TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 31: NĂM HỌC 2005 – 2009
Đề tài:
NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI THUẾ THU
NHẬP DOANH NGHIỆP 2008
K31
Luật
Giáo viên hướng dẫn:
TS. Lê Thị Nguyệt Châu
Bộ Môn Luật Thương Mại
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Tú Quỳnh
MSSV: 5054900
Lớp: Luật Thương Mại - K31
Cần Thơ, tháng 4/2009
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
.........................................................................................................
2.4 . Xử lý các trường hợp hưởng ưu đãi theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp theo
các văn bản trước đây. .............................................................................................39
Chương 3:Đánh giá và kiến nghị hướng hoàn thiện chế dộ ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp 2008. ................................................................................................42
3.1. Kết quả và những hạn chế của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2003.42
3.1.1.Những kết quả đạt được của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2003
............................................................................................................................42
3.1.2.Những mặt hạn chế của chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2003.....45
3.2. Đánh giá và hướng áp dụng chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008. ...49
3.2.1. Đánh giá về chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008......................49
3.2.2. Kiến nghị hướng áp dụng những ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 2008. 52
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Là một quốc gia được nhiều tập đoàn kinh tế thế giới giành cho sự quan
tâm đặc biệt, những năm gần đây Việt Nam luôn được đánh giá cao bởi sự ổn
định chính trị, bởi nguồn nhân lực dồi dào, nguồn tài nguyên đa dạng, thị trường
tiềm năng với hơn 80 triệu dân. Nền kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng cao,
đứng hàng đầu Châu Á (GDP năm 2006 là 8.2%, năm 2007 là 8.3 %)1. Năm
2006, Việt Nam đón nhận hàng loạt sự kiện quan trọng mang tính lịch sử như trở
thành thành viên 150 của Tổ chức thương mại thế giới (gọi tắt là WTO), tổ chức
thành công hội nghị APEC lần thứ 14 và Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua quy chế
thương mại bình thường vĩnh viễn. Đồng thời, kết hợp với một hệ thống pháp
luật không ngừng cải tiến thông thoáng và phù hợp với thông lệ quốc tế mà điển
hình là chính sách thuế đã khiến Việt Nam trở thành điểm hấp dẫn cho các nhà
đầu tư. Trong quá trình cải cách hệ thống thuế thì nhận thấy thuế thu nhập doanh
nghiệp được xem là công cụ hiệu quả nhất để điều chỉnh sự phát triển kinh tế - xã
đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm giúp các doanh nghiệp tăng sức cạnh tranh
và có lợi nhuận sau thuế, tích cực đổi mới thiết bị máy móc công nghệ, mở rộng
sản xuất kinh doanh. Việt Nam đã thực hiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
cho nhiều lĩnh vực, dự án khác nhau. Tuy nhiên, có những quy định về ưu đãi
thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 còn nhiều điểm bất cập, còn nhiều quy định
chưa rõ ràng, mập mờ,v.v… Đó là một trong những nguyên nhân chạy “cơ chế”
và với chính sách ưu đãi tràn lan, đối tượng được hưởng ưu đãi rộng làm cho
hiệu quả áp dụng các ưu đãi này thấp và gây thiệt hại cho nhiều cơ sở sản xuất
kinh doanh làm ăn chính đáng, đồng thời cũng làm sụt giảm ngân sách Nhà nước.
Ưu đãi, khuyến khích bằng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là việc làm
cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Và Luật thuế thu nhập
doanh nghiệp 2008 đã được ban hành (có hiệu lực 1/1/2009) đã có nhiều sửa đổi
các quy định về ưu đãi của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2003, đồng thời ban
hành các quy định mới về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong Luật thuế thu
nhập doanh nghiệp 2008 đây là một bước tiến quan trọng nhằm để cải thiện môi
trường đầu tư, thu hút đầu tư, nhất là hạn chế đến mức thấp nhất sự chênh lệch về
phát triển kinh tế giữa các vùng, miền với nhau. Vì vậy “ nghiên cứu về chế độ
ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp” trở nên hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện
nay. Và người viết nhận thấy đây là điều kiện để người viết có thể phân tích một
cách khoa học những thuận lợi cũng như hạn chế của việc ưu đãi thuế thu nhập
doanh nghiệp. Từ đó, có thể tìm thấy giải pháp chính xác, cụ thể hơn.
2. Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu thuế thu nhập doanh nghiệp là một vấn đề rộng bao gồm nhiều
khía cạnh như: căn cứ tính thuế, thuế suất….Vì vậy trong khuôn khổ của luận
văn, người viết tập trung “nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
2008”, nghĩa là đi sâu tìm hiểu thuế suất ưu đãi, mức độ miễn giảm thuế và thời
gian ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo Luật thuế thu nhập donah nghiệp
2008.
-
đãi, thời gian ưu đãi, các ưu đãi khác ( như chuyễn lỗ, trích lập quỹ khoa
học và công nghệ của doanh nghiệp,….).
Chương 3: Hướng áp dụng chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
2008
Kiến nghị hướng áp dụng chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
2008.
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
3
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
Nội dung
Chương 1:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
1.1. Những vấn đề cơ bản về Thuế
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của Thuế
Thuế ra đời từ rất sớm gắn liền với sự hình thành và phát triển của xã hội
loài người. Từ xã hội chưa hình thành giai cấp, chưa có sự phân công lao động
đến xã hội phân chia giai cấp- phân công lao động, một xã hội được đảm bảo ổn
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
Như vậy, thực chất những người này là người đứng đầu của chính quyền
công cộng. Chính quyền này ngày càng lớn mạnh và dần dần phát triển thành
Nhà nước. E.Ănghen đã miêu tả: “ trước đây không phải lúc nào cũng có Nhà
nước. Đã từng có xã hội không cần có Nhà nước và chính quyền Nhà nước. Đến
một giai đoạn phát triển kinh tế nhất định, một giai đoạn tức nhiên gắn liền với
sự phân chia xã hội thành giai cấp, thì Nhà nước mới trở thành một tất yếu cho sự
phân chia đó3.
Nhà nước, nếu xét ở khía cạnh phân công lao động xã hội, Nhà nước là tổ
chức bộ máy với nhiều hệ thống cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau để tổ
chức điều hành cai quản xã hội, nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển theo mong
muốn của Nhà nước. Để làm được điều này Nhà nước cần những người tham gia
vào công việc của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương. Những người
này họ không trực tiếp sản xuất, thoát ly sản xuất để thực hiện chức năng quản lý
xã hội. Tuy nhiên, để thực hiện được chức năng quản lý xã hội đó thì những
người tham gia vào bộ máy Nhà nước cần phải có tiền, hay còn gọi là nguồn
ngân sách (hay nguồn tài chính) để hoạt động. Nguồn tài chính này được dùng
vào công việc thuộc chức năng Nhà nước như: chi quốc phòng an ninh, chi cho
sự phát triển hạ tầng; chi cho phúc lợi xã hội, công cộng,…Những khoản chi này
là tất yếu trong một Nhà nước. Bởi vì, Nhà nước không thể tồn tại và phát triển
nếu như không có cơ sở vật chất, không có phương tiện hỗ trợ để đảm bảo cho sự
tồn tại của nó. Do vậy, những nhu cầu chi tiêu đó là rất cần thiết và không thể
thiếu trong sự tồn tại của một Nhà nước. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu
chi tiêu của Nhà nước ngày càng lớn, cả về phạm vi và quy mô chi tiêu.
Như vậy, vấn đề đặt ra là nguồn tài chính này lấy từ đâu ra? Và Nhà nước
làm cách nào để động viên nguồn tài chính này?
Khi nghiên cứu về lịch sử ra đời và phát triển của Nhà nước thông qua các
chế độ xã hội, đã chứng minh rằng:
Và Nhà nước sẽ dựa vào cơ sở nào để quyết định hình thức động viên nào,
để động viên thu nhập của người dân vào ngân sách Nhà nước?
Khi phân tích về hiệu quả của ba hình thức động viên trên, thì ta nhận
thấy:
Đối với hình thức động viên bằng cách quyên góp: Quyên góp phụ
thuộc vào khả năng và sự tự nguyện của mỗi người, tức là người có nhiều góp
nhiều có ít góp ít hoặc không góp. Nếu sử dụng hình thức này thì Nhà nước cũng
không làm gì nếu như có ai đó không tham gia đóng góp vào nguồn tài chính của
Nhà nước. Do đó, xem ra hình thức động viên này không công bằng, không lâu
dài, không ổn định và trên hết là không đảm bảo được nguồn chi tiêu của Nhà
nước. Cho nên hình thức động viên này không cơ bản và thường được sử dụng
khi trong tình huống đặc biệt, hoàn cảnh đặc biệt. Ví dụ, trong cách mạng Tháng
Tám năm 1945 ở nước ta có các hình thức quyên góp phục vụ kháng chiến như:
“Tuần lễ vàng”, “Hũ gạo kháng chiến”….
Còn nếu Nhà nước sử dụng hình thức vay tiền của người dân để phục
vụ chi tiêu cho Nhà nước. Thì hình thức này xem ra không khả thi vì có vay tiền
thì phải trả tiền, mà Nhà nước hay các thành viên tham gia vào bộ máy Nhà nước
học không tham gia trực tiếp vào sản xuất thì lấy tiền đâu để chi trả cho người
dân. Hơn nữa, công việc của Nhà nước, nguồn tài chính mà Nhà nước huy động
nhằm chủ yếu phục vụ cho lợi ích công cộng, suy cho cùng thì nguồn tài chính
này chủ yếu phục vụ cho chính những người dân mà thôi. Do đó, hình thức động
viên là vay của người dân thường sử dụng trong trường hợp đặc biệt, hoặc vay
cho đầu tư phát triển.
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
6
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
phu phen, cống nạp là những loại thuế thể hiện dưới hình thức hiện vật dần có sự
phức tạp hơn hình thức sưu, thuế được cắt đặt một cách hệ thống trong phạm vi
5
Quách Đức Pháp. “Thuế - Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế”. NXB Xây Dựng. Hà
Nội.1999.Trang5
6
Quách Đức Pháp. Thuế - Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế., NXB Xây Dựng., Hà
nội. 1999. Trang10
7
Victor Thuronyi, Comparative tax Law, Kluwer law internatonal, 2003, Trang53.
8
Ts. Lê Thị Nguyệt Châu – “Giáo trình Luật Thuế”, Trường Đại học Cần Thơ, năm 2007. Trang 35
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
7
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
lãnh thổ. Đến khi tiền tệ ra đời, hình thức thuế thu bằng tiền làm nhẹ đi sự nghiệt
ngã của hình thức cống nạp”9. Khi nghiên cứu về lịch sử của thuế ở Anh, Sabine
cho rằng ban đầu thuế có những điểm chung với các khoản đóng góp của người
dân cho các nhà tu để họ sử dụng trong việc giải thích các nỗi sợ hãi, những bí
mật của tự nhiên và những biện pháp để thu hút các khoản đóng góp này cũng
không khác với hình thức thu thuế là mấy10.
Ở phương Tây, hình thức thuế xuất hiện sớm nhất là ở La Mã cổ đại dưới
12
Trường Đại học Luật Hà Nội. Giáo trình luật Thuế Việt Nam. NXB Tư Pháp năm
2005. Trang 8.
13
http://uie.edu/detp/document/resourees/taxhistory/shtml.
14
http://www.taxworl.org/History/TaxiHistory/htm.
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
8
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
dần dần được thay thế. Nhà nước chú tâm nhiều hơn vào việc “hoàn trả” các loại
thuế mà dân đóng góp thông qua việc cung cấp hàng hóa công cộng, phúc lợi xã
hội..v.v.. Ngay các cơ quan thuế cũng cố gắng thay đổi diện mạo của mình, vừa
nhân danh Nhà nước thu thuế nhưng cũng vừa là người trung gian giúp cho
người dân thực hiện chính xác các nghĩa vụ của mình cho Nhà nước15. Đặc biệt,
dưới chế độ Xã hội chủ nghĩa, công bằng xã hội được đặt ra như là một nhu cầu
cấp thiết đòi hỏi Nhà nước phải đặc biệt quan tâm. Điều này đòi hỏi Nhà nước
phải hướng sự hoạt động của mình vào sự phát triển toàn diện của dân chúng,
quan tâm sâu sắc đến những người có thu nhập thấp.v.v.. Để thực hiện được mục
tiêu này Nhà nước đã thực hiện điều tiết một phần thu nhập của người có thu
nhập cao qua các sắc thuế trực thu như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập
doanh nghiệp và một số sắc thuế gián thu khác để chi cho một số mục tiêu khác
của xã hội. Ở đây, thuế phải đảm bảo không hạn chế ý chí làm giàu của các cá
nhân trong xã hội, đồng thời cũng tăng được nguồn thu cho ngân sách Nhà nước,
nhưng vẫn giữ được tính nhân đạo của thuế.
Từ những quan niệm về thuế như trên có thể rút ra khái niệm đầy đủ về
thuế là: “ Thuế là khoản thu nhập mà tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp
cho Nhà nước theo luật định để đáp ứng yêu cầu chi tiêu theo chức năng Nhà
nước. Người đóng góp được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại.”16
-Các vấn đề cần lưu ý đối với khái niệm trên:
Thuế trước hết là phần thu nhập. Có thu nhập thì mới có tiền nộp thuế,
nhưng chỉ là một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân. Phải chừa còn lại lại một
phần nhập để tái sản xuất để tạo ra thu nhập mới phải nhiều hơn thu nhập còn lại.
Nếu không chừa thu nhập lại để tiếp tục sản xuất thì không có thu nhập đóng
thuế trong tương lai. Thu nhập ở đây là thu nhập kích thích sản xuất phát triển, hạ
giá thành sản phẩm, điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo định hướng có lợi cho sản
xuất xã hội17.
Thuế là một trong những nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và của công nhân
được ghi nhận trong Hiến pháp và các đạo luật của Nhà nước. Nộp thuế là nghĩa
vụ mang tính chất bắt buộc.
Việc đóng thuế là nghĩa vụ đóng góp của công nhân là một vấn đề hệ
trọng của một quốc gia, cho nên phải do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà
nước ban hành là Quốc hội ban hành thành văn bản pháp quy là các luật hoặc các
bộ luật.
Thuế đóng cho Nhà nước vừa là nghĩa vụ, vừa là quyền lợi, vừa là tự
đầu tư cho chính mình; đây là một yêu cầu tất yếu khách quan. Quyền lợi mà
người nộp thuế được hưởng thông qua lợi ích kinh tế, phúc lợi xã hội do các
khoản đầu tư từ thuế của ngân sách Nhà nước mang lại.
Đối với tổ chức và cá nhân sau khi làm tròn nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà
nước theo luật định, phần thu nhập còn lại thuộc sở hữu hợp pháp của họ. Phần
thu nhập này được pháp luật tôn trọng, bảo vệ và giúp đỡ họ sử dụng có hiệu quả.
Thuế là công cụ giúp Nhà nước thực hiện thu ngân sách Nhà nước. Đồng
thời, thuế là công cụ thông qua đó giúp Nhà nước quản lý xã hội. Do đó, thuế có
những đặc điểm riêng biệt giúp phân biệt thuế với các công cụ tài chính khác như
phí, lệ phí….
tượng Nhà nước khác nhau thì bản chất thuế là khác nhau. Điều này thể hiện bên
trong của thuế là: Thuế thu vào ai? Thu như thế nào? Và thu để làm gì? Đặc biệt,
thu để làm gì thể hiện rõ bản chất giai cấp của thuế.
Thuế còn thể hiện bản chất xã hội rộng rãi. Trước hết thuế thu vào toàn
dân, thuế có liên quan đến mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội. Thuế điều chỉnh
các quan hệ phân phối, phân phối lại thu nhập xã hội giữa các tổ chức kinh tế,
các tầng lớp dân cư.
Chính vì, xuất phát từ bản chất tốt đẹp của thuế mang lại mà thuế có một vai trò
rất quan trọng trong nền kinh tế xã hội.
Vai trò của Thuế trong nền kinh tế xã hội:
Thuế là khoản thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước:
Trong các nguồn thu ngân sách quốc gia, thông thường gồm các khoản
thu như: thuế, phí và các khoản vay cho ngân sách của Chính phủ. Mặc dù khái
niệm về thuế còn nhiều quan điểm khác nhau, song bất kỳ ai cũng công nhận
rằng thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước.
18
Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, Học viện Tài chính, Viện khoa
học Tài chính, Nxb Tài Chính, 2002,Trang 22.
19
Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, Học viện Tài chính, Viện khoa
học Tài chính, Nxb Tài Chính, 2002,Trang 32.
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
11
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
20
Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, Học viện Tài chính, Viện khoa
học Tài chính, Nxb Tài Chính, 2002,Trang 34.
21
.Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, Học viện Tài chính, Viện khoa
học Tài chính, Nxb Tài Chính, 2002,Trang 25
22
23
Quách Đức Pháp. Thuế - Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.NXB Xây Dựng.Hà Nội. 1999.Trang 40
Quách Đức Pháp. Thuế - Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế. NXB Xây Dựng. Hà Nội. 1999. Trang
44
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
12
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
Nhà nước quy định nhiều loại thuế khác nhau và mức thuế khác nhau,
cho từng nhóm hàng hóa, hay từng loại hàng hóa cụ thể, thể hiện mức độ khuyến
khích hay không khuyến khích, ưu đãi hay không ưu đãi, bảo hộ hay không bảo
hộ…..Thông qua đó Nhà nước sẽ hướng dẫn các thành phần kinh tế bỏ vốn sản
xuất, kinh doanh những ngành nghề, mặt hàng theo định hướng của Nhà nước.
47
25
Trương Đông Lộc. Bài Giảng Thuế. Khoa kinh tế - Trường Đại học Cần Thơ, năm 2008.Trang10.
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
13
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
Vai trò của thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
thể hiện rõ nhất trong thuế trực thu. Ví dụ như, thu thuế cá nhân thì đánh vào
những người có thu nhập cao. Như vậy, ngoài việc tạo nguồn thu cho ngân sách
Nhà nước, thuế còn đóng vai trò quan trọng trong thực hiện công bằng xã hội.
Việc điều hòa thu nhập xã hội còn được thể hiện một phần thông qua các
sắc thuế gián thu như: Thuế GTGT, Thuế tiêu thụ đặc biệt….các loại thuế này
thường đánh rất cao vào những mặt hàng, dịch vụ cao cấp nhằm điều tiết bớt thu
nhập của cá nhân có thu nhập tương đối cao so với mức bình quân xã hội.
Do chế độ chính trị và sự phát triển của Nhà nước ở mỗi quốc gia là khác
nhau, nên dẫn đến mỗi một quốc gia có lịch sử phát triển của thuế là không giống
nhau. Ở Việt Nam lịch sử phát triển về thuế có những đặc điểm riêng, và qua
từng giai đoạn phát triển hệ thống thuế ở Việt Nam dần dần được hoàn thiện và
hiệu quả hơn.
1.2 Lịch sử phát triển của luật Thuế ở Việt Nam
1.2.1.Thuế lợi tức và sự cần thiết thay thế thuế lợi tức bằng
loại thuế:
. Thuế nông nghiệp
. Thuế công – thương nghiệp
. Thuế hàng hóa
. Thuế xuất, nhập khẩu
. Thuế sát sinh
. Thuế trước bạ
. Thuế tem.
Thuế nông nghiệp: Ngày 11/05/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lý
sắc lệnh số 13 Sắc lệnh ban hành điều lệ thuế nông nghiệp với nội dung như sau:
Thuế nông nghiệp là hình thức thuế đánh trên hoa lợi ruộng đất, căn cứ
tính thuế là diện tích, sản lượng hàng năm tính thuế, và số nhân khẩu nông
nghiệp trong mỗi hội nông dân. Thuế nông nghiệp gồm 11 bậc thuế suất, thấp
nhất là 5%, và cao nhất là 45%, và được tính theo lũy tiến toàn phần; thuế suất
5% áp dụng cho hộ nông dân có nức hoa lợi thu nhập bình quân khẩu từ 81 kg
đến 95 kg lương thực quy thóc, thuế suất 45% áp dụng cho các hộ có mức hoa lợi
nhân khẩu từ 1.816 kg lương thực quy thóc trở lên.
Thuế nông nghiệp lúc bấy giờ giữ vai trò quan trọng, hàng năm động viên
khoản 20% sản lượng lương thực chụi thuế27.
Thuế công – thương nghiệp: là loại thuế đánh và các hoạt động sản
xuất, kinh doanh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, vận tải, thương
nghiệp. Thuế công thương nghiệp bao gồm : thuế doanh thu, thuế thực lãi, và
thuế buôn chuyến. Trong đó, thuế thực lãi tính theo phương pháp lũy tiến từng
phần với thuế suất từ 5% đến 27%.
Sau thắng lợi 1954, hệ thống thuế được đổi mới và áp dụng ở miền Bắc,
bao gồm 12 sắc thuế: thuế doanh nghiệp, thuế hàng hóa ( mở rộng thêm nhiều
mặt hàng), thuế xuất nhập khẩu, thuế thổ trạch, thuế kinh doanh nghệ thuật, thuế
sát sinh, thuế buôn chuyến, thuế môn bài, thuế trước bạ, thuế rượu, thuế muối,
thuế lợi tức. Trãi qua những năm tháng lịch sử, hệ thống thuế và thu tài chính nói
trên đã đảm bảo nguồn thu quan trọng của ngân sách, phục vụ cho việc thực hiện
ngân sách Nhà nước.
Thuế lợi tức được Quốc hội ban hành năm 1990, thuế lợi tức là loại
thuế trực thu, là loại thuế thu vào các khoản tiền lời (lợi nhuận) thu được cho các
hoạt động kinh doanh.
Theo đó, cá nhân và các tổ chức kinh tế có hoạt động kinh doanh phát
sinh lợi tức và là người thụ hưởng lợi tức, thì phải trả khoản thuế lợi tức này.
Các cơ sở kinh doanh nộp thuế lợi tức là tổng lợi tức chịu thuế cả năm
của tất cả các hoạt động kinh doanh cơ bản và các hoạt động kinh doanh ngoài cơ
bản, bao gồm thu nhập thường xuyên hay không thường xuyên. Cơ sở kinh
doanh này phải (trừ hộ kinh doanh nhỏ, hộ buôn chuyến) nộp thuế suất ổn định
cả năm đối với từng ngành nghề theo quy định. Tuy nhiên ngoài nộp thuế suất ổn
định, các tổ chức và cá nhân kinh doanh nếu có lợi tưc cổ tức vượt mức quy định
của luật thuế cổ tức thì phải nộp thuế lợi tức cổ sung. Thuế lợi tức bổ sung loại
thuế này nhằm động viên trực tiếp vào cơ sở kinh doanh có thu hoặc có lợi tức.
Đồng thời, việc quy định thuế lợi tức bổ sung là nhằm điều tiết cho ngân sách
Nhà nước một phần thu nhập của cơ sở kinh doanh có thu nhập cao để góp phần
đảm bảo công bằng xã hội.
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
16
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
Thuế lợi tức ra đời là công cụ hỗ trợ Nhà nước thực hiện chính sách mở
cửa, chính sách đổi mới kinh tế, theo nền kinh tế thị trường có định hướng Xã hội
chủ nghĩa, qua đó tăng cường hội nhập kinh tế, thu hút đầu tư từ nước ngoài vào
Việt Nam. Luật thuế lợi tức năm 1990, có nhiều quy định và nhiều mức thuế suất
khác nhau đánh lên thu nhập doanh nghiệp, tùy thuộc vào thành phần kinh tế.
Ts.Lê Thị Nguyệt Châu. Giáo trình Luật Thuế. Trường Đại học Cần Thơ. 2007. Trang 37
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
17
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
1.2.2 Sơ lược chung về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp
2008
Khái niệm:
Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế thu trên thu nhập các cơ sở kinh
doanh, động viên một phần thu nhập của họ vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, nhà nước có thể sử dụng loại thuế này để điều tiết vĩ mô nền
kinh tế, phát triển kinh tế theo định hướng của Nhà nước, đồng thời khuyến khích
đầu tư cho sản xuất, kinh doanh phát triển.
Ở các nước, tên gọi luật thuế này có thể khác nhau như: luật thuế thu
nhập công ty (Thụy Điển), thuế lợi nhuận công ty (Mỹ), thuế lợi tức….nhưng
bản chất của nó tương đối giống nhau. Có quốc gia quy định luật thuế này trong
một luật riêng, quốc gia khác lại quy định chung một bộ luật với thu nhập cá
nhân vì họ cho rằng giữa hai luật thuế có quan hệ mật thiết với nhau nên quy
định trong cùng một văn bản dễ tiếp cận hơn29.
Đặc điểm:
Ở các nước đang phát triển thuế thu nhập doanh nghiệp dễ thu hơn
thuế thu nhập cá nhân. Việc quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp có thể dựa trên
sổ đăng ký kinh doanh và số lượng doanh nghiệp bao giờ cũng ít hơn số lượng cá
Vai trò:
Cũng như vai trò của thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp có vai trò quan trọng
trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Là công cụ quan trọng trong điều tiết thu
nhập xã hội.
Nhà nước sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp để điều tiết những
người có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh
vào ngân sách Nhà nước công bằng và hợp lý hơn. Các doanh nghiệp bị lỗ sẽ
không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp và được chuyển lỗ sang năm sau,
giảm tình trạng phá sản của doanh nghiệp.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách
Nhà nước. Một nền kinh tế phát triển, tăng trưởng kinh tế được đảm bảo, hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả
năng huy động nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập
doanh nghiệp sẽ ngày càng dồi dào31.
Thuế thu nhập doanh nghiệp còn là công cụ khuyến khích sản xuất ,
thúc đẩy sản xuất, kinh doanh theo định hướng của Nhà nước. Nhà nước ưu đãi
khuyến khích chủ đầu tư đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực địa bàn khó
khăn mà Nhà nước ưu tiên phát triển theo từng thời kỳ.
Phạm vi áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp:
Đối tượng nộp thuế:
Tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia, người có nghĩa vụ nộp thuế thu
nhập doanh nghiệp là khác nhau. Theo quy định nộp thuế thu nhập doanh của
Anh và Mỹ thì chỉ có các tổ chức kinh tế kinh doanh thì mới nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp. Khác với các nước, pháp luật Việt Nam quy định đối tượng nộp
thuế tương đối cụ thể. Bất kể, các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng
hóa dịch vụ (sau đây gọi là các doanh nghiệp) có thu nhập chịu thuế thì phải nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật thuế thu
nhập doanh nghiệp 2008, người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:
“ Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;
thấy: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 đã góp phần làm giảm nhẹ gánh
nặng về thuế thông qua việc mở rộng đối tượng chịu thuế, giảm bớt tình trạng
thuế trùng lên thuế khi chuyển đối tượng nộp thuế là cá nhân trong nước sản xuất
hàng hóa dịch vụ ra khỏi đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, mà nộp thuế
theo Luật thuế khác.
Đối tượng không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp:
Mặc dù, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 không quy định về đối
tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, tuy nhiên trên cơ sở đối
chiếu với các văn bản pháp luật khác (như thuế thu nhập cá nhân và nghị định
124/2008 hướng dẫn thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008…) thì nhận
thấy:
Tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản phẩm
trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản không thuộc diện nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp. Như vậy, Nhà nước vẫn còn nhiều ưu đãi cho các đối tượng này
nhằm để khuyến khích phát triển nền sản xuất tập thể.
GVHD: TS.Lê Thị Nguyệt Châu
20
SVTH: Nguyễn Thị Tú Quỳnh
Đề tài: Nghiên cứu chế độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp2008
Tóm lại, thông qua quá trình nghiên cứu cơ sở lý luận về thuế, đã làm nỗi
bật vai trò của thuế trong sự hình thành và tồn tại của Nhà nước, thuế là một công
cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và điều phối sản xuất,
kinh doanh theo định hướng phát triển của Nhà nước, nhất là trong việc thu ngân
sách để đảm bảo sự tồn tại của Nhà nước. Ở Việt Nam, Chính phủ ban hành
nhiều sắc thuế khác nhau trong quá trình thực hiện chức năng của mình, tuy