LUẬN văn LUẬT tư PHÁP đổi mới HOẠT ĐỘNG của tổ CHỨC CÔNG đoàn VIỆT NAM TRONG THỜI kỳ hội NHẬP QUỐC tế - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2008 - 2012
Đề tài:
ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Ths.Diệp Thành Nguyên

SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Lê Văn Hiếu
Mssv: 5085802
Lớp: Luật tư pháp 1 – k34

Cần Thơ, 4/2012


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............

..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............
..……………………………………………………………………….............


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 1
3. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 2
4. Kết cấu của đề tài ...................................................................................................... 2
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG
ĐOÀN VIỆT NAM ....................................................................................................... 3
1.1. Sự hình thành và phát triển của Công đoàn Việt Nam ............................................ 3
1.1.1. Giai đoạn 1930 – 1945 .................................................................................... 3
1.1.2. Giai đoạn 1946 – 1954 .................................................................................... 4

2.1.2.6.Hạn chế của công đoàn trong việc tham gia giải quyết tranh chấp lao
động và đình công ............................................................................................... 34
2.1.3. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến hạn chế trong hoạt động công đoàn..............36
2.1.3.1. Do hạn chế của pháp luật lao động khi quy định về vai trò của công
đoàn trong một số lĩnh vực cụ thể ...................................................................... 36
2.1.3.2. Những hạn chế về công tác cán bộ của tổ chức công đoàn ................... 38
2.1.3.3. Những hạn chế về phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn ....... 39
2.1.3.4. Những hạn chế về yếu tố đảm bảo cho hoạt động của công đoàn......... 39
2.2. Sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của tổ chức công đoàn trong bối cảnh hội nhập
quốc tế hiện nay ....................................................................................................................... 40
2.2.1. Sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của công đoàn xuất phát từ những đòi hỏi
của nền kinh tế thị trường hiện nay ............................................................................... 41
2.2.2. Bối cảnh hội nhập kinh tế với làn sóng đầu tư nước ngoài, sự ảnh hưởng các
trào lưu quốc tế cũng làm nảy sinh yêu cầu phải đổi mới hoạt động của công đoàn
trong bối cảnh hiện nay ..................................................................................................... 41
2.2.3. Đổi mới phương thức hoạt động nhằm bắt kịp các nước tiên tiến trên thế giới.. 42
2.2.4. Sự lớn mạnh của tổ chức đại diện người sử dụng lao động cũng là một nhân tố
cho thấy sự cần thiết phải đổi mới hoạt động của công đoàn ......................................... 43


CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC
CÔNG ĐOÀN NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY45
3.1. Những yêu cầu đặt ra đối với Công đoàn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện
nay .................................................................................................................................. 45
3.1.1. Công đoàn phải thực sự thực hiện tốt chức năng bảo vệ người lao động . 45
3.1.2. Công đoàn phải đủ mạnh để tham gia quan hệ với công đoàn quốc tế ............... 46
3.1.3. Tăng cường hoạt động của công đoàn ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 47
3.2. Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn ................... 49
3.2.1. Ban hành Luật Công đoàn mới cho phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội .... 49
3.2.2. Ban hành Bộ luật Lao động mới .................................................................... 49


2. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Thông qua đề tài tác giả mong muốn tìm hiểu hoạt động của tổ chức công đoàn
Việt Nam và những nguyên nhân làm hạn chế hoạt động, dẫn đến phải đổi mới để đảm
bảo sự hoạt động tốt hơn sớm đưa công đoàn hoạt động và phát triển theo quỹ đạo của
nền kinh tế thị trường và phát triển theo định hướng của Đảng và nhà nước.
Phần phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu hoạt động của công
đoàn hiện nay. Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng hoạt động của tổ chức Công đoàn Việt
Nam, rút ra nhận xét và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả hoạt động của công đoàn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

GVHD: Ths.Diệp Thành Nguyên

7

SVTH: Lê Văn Hiếu


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế

3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mac-Lênin
và các quan điểm của Đảng, tư tưởng của Hồ Chí Minh. Các phương pháp chủ yếu
được sử dụng trong đề tài là phân tích, tổng hợp, quy nạp.

4. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Khoá luận được chia là 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động của Công đoàn Việt Nam
- Chương 2: Thực trạng hoạt động của tổ chức Công đoàn và sự cần thiết đổi
mới hoạt động của tổ chức Công đoàn.

Qua hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã đề ra những cơ sở lý luận cho tổ
chức công hội. Trong hai năm 1927 – 1928, phong trào công nhân ở nước ta đã phát
triển mạnh. Trong các xí nghiệp, nhà máy, hầm mỏ ở Hà Nội, Nam Định, Hồng Gai,
Đông Triều... đã có các công hội được thành lập. Ngày 28 – 7 – 1929, tại nhà số 15
Hàng Nón, Hà Nội, Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ được triệu tập. Đại
hội đã bầu ra Ban Chấp hành lâm thời do ông Nguyễn Đức Cảnh làm Chủ tịch. Ngày
28 – 7 – 1929 đã đi vào lịch sử phong trào công nhân Công đoàn Việt Nam. Đó chính
là ngày thành lập tổ chức Công đoàn Việt Nam ngày nay.

1.1.1. Giai đoạn 1930 – 1945
Trong giai đoạn này, ở Bắc Kỳ tổ chức Công hội được tổ chức chủ yếu ở các
cơ sở công nghiệp, đô thị có nhiều công nhân. Tiếp theo là ở các tỉnh và một số khu
vực trọng điểm. Trong hai năm 1930 – 1931, số hội viên đã có hơn một vạn.
Tại Trung Kỳ đến năm 1930, tổ chức công hội đã được thành lập ở Vinh, Bến
Thủy, TuaRan (Đà Nẵng). Lúc này hội viên của công hội Trung Kỳ đã có 8000 người.

1

Tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam, Tổng liên
đoàn lao động Việt Nam, http://www.congdoanvn.org.vn/

GVHD: Ths.Diệp Thành Nguyên

9

SVTH: Lê Văn Hiếu


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Ở Nam Kỳ, từ năm 1930 Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ đã cử nhiều cán bộ vào

Sau năm 1954, ở miền Bắc có nhiều thuận lợi cho hoạt động Công đoàn.
GVHD: Ths.Diệp Thành Nguyên

10

SVTH: Lê Văn Hiếu


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 2 (2 – 1961) đã đề ra nhiệm vụ của Công
đoàn trong giai đoạn mới là đoàn kết, tổ chức giáo dục công nhân, viên chức phát huy
tinh thần làm chủ tập thể, thi đua thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất
(1961 – 1965). Đại hội đã đề ra hai nhiệm vụ chiến lược cho hai miền và thông qua
điều lệ mới, đổi tên Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thành Tổng Công đoàn Việt
Nam. Đại hội bầu ông Hoàng QuốcViệt làm Chủ tịch Công đoàn Việt Nam.
Từ năm 1957, Công đoàn đã cùng Nhà nước xây dựng luật Công đoàn quy
định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và hoạt động Công đoàn. Đây là sự kiện
ghi nhận sự chuyển biến mới về cơ cấu tổ chức của hệ thống Công đoàn. Từ đây, hoạt
động Công đoàn đã có cơ sở pháp lý, có sự bảo hộ của nhà nước và sự thừa nhận của
xã hội.
Ở miền Nam, Liên hiệp Công đoàn giải phóng đã được thành lập ngày 17 – 4 –
1961 tại chiến khu D và trở thành lực lượng nòng cốt của Mật trận Dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam.
Tháng 2 – 1974, Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ 3 được tiến hành và
khẳng định Công đoàn phải xây dựng và bảo vệ Nhà nước bằng hành động tích cực,
chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của và thường xuyên tham gia quản lý,
giám sát Nhà nước. Đại hội đã bầu lại ông Hoàng Quốc Việt làm Chủ tịch và Bác Tôn
Đức Thắng làm chủ tịch danh dự.
Trong giai đoạn này, công nhân lao động đêu tham gia hoạt động trong tổ chức
Công đoàn với tên gọi và nội dung cụ thể phù hợp với địa bàn mỗi miền. Công đoàn

Đại hội 7 Công đoàn Việt Nam, sau khi trình bày những thành tích và nhược điểm của
phong trào trong nhiệm kỳ qua, đã kết luận: Trong Nhà nước nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần, Công đoàn coi trọng chức năng đại diện, bảo vệ lợi ích hợp pháp,
chính đáng của công nhân lao động. Song trong điều kiện có sự lãnh đạo của Đảng và
sự quản lý của Nhà nước, thì lợi ích của giai cấp công nhân không tách rời lợi ích đất
nước, của dân tộc. Do đó, Công đoàn không chỉ chăm lo, bảo vệ lợi ích trước mắt mà
phải quan tâm đến lợi ích lâu dài và sự ổn định, phát triển đất nước theo mục tiêu, lý
tưởng của chủ nghĩa xã hội; phải làm tốt chức năng giáo dục, vận động công nhân lao
động tích cực góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc; để có thể nhanh chóng phát triển
tổ chức, tập hợp được đông đảo công nhân, lao động trong các thành phần kinh tế,
Công đoàn phải tăng cường các hoạt động và có nhiều hình thức hoạt động, phù hợp
với đặc điểm nghề nghiệp theo đúng nguyên tắc, điều lệ Công đoàn Việt Nam.
Tháng 11 – 1998, Đại hội 8 Công đoàn Việt Nam được tiến hành. Báo cáo của
Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa 7 trình Đại hội 8 Công đoàn
Việt Nam nêu những thành tựu đã đạt được, chỉ ra những thiếu sót trong nhiệm kỳ 5
năm. Đặc biệt, báo cáo rút ra những bài học kinh nghiệm quan trọng: mọi mặt hoạt
động của Công đoàn phải xuất phát từ đường lối, chính sách của Đảng, nguyện vọng
của người lao động và quy định của pháp luật, có chương trình, mục tiêu cụ thể, có sự
phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả của các cấp chính quyền. Thực hiện cơ chế của Đảng
lãnh đạo, Công đoàn và chính quyền các cấp phối hợp chặt chẽ, nhất là cấp cơ sở.
Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện phải chặt chẽ, sát thực tế, có sự kiểm tra đôn đốc;
GVHD: Ths.Diệp Thành Nguyên

12

SVTH: Lê Văn Hiếu


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
sơ, tổng kết rút kinh nghiệm thường xuyên các mặt hoạt động của Công đoàn; đẩy

2

Văn kiện hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Khóa X) hợp ngày 20 và 21
tháng 01 năm 2010, tại Hà Nội.

GVHD: Ths.Diệp Thành Nguyên

13

SVTH: Lê Văn Hiếu


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Từ khi ra đời (28/7/1929)3, công đoàn Việt Nam đã giữ một vị trí quan trọng
trong phong trào đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân. Tiền thân của tổ
chức công đoàn Việt Nam là tổ chức “Công hội đỏ” do Tôn Đức Thắng thành lập đầu
những năm 1920 nhằm lãnh đạo công nhân đấu tranh đòi quyền lợi, góp phần đoàn
kết công nhân cùng với giai cấp, tầng lớp khác trong cả nước đấu tranh giải phóng
dân tộc. Cùng với sự phát triển xã hội, quá trình lao động cũng có nhiều thay đổi.
Công đoàn Việt Nam dần chiếm được vị trí quan trọng trong hệ thống các tổ chức xã
hội và trong đời sống của người lao động.
Theo điều 10 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992:
“Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và người lao động
cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền
lợi của cán bộ, công nhân,viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý
nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân viên chức và người lao động xây dựng và
bảo vệ tổ quốc”.
Điều 1 Luật Công đoàn cũng ghi nhận: “ Công đoàn là tổ chức chính trị - xã
hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam, tự nguyện lập ra

đảo nhất của mọi tầng lớp lao động trong xã hội.
Mặt khác, công đoàn còn là một tổ chức chính trị - xã hội có vị trí quan trọng
trong xã hội, có ảnh hưởng to lớn đến đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Công
đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
cho họ và tham gia quản lý kinh tế xã hội.
Công đoàn còn truyền chính sách, pháp luật của Đảng, nhà nước đến với quần
chúng, người lao động. Công đoàn có trách nhiệm xây dựng Đảng, bồi dưỡng công
nhân ưu tú kết nạp Đảng. Có thể nói, công đoàn là cộng sự đắc lực của nhà nước bởi
những hoạt động của công đoàn đã thực sự góp phần xây dựng chính quyền nhà nước,
vì mục đích tồn tại của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp công nhân.
Sự thừa nhận của xã hội, của Nhà nước trên các phương diện khác nhau đã
khẳng định vị trí của công đoàn, đồng thời tạo ra điều kiện pháp lý xã hội cho hoạt
động công đoàn để công đoàn thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình. “Không có
một nền móng như các tổ chức công đoàn thì không thể thực hiện được các chức năng
cuả nhà nước”. 4

1.2.2. Vai trò của Công đoàn
Nghiên cứu vai trò của công đoàn trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa quan
trọng không chỉ về mặt lý luận, thực tiễn, mà cả mặt tư tưởng.
Lênin nói: “ …Công đoàn có vai trò là trường học quản lý,trường học kinh tế,
trường hoặc chủ nghĩa cộng sản…”.5
Ngày nay trong quá trình hội nhập quốc tế vai trò của công đoàn càng được mở
rộng và phát triển trên các lĩnh vực, cụ thể là:

4

V. I.Lê- nin tập 38, tr380 – Nhà xuất bản tiến Bộ Mát xcơ va 1977 – in theo bản dich của nhà xuất bản sự thật,
Hà Nội
5
V. I.Lê- nin tập 42, tr250 – Nhà xuất bản tiến Bộ Mát xcơ va 1977 – in theo bản dich của nhà xuất bản sự thật,

Trong lĩnh vực xã hội: Nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi bộ mặt nước nhà
song cũng đem lại không ít những tiêu cực, ảnh hưởng đến tâm lý, đời sống của người
lao động. Vì vậy, Công đoàn phải góp phần xây dựng giai cấp công nhân, bảo đảm sự
thống nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ
chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật để giai cấp công
nhân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Công đoàn
phải tuyên truyền giáo dục người lao động chống tiêu cực và tệ nạn xã hội, xây dựng
phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao trình độ văn hoá,
chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật và tính sáng tạo cho người lao động.
Công đoàn góp phần củng cố liên minh công - nông và trí thức xây dựng khối
đoàn kết toàn dân. Đây là cơ sở xã hội vững chắc, tăng cường sức mạnh của nhà
nước.
GVHD: Ths.Diệp Thành Nguyên

16

SVTH: Lê Văn Hiếu


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
Trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng: Nền kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm, tích
cực song nền kinh tế này còn là “mảnh đất” làm nảy sinh những tiêu cực xã hội. Hơn
lúc nào hết, công đoàn cần phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục công nhân,
viên chức, người lao động nâng cao lập trường giai cấp, phát huy những giá trị cao
đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh
nhân loại. Đó là yếu tố quan trọng làm cho vai trò của công đoàn ngày càng mở rộng
phát triển. Ngày nay, tổ chức công đoàn đang, đã và sẽ thu hút được đông đảo lực
lượng người lao động. Công đoàn còn có vai trò thúc đẩy người lao động tích cực
sáng tạo để trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế đất nước.


trước mắt và lợi ích lâu dài của người lao động, của doanh nghiệp, của nhà nước một
cách căn bản, hiệu quả phát huy vai trò ‘‘trường học quản lý’’ của công đoàn.
Để thực hiện tốt chức năng quản lý công đoàn cần đẩy mạnh nội dung hoạt
động cụ thể:
Tổ chức phong trào thi đua lao động giỏi trong người lao động.
Vận động tổ chức người lao động tham gia xây dựng và thực hiện kế hoạch sản
xuất kinh doanh, nhiệm vụ công tác, tham gia quản lý lao động, tìm việc làm và tạo
điều kiện cho người lao động làm việc.
Công đoàn phải tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, xây dựng các
chính sách liên quan đến người lao động.
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế phát triển theo xu thế hội nhập, khi thực
hiện chức năng quản lý, công đoàn cần chú trọng đến việc phát triển tiềm năng lao
động, phát huy sáng kiến, cùng chủ doanh nghiệp tìm nguồn vốn, mở rộng thị trường
sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm cho người lao động. Kiểm tra, giám sát hoạt
động của nhà nước chống nạn tham nhũng, quan liêu.
Chức năng tổ chức giáo dục, vận động công nhân và người lao động: Một
trong những chức năng tiếp theo của công đoàn là tuyên truyền, giáo dục người lao
động vững tin vào đường lối, chính sách của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi
mới, luôn luôn tỉnh táo, cảnh giác, đấu tranh với mọi khuynh hướng sai lầm.
Nội dung chức năng giáo dục của công đoàn ngày nay càng được mở rộng,
toàn diện hơn, nhất là giáo dục pháp luật, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục truyền thống
đạo đức cho người lao động.
Tóm lại, chức năng của Công đoàn là một hệ thống đồng bộ bao gồm nhiều
chức năng khác nhau. Trong đó, chức năng đại diện bảo vệ các quyền lợi ích hợp
pháp của công nhân và người lao động là chức năng quan trọng nhất, thể hiện mục
tiêu hoạt động của tổ chức Công đoàn; chức năng đại diện người lao động tham gia
quản lý kinh tế xã hội, quản lý nhà nước mang có ý nghĩa như là một phương tiện để
biến các chức năng của công đoàn thành hiện thực; chức năng tổ chức giáo dục, vận
động công nhân, người lao động có vai trò hỗ trợ tích cực để công đoàn đạt được
những mục tiêu đề ra.


1.4. Cơ cấu tổ chức của Công đoàn Việt Nam
Cơ cấu tổ chức là vấn đề cơ bản nhất trong công tác tổ chức. Cơ cấu tổ chức
phản ánh sự phân công lao động trong một tổ chức, hoặc là sự phân bổ nhiệm vụ của
bộ máy tổ chức cho các cơ sở tổ chức trực thuộc. Khi nhìn vào cơ cấu bộ máy tổ chức
đó có thể thấy được các nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức, trên cơ sở đó mà phân biệt tổ
chức này với tổ chức khác.
Cơ cấu tổ chức còn phản ánh mối quan hệ công tác giữa các bộ phận cấu thành,
thông qua nghiên cứu cơ sở của hệ thống tổ chức. Bảo đảm số nhân sự cần thiết trong

GVHD: Ths.Diệp Thành Nguyên

19

SVTH: Lê Văn Hiếu


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
các đơn vị cấu thành. Cơ cấu tổ chức phải bảo đảm, tạo điều kiện cho việc luân
chuyển và xử lý thông tin giữa các đơn vị trực thuộc.
Theo điều lệ công đoàn Việt Nam,6 tổ chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ
bản sau: 1) Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam7 (TLĐLĐVN); 2) Liên đoàn lao động
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương(gọi là liên đoàn lao động tỉnh, thành phố) và
công đoàn ngành trung ương; 3) Công đoàn cấp trên cơ sở; 4) Công đoàn cơ sở và
nghiệp đoàn. Trong đó, mỗi cấp công đoàn có nhiệm vụ khác nhau.
Đối tượng chỉ đạo trực tiếp của TLĐLĐVN là các liên đoàn lao động tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, công đoàn ngành trung ương và cơ quan tổng liên
đoàn lao động, các đơn vị trực thuộc. TLĐLĐVN là cơ quan cao nhất quyết định
phương hướng, chủ trương, nội dung, chương trình hoạt động của công đoàn nhằm
thực hiện nghị quyết đại hội công đoàn toàn quốc và nghị quyết của Đảng cộng sản


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
quy hoạch kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, thực hiện chế độ chính với cán bộ
thuộc diện quản lý.
Công đoàn ngành trung ương có đối tượng chỉ đạo là công đoàn tổng công ty,
công đoàn trong các cơ quan bộ, công đoàn trong các ban của Đảng, đoàn thể trung
ương và các công đoàn cơ sở trực thuộc. Công đoàn ngành trung ương có trách nhiệm
phối hợp với liên đoàn lao động tỉnh, thành phố chỉ đạo hướng dẫn công đoàn ngành,
địa phương các nội dung thuộc ngành, nghề. Đối tượng chỉ đạo, nhiệm vụ của công
đoàn ngành trung ương được quy định cụ thể trong điều lệ của công đoàn Việt Nam
và trong các nghị quyết được ban hành ở các nhiệm kỳ đại hội công đoàn Việt Nam.
Công đoàn cấp trên cơ sở bao gồm liên đoàn lao động quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và các công đoàn tổng công ty, công đoàn ngành địa phương,
công đoàn công ty, khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung chịu sự chỉ đạo trực tiếp
(hoặc phối hợp) của liên đoàn lao động tỉnh, thành phố (trung ương) và công đoàn
ngành trung ương. Đối tượng chỉ đạo trực tiếp của công đoàn cấp này là các công
đoàn cơ sở và nghiệp đoàn đã được phân cấp quản lý theo điều lệ công đoàn Việt
Nam.
Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn có đối tượng chỉ đạo trực tiếp là các công
đoàn bộ phận; tổ công đoàn. Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn ra quyết định thành lập
và công nhận ban chấp hành công đoàn bộ phận và tổ công đoàn; chỉ đạo công đoàn
bộ phận và tổ công đoàn, thực hiện có hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng, phát triển
đoàn viên, xây dựng công đoàn bộ phận tổ công đoàn và công đoàn cơ sở vững mạnh.
Với một cơ cấu chặt chẽ thống nhất như vậy, công đoàn có điều kiện thuận lợi
trong hoạt động chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động và đưa chính sách
pháp luật vào đời sống, giúp cho đại bộ phận người lao động và người sử dụng lao
động thực hiện tốt chính sách của nhà nước vì sự phát triển của doanh nghiệp và của
xã hội.

1.5. Nguyên tắc hoạt động của tổ chức Công đoàn

Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động tức là đảm bảo hoạt động công
đoàn luôn theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, công tác tổ chức cán bộ của
Đảng. Đồng thời, công đoàn còn vận dụng chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng vào chương trình hoạt động của mình và thường xuyên tranh thủ sự lãnh đạo
của Đảng thông qua việc thông báo tình hình và kết quả hoạt động.
Các cấp công đoàn cần kiện toàn bộ máy tổ chức của mình, cơ cấu ban chấp
hành công đoàn cần có người là đảng viên có uy tín, có năng lực công tác. Cần có cán
bộ công đoàn là đảng viên ưu tú tham gia cấp uỷ. Như vậy, tổ chức công đoàn mới
nâng cao hiệu quả công tác và luôn đi đúng đường lối của Đảng, thực hiện tốt các
chức năng của mình, đồng thời làm tốt vai trò là sợi dây nối liền Đảng với quần
chúng.
Trong điều kiện hiện nay, khi nền kinh tế vận hành theo hướng mở rộng liên kết,
hợp tác liên doanh với nước ngoài, tổ chức và hoạt động công đoàn ở các cơ sở liên
doanh đã mang màu sắc mới. Song, không thể tách rời sự lãnh đạo của Đảng, mà
GVHD: Ths.Diệp Thành Nguyên

22

SVTH: Lê Văn Hiếu


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
ngược lại cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo cuả Đảng đối với tổ chức công đoàn.
Tuy nhiên, trong khi vận dụng nguyên tắc này không nên máy móc mà cần có sự sáng
tạo để đảm bảo sự thành công trong hoạt động công đoàn.

1.5.2. Công đoàn phải giữ liên hệ mật thiết với quần chúng
Công đoàn là tổ chức quần chúng rộng lớn của công nhân viên chức và người
lao động, ngược lại công nhân viên chức lao động là cơ sở xã hội của công đoàn. Sức
mạnh của công đoàn là mối liên hệ mật thiết với quần chúng để thu hút, tập hợp,

23

SVTH: Lê Văn Hiếu


Đổi mới hoạt động tổ chức Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế
các nhiệm vụ được giao trên cơ sở nhận thức được trách nhiệm và lợi ích công việc
của mình.
Đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng trong hoạt động công đoàn có nghĩa là
không nên gò ép đoàn viên tham gia hoạt động. Vấn đề này trở thành nguyên tắc hoạt
động của công đoàn vì công đoàn là tổ chức do viên chức và người lao động tự
nguyện tham gia và hoạt động vì lợi ích của chính họ. Nếu phủ nhận nguyên tắc này
là phủ nhận vấn đề hết sức cơ bản thuộc về bản chất của tổ chức công đoàn. Trong
hoạt động công đoàn, tính tự nguyện của quần chúng là động lực thực sự để khơi dậy
lòng nhiệt tình tham gia hoạt động của đoàn viên. Để phát huy được tính tự nguyện
của quần chúng, người cán bộ công đoàn cần có lòng tin thực sự ở mỗi người lao
động. Trước khi làm việc gì dù lớn hay nhỏ, cũng cần phải có sự giải thích hay giáo
dục, thuyết phục làm cho mỗi đoàn viên hiểu ý nghĩa và trách nhiệm trong mỗi công
việc mà họ có nghĩa vụ hoàn thành.
Trong hoạt động công đoàn hiện nay, nguyên tắc này càng được đề cao. Bởi lẽ,
xã hội càng phát triển thì trình độ nhận thức của người lao động ngày càng được nâng
lên. Một khi họ đã nhận thức được vấn đề thì họ sẽ tự nguyện, tự giác tham gia các
hoạt động do công đoàn tổ chức. Muốn vậy, những hoạt động của công đoàn phải có
nội dung sát thực với những vấn đề mà quần chúng quan tâm, hình thức thể hiện
phong phú và đa dạng, lôi cuốn quần chúng tham gia.
Tuy nhiên, khi thực hiện nguyên tắc này người cán bộ công đoàn cần nhận
thức rõ việc đảm bảo tính tự nguyện của quần chúng không có nghĩa hoàn toàn chiều
theo ý quần chúng. Ý muốn của quần chúng chỉ phù hợp khi dựa trên quyền lợi của
tập thể, cộng đồng, xã hội. Vì thế, bên cạnh việc đảm bảo nguyên tắc này công đoàn
cần gắn với việc nâng cao trình độ tư tưởng, văn hoá, nghiệp vụ cho đoàn viên và

hoạt động với công đoàn cấp dưới. Công đoàn cơ sở định kỳ thông báo công việc với
các công đoàn bộ phận, các tổ công đoàn trực thuộc.
Như vậy, tập trung dân chủ trong hoạt động công đoàn là sự kết hợp đúng đắn
giữa người cán bộ với đoàn viên công đoàn, giữa chủ trương và hành động. Đảm bảo
sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, đồng thời phát huy tính tích cực sáng tạo của mỗi
thành viên trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ mục tiêu của mình với mục tiêu xây
dựng tổ chức công đoàn ngày càng vững mạnh.

GVHD: Ths.Diệp Thành Nguyên

25

SVTH: Lê Văn Hiếu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status