văn
bản.
Theo Điều 11 Công ước Viên 1980 quy định rằng, HĐMBHHQT không nhất
thiết phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay tuân thủ một yêu cầu nào khác
về hình thức hợp đồng. Sự tồn tại của hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi
cách, trong đó có cả lời khai của người làm chứng. Với quy định tại Điều 11 như vậy

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 11

lý hoạt động thương mại quốc tế.
Thông qua việc ký kết và thực hiện HĐMBHHQT, các chủ trương, đường lối,
chính sách ngoại thương của Nhà nước được thực hiện. Do đó, HĐMBHHQT trở
thành công cụ góp phần quan trọng vào việc cũng cố, mở rộng và phát triển quan hệ

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 12

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam
kinh tế giữa các quốc gia với nhau. Mặt khác, nó là chiếc cầu nối trong quan hệ cung
cầu giữa bản thân một quốc gia với quan hệ cung cầu ở quốc gia khác, thông qua đó
góp phần đẩy mạnh và phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động, khai thác có
hiệu quả nguồn tài nguyên cũng như tiềm năng về lao động ở mỗi nước.
Về mặt pháp lý, có thể nói HĐMBHHQT là công cụ pháp lý duy nhất và có
hiệu quả để các bên bảo vệ lợi ích của mình trong điều kiện nguồn luật điều chỉnh
HĐMBHHQT phức tạp và đa dạng, nếu không thông qua hợp đồng để quy định chi
tiết, chặt chẽ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, có thể dẫn đến những hậu quả
nghiêm trọng. Mặt khác, giá trị được tạo ra từ HĐMBHHQT là rất lớn, nên chỉ cần
một sơ suất nhỏ đôi khi dẫn đến những thiệt hại không lường6.

1.2. Chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
1.2.1. Khái niệm về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Chọn luật áp dụng trong HĐMBHHQT là sự lựa chọn luật để áp dụng bởi các
bên tham gia hợp đồng có thể là: Điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia, tập quán quốc
tế,.... Sự lựa chọn này là hoàn toàn do các bên quyết định trên cơ sở thỏa thuận nhưng

đồng luôn chịu sự điều chỉnh của một hệ thống pháp nhất định”, và không tồn tại khái
niệm “hợp đồng không luật”7.
Vì lý do đó, trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng các bên cần quan
tâm hợp đồng giữa họ sẽ được chi phối, hoặc được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật
nước nào?.
Mặt khác, không có hợp đồng nào là hoàn hảo cả, vì sự thỏa thuận của các bên
không phải lúc nào cũng lường trước mọi tình huống có thể phát sinh trong tương lai,
do vậy nếu hợp đồng không quy định một vấn đề nào đó thì khi tranh chấp phát sinh,
để giải quyết cần căn cứ vào hệ thống luật áp dụng cho hợp đồng đó.
Như vậy, mối quan hệ giữa pháp luật và hợp đồng là gì? Sự cần thiết của việc
chọn luật áp dụng đối với hợp đồng vì thế được đặt ra với các bên ngay từ khi đàm
phán thương lượng xây dựng hợp đồng và với các cơ quan tài phán khi có tranh chấp
phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng quốc tế. Việc lựa chọn luật áp dụng đối với các hợp
đồng quốc tế có ý nghĩa quan trọng vì những lý do sau:
Thứ nhất, đối với các bên tham gia giao kết hợp đồng: luật áp dụng có ý nghĩa
quan trọng trong việc bảo đảm các quyền lợi chính đáng của họ, vì họ thường lựa
chọn hệ thống pháp luật gần gũi nhất với họ và họ hiểu rõ nhất về sự lựa chọn đó, còn
đối với các cơ quan tài phán thì luật áp dụng đối với hợp đồng còn là cơ sở pháp lý để
xem xét giá trị pháp lý của hợp đồng và giải quyết tranh chấp, vì nếu chỉ căn cứ vào
hợp đồng thì trong nhiều trường hợp, hợp đồng không quy định hết mọi vấn đề có thể
phát sinh trong quá trình thực hiện.
Xem Bùi Thị Thu: Một số vấn đề về chọn luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế theo công
ước Rome 19/6/1980 về luật áp dụng đối với nghĩa vụ hợp đồng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11
(211), 2005, tr.71.
7

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 14


nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”.
Như vậy, có thể định nghĩa điều ước quốc tế về thương mại là sự thỏa thuận
bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều quốc gia ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 15

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam
bản của Luật quốc tế để ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ đối với
nhau trong quan hệ thương mại quốc tế.
Xét về chủ thể ký kết, điều ước quốc tế thương mại có thể phân thành hai loại
là điều ước quốc tế song phương và điều ước quốc tế đa phương. Một điều ước quốc
tế quan trọng trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế là Công ước Viên 1980. Ngày
nay đã có hơn 70 nước phê chuẩn công ước này8.
Công ước Viên là kết quả của quá trình thống nhất hóa luật về mua bán hàng
hóa quốc tế của Liên hiệp quốc, nhằm loại bỏ những trở ngại do những quy định khác
nhau trong hệ thống pháp luật quốc gia về thủ tục ký kết và thực hiện hợp đồng giữa
các bên.
Việt Nam chưa phải là thành viên của Công ước Viên nhưng công ước này
cũng có thể được các doanh nghiệp Việt Nam lựa chọn điều chỉnh quan hệ mua bán
của mình với các chủ thể ký kết ở nước ngoài. Tuy nhiên, nếu Việt Nam chính thức
tham gia công ước Viên sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi và thống nhất cho hoạt động
mua bán giữa thương nhân Việt Nam với các thương nhân nước ngoài.
Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết hơn 90 Hiệp định thương mại song phương9,
quan trọng nhất phải kể đến:

khi được các chủ thể ký kết hợp đồng mua bán quốc tế chấp nhận sẽ trở thành nguồn
luật điều chỉnh đối với các hợp đồng giữa các chủ thể đó với nhau.
Các tập quán thương mại, khi được dẫn chiếu vào HĐMBHHQT, sẽ có hiệu
lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết. Một tập quán thông dụng trong buôn
bán quốc tế được Phòng Thương mại quốc tế (ICC) tổng kết, soạn thảo và ban hành là
Incoterms10. Sở dĩ Incoterm được các thương gia thỏa thuận thừa nhận trong thương
mại quốc tế là do nó giúp các bên tiết kiệm nhiều công sức và thời gian khi tham gia
quan hệ hợp đồng, khi nó có các quy định cụ thể về nội dung từng điều kiện và các
bên chỉ cần lựa chọn một điều kiện là đã chấp nhận tất cả các nội dung của điều kiện
đó. Chẳng hạn nó giúp người bán chào giá một cách đơn giản mà các bên điều hiểu là
trong đó đã có sự phân bổ rõ ràng về chi phí và rủi ro trong chuyên chở quốc tế giữa
người bán và người mua. Tương tự như vậy là trách nhiệm bảo hiểm và nghĩa vụ làm
và chịu chi phí về thủ tục hải quan.
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập khu vực và quốc tế, các doanh nghiệp Việt
Nam ngày càng áp dụng tập quán quốc tế một cách thường xuyên hơn.
1.2.3.3.Pháp luật quốc gia
Trong thực tiễn ký kết và thực hiện HĐMBHHQT, bên cạnh các điều ước quốc
tế, tập quán thương mại quốc tế, luật quốc gia có vai trò quan trọng trong điều chỉnh
các quan hệ hợp đồng.
Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho HĐMBHHQT trong các trường hợp:
- Khi các bên ký kết hợp đồng thỏa thuận trong điều khoản luật áp dụng của
hợp đồng về việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng. Ví dụ trong hợp
10

Incoterms 2000 và ấn bản mới nhất là Incoterms 2010.

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 17


law cũng như Việt Nam, nhưng tại các nước theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ tòa án
thường sử dụng một hoặc một số phán quyết của tòa án đã được công bố để làm
khuôn mẫu áp dụng cho việc giải quyết các tranh chấp tương tự. Trong lĩnh vực

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 18

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế - đề xuất cho Việt Nam
thương mại quốc tế, việc công nhận và sử dụng các phán quyết của tòa án cũng được
thừa nhận.
Có nhiều quan điểm về việc áp dụng án lệ làm nguồn luật điều chỉnh. Việt
Nam thừa nhận luật viết là nguồn luật điều chỉnh chính nên án lệ chưa được thừa nhận
là nguồn điều chỉnh ở Việt Nam, nhưng do sự thiếu vắng của một số quy phạm pháp
luật trong các văn bản luật và dưới luật, việc xét xử các tranh chấp về kinh tế - thương
mại thường dựa vào các công văn hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao để làm cơ
sở giải quyết các tranh chấp tương tự.

GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 19

SVTH: Huỳnh Văn Sáng


LVTN: Lý luận và thực tiễn về chọn luật áp dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa


GVHD: ThS. Lê Minh Trung

Trang 20

SVTH: Huỳnh Văn Sáng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status