BÀI TIỂU LUẬN MÔN KIỂM SOÁT SINH HỌC
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ SINH HỌC
CỦA MỌT KHUẨN ĐEN (Alphitobius diaperinus (Panzer,1797))
I.
Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp nước ta có những bước tiến vượt
bậc, lượng sản phẩm sản xuất ra không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn
được đáp ứng cho thị trường thế giới. Trong quá trình xuất khẩu hàng nông sản
ra nước ngoài vấn đề bảo quản nông sản được đặc biệt chú trọng. Đây là một
khâu quan trọng trong quy trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng và giá trị
sản phẩm. Tuy nhiên hiện nay việc bảo quản hàng nông sản còn gặp nhiều khó
khăn do các điều kiện về kho đựng, cách thức bảo quản…. còn hạn chế. Đặc biệt
sự gây hại của nhiều loài côn trùng làm hao hụt nguyên liệu, làm giảm mạnh giá
trị hàng hóa nông sản trong kho bảo quản. Do đó việc nắm rõ thông tin khoa
học, điều tra thành phần côn trùng, nhện hại có ý nghĩa rất quan trọng nhằm kịp
thời phát hiện các ổ dịch hại làm cơ sở để phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại
từ đó đề xuất những biện pháp xử lý và quản lý dịch hại trong kho bảo quản
nông sản.
Một trong các loại côn trùng gây hại trên các nông sản bảo quản trong kho là
Mọt khuẩn đen (Alphitobius diaperinus (Panzer,1797)
Trong nhiều năm qua, loài mọt khuẩn đen gây ra nhiều nạn dịch cho các hộ nông
dân ở phía nam Việt Nam. Mọt khuẩn đen (Alphitobius diaperinus (Panzer,1797)
là loài phân bố rộng rãi trên thế giới, chúng gây thiệt hại nghiêm trọng cho các
sản phẩm nông sản bảo quản trong kho như gạo, ngô, lúa mì, lúa mạch, đậu
nành,…đặc biệt là các loại hạt bảo quản kém. Mọt khuẩn đen còn là đối tượng
gây hại, cản trở sự phát triển của ngành công nghiệp chăn nuôi gia cầm. ở Việt
Nam việc nghiên cứu côn trùng, nhện hại nông sản bảo quản kho, đặc biệt là loại
nông sản cho thức ăn gia súc chưa nhiều. Do đó việc nghiên cứu mọt khuẩn đen
là rất cần thiết.
sựảnh hưởng của các loại thức ăn: lúa mì, bột ngô, bột gạo đến sự sinh trưởng và
phát triển của Mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus.
Rice S.J., Lambkin T.A.(2009), nghiên cứu nhân nuôi mọt khuẩn đen
Alphitobius diaperinus Panzer trên thức ăn là bột ngô.
Trong nước, hiện nay cũng đã có một số công trình nghiên cứu về loài Mọt
khuẩn đen Alphitobius diaperinus và biện pháp phòng trừ chúng như:
Luận văn của Hoàng Thị Kim Dung (Đại học Vinh) với đề tài nghiên cứu
“ Đặc điểm sinh học, sinh thái của Mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus và
đánh giá hiệu lực phòng trừ mọt của một số chế phẩm thảo mộc”
Luận văn của Hoàng Trần Anh ( Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam) với đề
tài: “Nghiên cứu thành phần sâu mọt hại nông sản làm thức ăn gia súc trong kho,
một số đặc điểm sinh học của loài Mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus
Phanzer”.
2
Luận văn của Nguyễn Thị Huyền ( Khoa Sinh học- Đại học Sư Phạm Hà Nội)
nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài Mọt khuẩn đen (Alphitobius
diaperinus) làm cơ sở khoa học để nhân nuôi phục vụ cho nuôi chim cảnh, cá
cảnh.
IV. Kết quả nghiên cứu
1. Đặc điểm hình thái:
Mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus thuộc họ (Tenebrionnidae), bộ cánh
cứng (Coleoptera), lớp côn trùng (Insecta), ngành Chân Khớp ( Arthropoda), là
loại côn trùng có chu kỳ sinh trưởng theo biến thái hoàn toàn.
Chu kỳ phát triển bao gồm 4 pha (giai đoạn): pha trứng, pha sâu non, pha nhộng
và pha trưởng thành.
Pha Trứng: Lúc mới đẻ có màu trắng trong, hình bầu dục dài. Lúc trứng gần nở
thành sâu non thì trứng chuyển sang màu trắng đục.
có chấm lõm nhỏ, ngực trước và gốc cánh khép lại với nhau. Trên cánh có
những đường chấm lõm hình thành rãnh chạy dọc, cánh trước dài che toàn bộ
phần bụng. Phần bụng có lông ngắn màu hồng thưa thớt. Chân ngực gồm 5 đốt,
đốt chậu có hình chóp cụt đính với cơ thể tại một chỗ lõm bằng da mềm, đốt
chậu ở vị trí mép dưới của mảnh bên ngực, đốt chuyển có kích thước ngắn giống
dạng khớp bản lề. Đốt đùi lớn, đốt ống dài, mặt sau có 2 bàng gai cứng. Bàn
chân trước dài có 5 đốt, bàn chân sau có 4 đốt.
5
Hình thái Mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus (Phanzer,1797) trưởng thành
Cơ thể trưởng thành lúc mới vũ hóa có màu trắng sữa, 4-5h sau chuyển dần sang
màu đỏ nâu, sau 2,5-3,5 ngày mới chuyển nâu đen hoàn toàn. Đặc biệt phần
ngực trước là gốc cánh của trưởng thành lúc mới vũ hóa khép rất sát nhau.
Hình thái mọt trưởng thành sau vũ hóa 4-5h
6
Kích thước Mọt khuẩn đen thay đổi theo pha phát dục, ở giai đoạn sâu non, kích
thước tăng dần qua các lần lột xác. Khi hóa nhộng, kích thước chiều dài, chiều
rộng giảm so với sâu non tuổi 8. Kích thước con cái lớn hơn con đực.
2. Vòng đời:
Mọt khuẩn đen Alphitobius diaperinus (Phanzer,1797) là loài biến thái hoàn
toàn với đầy đủ 4 pha phát dục: trứng => ấu trùng (sâu non) => nhộng => con
trưởng thành.Con trưởng thành sau khi vũ hóa 6-8 ngày bắt đầu đẻ trứng đầu
tiên, trứng được đẻ thành nhóm 3-5 quả ở trong hạt ngũ cốc hoặc trên bề mặt
Vũ hóa của nhộng
3. Đặc điểm sinh thái
Mọt khuẩn đen có mặt trên hầu khắp thế giới. Ở nước ta khắp các vùng đều có
mọt này. Ở các vùng miền núi, mật độ mọt thường thấp hơn ở đồng bằng.
Trong kho, mọt thường tập trung sống, sinh sản ở nơi ẩm thấp và tối như các
khe, kẽ, gầm sàn kho, lớp trấu lót kho. Nó ăn hại thóc, gạo, bột mì, ngô, quả
khô, dược liệu, tiêu bản động vật, các chất hữu cơ mục nát. Mọt phát sinh và
phát triển mạnh trong kho nông sản có hàm lượng nước cao, bảo quản lâu ngày
và để nơi ẩm ướt, nơi tối. Mọt trưởng thành và sâu non thường có tính ăn mùn,
con trưởng thành ngoài đặc tính ăn mùn còn có tính gặm hạt. Sâu non có thể tiết
mùi phòng vệ, vì thế những kho nông sản có mọt khuẩn đen xâm nhiễm ngoài
việc bị hao hụt khối lượng còn bị nhiễm bẩn và có mùi rất khó chịu.
Mọt trưởng thành tự ăn lẫn nhau và có khả năng nhịn đói. Ở nhiệt độ 25 0C, ẩm
độ 70%, chúng sống được 100 ngày và đẻ khoảng 1000 trứng, trong môi trường
khô ráo, sâu non tuổi nhỏ đều chết, sâu non đẫy sức chịu đựng được.
Mọt khuẩn đen thuộc loại mọt gây tác hại nghiêm trọng. Số lượng thường nhiều
ở các sản phẩm đã bị hư hỏng, chúng gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con
người (gây ra các bệnh như hen suyễn, nhức đầu, dị ứng...) làm xấu sản phẩm,
10
sâu non lột xác làm bẩn hàng hoá, tạo điều kiện cho nấm mốc, mầm bệnh phát
triển.
4. Sự ảnh hưởng của thức ăn đến quá trình sinh trưởng và phát dục của
Mọt khuẩn đen
Khi nuôi mọt khuẩn đen (A. diaperinus) trong điều kiện nhiệt độ 25OC, độ ẩm
75% ở tủ nuôi côn trùng, kết quả đo kích thước của trứng, sâu non các tuổi,
nhộng và con trưởng thành ở các loại thức ăn được kết quả như sau:
1,11 x 0,29
1,74 x 0,36
Sâu non tuổi 2
2,96 x 0,47
2,84 x 0,48
3,15 x 0,59
3,22 x 0,56
Sâu non tuổi 3
4,61 x 0,54
4,98 x 0,67
5,19 x 0,77
4,97 x 0,88
Sâu non tuổi 4
6,59 x 0,69
7,96 x 0,82
12,34 x 1,22
11,35 x 1,33
12,44 x 1,55
Sâu non tuổi 8
12,20 x 1,44
13,04 x 1,35
13,21 x 1,53
14,83 x 1,66
Nhộng cái
7,32 x 2,72
7,69 x 2,73
7,88 x 2,82
8,00 x 3,00
Nhộng đực
6,64 x 2,39
Thức ăn
Thời gian phát dục trung bình (ngày)
Các pha
Phân gà
Cám gà
Hỗn hợp
Bột ngô
Trứng
6,03 + 0,45
4,41 + 0,51
5,17 + 0,53
5,41 + 0,49
Sâu non tuổi 1
7,12 + 0,59
5,17 + 0,39
3,24 + 0,35
3,24 + 0,35
Sâu non tuổi 5
6,50 + 0,52
2,97 + 0,34
3,48 + 0,64
4,28 + 0,42
Sâu non tuổi 6
3,43 + 0,46
2,79 + 0,29
4,45 + 0,52
4,14 + 0,43
Sâu non tuổi 7
4,07 + 0,51
4,48 + 0,39
23,03 + 2,64
26,48 + 1,1
12
Vòng đời
53,14 + 0,75
40,99 + 0,68
41,46 + 0,78
41,41 + 0,82
Số lượng mẫu: n=30
5. Các biện pháp phòng trừ Mọt khuẩn đen
Từ trước tới nay, người ta đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để phòng trừ
các loài sâu mọt phá hại hàng hoá trong kho như biện pháp cơ học, biện pháp lý
học, biện pháp hoá học, biện pháp sinh học, ... Trên thực tế, hiện nay công tác
phòng trừ sâu mọt hại kho chủ yếu là biện pháp hoá học trong đó chủ yếu là sử
dụng các loại thuốc xông hơi như Phosphine, DDVP, Sumithion,…
Tuy nhiên việc sử dụng các loại hoá chất độc để phòng trừ mọt hại nông sản là
một trong những nguyên nhân làm suy thoái và ảnh hưởng môi trường sống, gây
mất an toàn đối với đời sống con người. Ngoài ra cùng với việc diệt trừ mọt gây
hại bằng hoá chất còn gây chết luôn cả những loài thiên địch có mặt trong kho.
Một trong những biện pháp phòng trừ sâu mọt đang được nhiều người quan tâm
bởi tính ưu việt của nó là sử dụng các biện pháp sinh học, như sử dụng các vi
5.2.
Kiến nghị
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, … đến các giai
đoạn phát triển của Mọt khuẩn đen.
- Nghiên cứu đánh giá giá trị của Mọt khuẩn đen đối với đời sống và ứng dụng
trong thực tiễn.
- Nghiên cứu sự tác động của các biện pháp sinh học đến sự sinh trưởng và
phát dục của Mọt khuẩn đen.
VI.
Tài liệu tham khảo:
1. Hoàng Thị Kim Dung (2009), Đặc điểm sinh học, sinh thái của Mọt khuẩn
đen Alphitobius diaperinus và đánh giá hiệu lực phòng trừ mọt của một số
chế phẩm thảo mộc, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Vinh
2. Nguyễn Thị Huyền (2015), Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của mọt
khuẩn đen (Alphitobius diaperinus Panzer 1797) và tìm hiểu sự gia tăng quần
thể nuôi bằng thức ăn nhân tạo trong phòng thí nghiệm, Luận văn tốt nghiệp,
khoa Sinh học, Đại học Sư Phạm Hà Nội.
3. Hoàng Trần Anh (2010), Nghiên cứu thành phần sâu mọt hại nông sản làm
thức ăn gia súc trong kho, một số đặc điểm sinh học của loài Mọt khuẩn đen
(Alphitobius diaperinus) và thử nghiệm biện pháp phòng trừ bằng thuốc
phosphine ở Hà Nội, Luận văn thạc sỹ, Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam.
4. />5. />6. />
14