TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(Niên khóa 2008 – 2012)
Đề tài:
PHONG TỎA TÀI KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG ĐỂ CƯỠNG CHẾ THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ - THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn:
Trương Thanh Hùng
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Văn Tiến
MSSV:5086004
Lớp: Tư Pháp 2 – K 34
Cần Thơ, 05/2012
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
.............................................................................................................
.................................................................................................................
.................................................................................................................
.................................................................................................................
.................................................................................................................
.................................................................................................................
.................................................................................................................
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu ................................................................................................. 3
3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................... 4
4. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 4
6. Bố cục đề tài................................................................................................................ 5
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BIỆN PHÁP PHONG TỎA TÀI
KHOẢN
TẠI NGÂN HÀNG ĐỂ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ .............................. 6
1.1. Khái quát về thi hành án dân sự và phong tỏa tài khoản tại ngân hàng .............. 7
1.1.1. Các khái niệm có liên quan ................................................................................ 7
1.1.1.1. Thi hành án dân sự ........................................................................................ 7
1.1.1.2. Cưỡng chế ..................................................................................................... 8
1.1.2.3. Cưỡng chế thi hành án dân sự ........................................................................ 9
1.1.2. Lý luận chung về phong tỏa tài khoản tại ngân hàng ..................................... 10
1.1.2.1. Khái niệm về phong tỏa tài khoản chung tại ngân hàng................................. 10
1.1.2.2. Khái quát về biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản ................... 11
1.1.2.3. Ý nghĩa của việc phong tỏa tài khoản tại ngân hàng ...................................... 12
1.1.2.4. Lược sử quy định về biện pháp cưỡng chế phong tỏa tài khoản
tại ngân hàng .......................................................................................................... 15
1.2. Sự khác nhau giữa biện pháp cưỡng chế thi hành án với biện pháp khẩn
cấp tạm thời về phong tỏa tài khoản tại ngân hàng .................................................... 21
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ VIỆC PHONG TỎA TÀI
KHOẢN TẠI NGÂN HÀNG ĐỂ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ............ 25
2.1. Quy định chung về phong tỏa tài khoản tại ngân hàng để thi hành án .............. 26
2.1.1 Căn cứ cưỡng chế và thẩm quyền ra quyết định việc phong tỏa
tài khoản tại ngân hàng . ....................................................................................... 26
2.1.1.1. Căn cứ cưỡng chế việc phong tỏa tài khoản tại ngân hàng để thi hành
án dân sự .............................................................................................................. 26
3.1. Một số hạn chế về lý luận trong việc phong tỏa tài khoản................................... 52
3.1.1. Quy định của pháp luật còn hạn chế ............................................................... 52
3.1.1.1. Một số quy định của pháp luật chưa rõ........................................................... 52
3.1.1.2. Quy định của pháp luật chưa phù họp thực tế................................................. 55
3.1.1.3. Luật chưa có quy định ................................................................................... 58
3.1.2. Kỹ thuật lập pháp còn hạn chế ........................................................................ 59
3.2. Về thực tiễn áp dụng việc phong tỏa tài khoản tại ngân hàng ............................ 60
3.2.1. Luật có nhiều văn bản chồng chéo nhau ......................................................... 60
3.2.2. Quy định của phấp luật và cách áp dụng ........................................................ 62
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 66
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Bản án, quyết định của Tòa án là nhân danh Nhà nước, khi được chấp
hành một cách nghiêm chỉnh sẽ có tác động trực tiếp đến lòng tin của nhân dân
đối với pháp luật, đối với chế độ Nhà nước. Vì vậy, hoạt động bảo đảm thi hành
án dân sự nói chung và phong tỏa tài khoản nói riêng có một ý nghĩa vô cùng
quan trọng trong việc góp phần đảm bảo cho quyền lực tư pháp được thực thi
trên thực tế giúp pháp luật đi vào đời sống của người dân và ý thức tuân thủ
pháp luật của người dân được nâng lên. Hiến pháp 1992 khẳng định “Các bản án
và quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ
quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và
mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan nghiêm chỉnh chấp
hành”1. Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị, Ban
chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm
2020 đã chỉ rõ “Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của Toà án có hiệu lực
pháp luật phải được thi hành. Chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất
để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp”.
lý doanh nghiệp và cá nhân còn hạn chế. Mặt khác, là do chưa có sự phối hợp
đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật; cơ sở pháp lý về tổ chức
và hoạt động chưa được hoàn thiện, hệ thống các văn bản pháp lý về THADS
chưa đầy đủ, chậm được ban hành, sửa đổi, bổ sung kịp thời cũng ảnh hưởng
rất lớn đến công tác phong tỏa tài khoản tại ngân hàng để thi hành án dân sự.
Vì vậy, muốn giải quyết tình trạng “án tồn đọng”, nâng cao hiệu quả
THADS cần phải nghiên cứu đề ra các giải pháp đồng bộ về nhiều mặt như là về
kinh tế, về pháp luật, về chính sách xã hội, về tổ chức bộ máy, cán bộ viên
chức... Nhưng trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp cử nhân luật, tác giả chỉ đi
sâu tìm hiểu những vấn đề liên quan đến quy định của pháp luật về việc phong
tỏa tài khoản nên người viết chọn đề tài “phong tỏa tài khoản tài ngân hàng để
cưỡng chế thi hành án dân sự - thực tiễn áp dụng tại quận Ninh Kiều thành phố
Cần Thơ” làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật. Với đề tài này tác giả mong
muốn giúp cho người đọc có được cái nhìn tổng quát, rõ ràng về tầm quan trọng
của việc phong tỏa tài khoản trong thực tế đồng thời thông qua đó ta biết được
những quy định cần thiết liên quan đến việc phong tỏa tài khoản, những bất cập
cũng như giải pháp nhằm nâng cao hiệu của việc phong tỏa tài khoản để cưỡng
chế THADS nên người viết chọn đề tài này để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
Do tính chất quan trọng của thi hành án dân sự nên một số năm gần đây
có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này có thể kể đến như: Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ “Những cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định Thừa phát
lại”, do Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp Thành
phố Hồ Chí Minh chủ trì thực hiện; Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Mô hình quản lý
thống nhất công tác thi hành án”, do Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ
trì thực hiện ngoài ra còn thêm một số công trình nghiên cứu khác luận văn thạc
sĩ luật học: “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và
hướng hoàn thiện” của tác giả Nguyễn Công Long; Luận văn thạc sĩ luật học
Mục tiêu tổng quát của đề tài này là tìm ra các luận cứ khoa học và thực
tiễn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc phong tỏa tài khoản
tại ngân hàng vì phong tỏa có tầm vai trò khá quan trọng trong công tác thi hành
án dân cũng như trong thực tiễn, đặt biệt có hiệu quả tối ưu trong vụ việc liên
quan tới nghĩa vụ trả tiền, để việc phong tỏa phát huy tác dụng tốt hơn nữa trong
hiện tại và tương lai ta cần phải nghiên cứu thấu đáo, toàn diện về phong tỏa tài
khoản cũng như quy định của pháp luật về vấn đề phong tỏa tài khoản tại ngân
hàng để cưỡng chế thi hành án dân sự. Thông qua đó người viết làm rõ cơ sở lý
luận về việc phong tỏa tài khoản tại ngân hàng để cưỡng chế thi hành án cũng
như đánh giá đúng đắn về quy định của pháp luật về vấn đề phong tỏa tài khoản
đồng thời tác giả cũng đi phân tích, tìm hiểu nguyên nhân không áp dụng được
quy định của pháp luật về phong tỏa tài khoản hoặc có quy định về vấn đề này
nhưng không áp dụng được nhiều trong thực tế và đưa ra những giải pháp trước
mắt và lâu dài để áp dụng vào việc phong tỏa tài khoản đạt hiệu quả, phát huy
tác dụng cao nhất mà pháp luật đã quy định về việc phong tỏa tài khoản tại ngân
hàng để thi hành án dân sự.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để có thể làm tốt đề tài trên, trong quá trình nghiên cứu, trình bày người
viết đã sử dụng các phương pháp như phương pháp phân tích, tổng hợp luật viết,
phương pháp này đã giúp cho người viết khái quát tóm lược những ý chính của
vấn đề, từ đó vận dụng những kiến thức đã nắm được áp dụng vào đề tài nghiên
cứu nhằm làm rõ thêm vấn đề đã đưa ra. Tác giả còn sử dụng phương pháp lịch
sử, để xác định rõ thời gian, trình tự của vấn đề mà mình sẽ trình bày sao cho
phù hợp với sự phát triển lịch sử của nó, cũng như phương pháp so sánh, để thấy
rõ về sự phát triển thay đổi của vấn đề qua từng giai đoạn từ đó thấy rõ những
nguyên nhân, ưu điểm, khuyết điểm của những sự khác nhau đó mà có quyết
định lựa chọn quy định nào cho phù hợp nhất. Bên cạnh đó phương pháp logic
trong luận văn nhằm phân tích vấn đề, cũng như trình bày đề tài và phân tích đề
thế nào, vấn đề gì người viết muốn đề cặp ở đây? Khi vụ án được xét xử nhưng
không được thực thi bằng giai đoạn thi hành phán quyết đó (thi hành án), thì bản
án đó không có giá trị pháp lý chỉ được ghi nhận trên giấy, không đáp ứng được
mục đích mà nhà nước xây dựng pháp luật để quản lý xã hội, buộc mọi người
tuyệt đối chấp hành một cách nghiêm chỉnh Khoản 2 Điều 9 Luật Thi hành án
dân sự năm 2008 “Người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự
nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của Luật này”.
Đúng vậy, công tác thi hành án cực kỳ quan trọng và phức tạp vì nó ảnh
hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích của người bị buộc thực hiện nghĩa vụ thi hành
án. Muốn hoàn thành tốt công tác thi hành án đòi hỏi nhiều yếu tố như người có
nghĩa vụ trả tiền có tài khoản không, có khả năng thi hành bản án không, có tài
khoản nhưng còn số dư trong tài khoản không, trong những yếu tố đó, yếu tố con
người (người phải thi hành án) là rất quan trọng nó bao quát hết các yếu tố trên
vì quyết định bản án được thực thi nhanh hay chậm hoặc bế tắt trên thực tế hay
không thì phải xem thái độ của người có nghĩa vụ có hợp tác hay không, nếu họ
không hợp tác thì phải làm sao? Ta phải đề cặp đến vấn đề các biện pháp bảo
đảm thi hành án, mà phong tỏa tài khoản là một trong những biện pháp bảo đảm
hữu hiệu nhất nhanh gọn đỡ tốn kém, mất thời gian để đảm bảo hoàn tất giai
đoạn cuối cùng của một vụ án dân sự cụ thể, đối với nghĩa vụ trả tiền. Nếu biết
được người phải thi hành án có tài khoản trong ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng
cụ thể nào đó, thì Chấp hành viên tiến hành xác minh phong tỏa và sử lý tài
khoản đó để phục vụ cho công tác thi hành án từ đó góp phần vụ án được giải
quyết nhánh chóng hơn vụ việc, tạo được sự tin tưởng của quần chúng nhân dân
đối với công lý do nhà nước đặt ra góp phần nâng cao vị thế của pháp luật trong
lòng người dân vì nó có tính nghiêm khắc buộc mọi người tuyệt đối tuân theo từ
đó góp phần làm giảm được sự tồn động trong công tác thi hành án dân sự.
Trong chương này người viết chủ yếu tìm hiểu: khái niệm phong tỏa tài
khoản và một số khái niệm liên quan, nó có ý nghĩa gì? Lược sử hình thành? có
có quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là hành chính tư pháp (trước năm
2004) quan điểm này chiếm ưu thế hơn các quan khác; Có nhóm quan điểm cho
rằng thi hành án dân sự là cơ quan hành (giai đoạn sau năm 2004) đến nay vẫn
chưa có sự nhất quán với nhau dần đi vào quên lãng, nhóm theo quan điểm này
vẫn chưa hợp lý so với mục tiêu cải cách tư pháp đến năm 2020 do Nhà nước ta
đề ra; Quan điểm còn lại thì cho rằng thi hành án dân sự là cơ quan tố tụng dân
sự. Theo quan điểm của tác giả thì cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan hành
chính nhưng thực hiện chức năng tư pháp thì sẽ dung hòa cơ cấu tổ chức và thực
hiện chức năng của nó hơn vì nó là hành chính hay là tư pháp thì cũng sẽ không
xong.
Như vậy, THADS nếu hiểu theo nghĩa rộng còn bao gồm cả hành vi nhằm
thực hiện bản án, quyết định của Tòa án, không những theo quy định của pháp
luật về THADS mà còn theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật khác.
1.1.1.2. Cưỡng chế
Bất cứ một nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển bền vững thì cũng đặt
ra hệ thống pháp luật riêng của quốc gia mình nhằm bảo vệ chế độ của mình bên
cạnh đó cũng nhằm mục đích đảm bảo công bằng xã hội là cán cân xử sự chung
là chuẩn mực của xã hội, đồng thời nó cũng là công cụ giữ gìn trật tự trị an xã
hội. Mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật khác nhau hoàn chỉnh hay chưa được
hoàn chỉnh, đều chỉnh cụ thể vấn đề hay không là do trình độ lập pháp - kỹ thuật
của mỗi quốc gia. Chính vì vậy nhà nước tổ chức thành một hệ thống cơ quan
làm nhiện vụ bảo vệ và thực thi pháp luật trong đó có cơ quan thi hành án để khi
cần thiết có thể cưỡng chế bảo vệ pháp luật mà nhà nước đặt ra, bảo vệ lợi ích
của nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích cho toàn xã hội. Do đó, theo tác giả thì:
Cưỡng chế là biện pháp mang quyền lực nhà nước, do nhà nước thực hiện
nhằm trấn áp, trừng trị những ai có hành vi trái lại với lợi ích của nhà nước, lợi
ích của cộng đồng xã hội và lợi ích của một cá nhân, tổ chức cụ thể nào đó sau
khi áp dụng các biện pháp cần thiết như: giáo dục, thuyết phục mà vẫn không tự
hành viên luôn mong muốn nhanh chóng giải quyết dứt điểm quyết định THA
được phân công. Sau khi Chấp hành viên tiến hành các biện pháp nghiệp vụ
khác mà không đạt được kết quả, buộc Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp
cưỡng chế THA khi xác minh được người phải THA có điều kiện THA mà
không tự nguyện THA. Trong trường hợp này, Chấp hành viên phải lựa chọn
biện pháp cưỡng chế THA thích hợp để áp dụng cho phù hợp với từng loại vụ
việc nhất định trong thực tế.
Vậy, cưỡng chế THADS là một biện pháp nghiêm khắc nhất được Chấp
hành viên áp dụng trong quá trình tổ chức THA, thể hiện việc Cơ quan THA sử
dụng quyền lực Nhà nước để buộc người phải THA thi hành nghĩa vụ mà bản
án, quyết định của Toà án đã tuyên. Cưỡng chế THA là biện pháp cuối cùng
trong hoạt động THA, khẳng định tính kiên quyết của Nhà nước trong việc bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được THA khi người phải THA không
thực hiện nghĩa vụ của mình. Bên cạnh đó cưỡng chế thi hành án còn có ý nghĩa
to lớn hơn đó là bảo đảm sức mạnh quyền lực nhà nước buộc mọi người phải
tuyệt đối tuân thủ vì nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, pháp luật có tính
nghiêm minh của nó, nhờ có pháp luật mà chính trị cũng được ổn định thông
qua đó thì địa vị nhà nước được nâng cao hơn .
1.1.2. Lí luận chung về phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
1.1.2.1. Khái niệm về phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu xã hội đòi hỏi ngày càng cao theo đó
nhu cầu tiêu sài của con người đòi hỏi cũng tăng theo như: mở tài khoản, các
nhu cầu như mua sắm, tiêu sài liên quan đến tiền ngày càng được chú trọng, mà
việc mua sắm, tiêu sài mọi lúc mọi nơi việc mang tiền bên minh rất khó khăn,
phiền hà và có nhiều vấn đề xảy ra xung quanh việc mang tiền trong người như:
cướp giật, khó khăn cho việc cất giữ với số tiền khá lớn như đi du lịch xuyên
quốc gia, nhu cầu đầu tư,… chính vì vậy, vấn đề tài khoản được ưu tiên chú
trọng và được sử dụng ngày càng phổ biến hơn trên tất cả các quốc gia trên thế
thực hiện nghĩa vụ mà không tự nguyện thực hiện mà có hành vi tẩu tán rút tiền
ra khỏi tài khoản, cố tình không thực hiện nghĩa vụ của mình thì bị buộc thực
hiện bằng biện pháp phong tỏa tài khoản không cho chuyển dịch tiền trong tài
khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng nhà nước Việt nam và chủ
tài khoản không được phép thực hiện giao dịch với số tiền bị phong tỏa các giao
dịch đó bị vô hiệu.
1.1.2.2. Khái quát về biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản
Biện pháp phong tỏa tài khoản là biện pháp bảo đảm thi hành án đồng
thời nó được xem là bước đệm cho việc cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản
của người bị thi hành án được ghi nhận trong bản án, quyết định của Tòa án. Cơ
quan thi hành án có trách nhiệm đưa bản án, quyết định trên thực thi trên thực tế.
Biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền trong tài khoản của người bị thi hành án được
thực hiện khi hết thời gian tự nguyện thi hành án vì thời gian để người thi hành
án tự nguyện thi hành án là khoản thời gian để đương sự sắp xếp, chuẩn bị khoản
tiền thanh toán cho bên được thi hành án theo quyết định thi hành án của cơ
quan thi hành án và đây cũng là thời gian dành cho người có nghĩa vụ tự lựa
chon biện pháp thi hành án tự nguyện hay cưỡng chế thi hành án. Thời gian tự
nguyện thi hành án là 15 ngày kể từ ngày người bị thi hành án nhận được hoặc
thông báo quyết định thi hành án. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành
án tẩu tán tài khoản thì Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp phong tỏa tài
khoản để cưỡng chế thi hành án. Khi áp dụng biện pháp khấu trừ tiền trong tài
khoản thì người bị thi hành án nghĩa vụ trả tiền mới áp dụng được biện pháp này,
ta có thể thấy được sự thuận lợi mà biện pháp này mang lại là nó rất đơn gian và
dễ thực hiện trong thực tế nếu việc phong tỏa tài khoản thuận lợi và không có trở
ngại gì, từ việc thuận lợi nêu trên thì nó có khả năng thu tiền của người bị thi
hành án rất nhanh chóng kết thúc vụ án Chấp hành viên hoàn thành nhiệm vụ
được phân công. Tóm lại, cưỡng chế thi hành án bằng biện pháp khấu trừ tiền
trong tài khoản của người bị thi hành án có vai trò rất lớn trong thực tế, phù hợp
nước ngoài cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận
của khách hàng.”2, từ việc đảm bảo được lợi ích của người được thi hành án nên
củng cố được niềm tin pháp luật của người dân vì nếu trong tất cả các trường
hợp không được biết thông tin của khách hàng thì sẽ tạo tâm lý e ngại của mọi
người dân vào pháp luật. Luật ghi nhận “trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền”, cơ quan, tổ chức quản lý tài khoản của người phải thi
hành án có trách nhiệm cung cấp cho Chấp hành viên người được phân công
trong vụ án đây là cơ sở pháp lý để Chấp hành viên thực hiện hoạt động tác
nghiệp một cách thuận lợi hơn. Luật đã ghi nhận trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức quản lý tài khoản của người bị thi hành án như vậy nhưng khi áp thì các cơ
quan, tổ chức thực hiện như thế nào khi có yêu cầu cung cấp thông tin liên quan
đến tài khoản của khách hàng?
Khi phát hiện người phải thi hành án có tài khoản trong ngân hàng mà có
điều kiện thi hành bản án nhưng cố tình không chịu thi hành bản án, ù lì thì việc
phong tỏa tài khoản có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằn đảm bảo cho việc khấu
trừ tiền trong tài khoản người bị thi hành án thuận lợi và nhanh chóng hơn.
Tránh tình trạng việc tẩu tán tiền trong tài khoản gây khó khăn trong công tác thi
hành án dân sự và vụ việc không được giải quyết cứ bế tắt. Trong những trường
hợp như trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì việc phong tỏa tài
khoản đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó sẽ phát huy được tác dụng nhất định.
Nhìn từ góc độ tâm lý bị phong tỏa tài khoản thì ảnh hưởng một phần tâm
lý lo ngại của người bị thi hành án, bắt buộc người có nghĩa vụ phải chấp hành
nghĩa vụ của mình nếu không thực hiện thì tài khoản bị phong tỏa, khấu trừ và
không đủ tiền đảm bảo trong giao dịch, kinh doanh có điều kiện như mua bán
hàng hóa có số tiền tương ứng để thanh toán gây tâm lý quan mang cho chủ tài
2 Điều 14 Luật tổ chức tín dụng 2010
Vậy, phong tỏa tài khoản có vai trò và ý nghĩa vô cùng lớn trong quá trình
giải quyết vụ việc trong công tác thi hành án dân sự. Công tác cưỡng chế thi
hành án khá hiệu quả nhưng tốn khá nhiều thời gian (chưa có cơ chế ngăn chặn
việc tẩu tán) nên luật thi hành án dân sự cho ra đời biện pháp phong tỏa tài
khoản nhằm lắp chỗ cho việc mất thời gian đó để vụ việc được giải quyết có
hiệu quả hơn, không đi vào bế tắt, nó có hiệu quả thiết thực đối với vụ án thi
hành nghĩa vụ trả tiền (khấu trừ tiền trong tài khoản), từ khi ra đời thì nó đã phát
huy được tác dụng của nó là góp phần làm giảm đi một phần các án tồn động
trong thi hành án dân sự.
1.1.2.4. Lược sử quy định về biện pháp cưỡng chế phong tỏa tài khoản tại
ngân hàng
Nhìn từ góc độ lập pháp ta thấy Luật thi hành án ra đời muộn hơn các
ngành luật khác như Luật lao động, Thương mại, Luật hình sự, Luật tố tụng hình
sự, … Luật thi hành án dân sự ra đời và có hiệu lực pháp luật năm 2008. Trước
khi Luật thi hành án dân sự ra đời thì việc thi hành án dân sự được quy định và
giải quyết vụ việc thông qua các Pháp lệnh thi hành án dân sự. Trong lịch sử
nước ta về thi hành án dân sự thi gồm có các Pháp lệnh như: Pháp lệnh thi hành
án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993 đến Pháp lệnh Thi
hành án dân sự năm 2004 hiện giờ là Luật thi hành án dân sự 2008. Ta thấy từ
các Pháp lệnh và Luật thi hành án dân sự 2008 thì ngày càng được quy định chặt
chẽ và có những tiến bộ đáng kể về việc phong tỏa tài khoản tại ngân hàng để
cưỡng chế thi hành án, bên cạnh Pháp lệnh, Luật thi hành án thì Luật ngân hàng
cũng điều chỉnh về vấn đề phong tỏa tài khoản cũng như khấu trừ tiền trong tài
khoản. Với những quy định về phong tỏa tài khoản được ghi nhận trong Pháp
lệnh mà hiện nay là Luật thi hành án dân sự 2008 đây là cơ sở pháp lý vững chắc
để các nhà áp dụng pháp luật thực thi trong thực tiễn cuộc sống cũng như sự phát
triển của đất nước ta trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thị trường: hợp tác,
đầu tư, thanh toán quốc tế, … Kèm theo quá trình hội nhập đó có nhiều vấn đề
hành án dân sự năm 1993 có quy định về vấn đề phong tỏa tài khoản và khấu trừ
tiền của người có nghĩa vụ trong tài khoản tại ngân hàng để thi hành án hay
không.
Cũng như Pháp lệnh Thi hành án dân sự 1989 có hiệu lực thi hành 1990,
Pháp lệnh Thi hành án dân sự cũng Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 1 tháng 6
năm 1993 và thay thế Pháp lệnh Thi hành án dân sự ngày 1 tháng 1 năm 1990
cũng không có gì mới về vấn đề phong tỏa tài khoản trong ngân hàng để thi hành
án. Trong Pháp lệnh Thi hành án dân sự 1993 thì vấn đề này được ghi nhận tại
3 Khoản 1 Điều 34 Pháp lệnh Thi hành án dân sự 1989
khoản 1 Điều 40 trừ vào tài sản của người phải thi hành án đang do người khác
giữ.
“Đối với tài sản của người phải thi hành án đang gửi ở ngân hàng, chấp
hành viên yêu cầu Ngân hàng khấu trừ và chuyển cho người được thi hành án số
tiền hoặc tài sản mà người phải thi hành án phải trả cho người đó”.
Vậy, có thể thấy sự kế thừa toàn bộ về vấn đề này của Pháp lệnh trước đó
là Pháp lệnh 1989 có hiệu lực pháp luật 1990 nên sự mới mẽ và cải thiện về vấn
đề này không có gì mới có lẽ chỉ trong vài năm thì xã hội chưa có gì đổi mới nên
chưa có quy định và điều chỉnh về vấn đề này một cách thiết thực với lại trong
giai đoạn hai Pháp lệnh này ra đời thì nền kinh tế của ta còn khó khăn và xã hội
cũng không có gì biến động đáng kể vấn đề này không có gì thay đổi mà cũng
vẫn quy định một cách khá sơ sài không áp dụng được nhiều trong thực tiễn.
Từ khi Luật ngân hàng 1997 ra đời thì có quy định gì về vấn đề tài khoản
không? Luật có quy định về vấn đề mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng như
sau: “Ngân hàng Nhà nước mở tài khoản và thực hiện các giao dịch cho Kho
bạc Nhà nước. ở huyện, thị xã không phải là tỉnh lỵ, Kho bạc Nhà nước mở tài
khoản tại một ngân hàng thương mại nhà nước.”4 Trên cơ sở luật ngân hàng
1997 nghị định 64/2001/NĐ-CP hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng
sau: “Phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà
nước; phong toả tài sản ở nơi gửi giữ”
Nó cũng được giải thích chi tiết tại một Điều cụ thể trong bộ luật tố tụng
dân sự 2004 như sau: “Phong toả tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng
khác, kho bạc nhà nước được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có
căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng
khác, kho bạc nhà nước và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm
cho việc giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành án.”6
Trên tinh thần luật tố tụng dân sự 2004 ra đời có đều chỉnh về vấn đề này
nên pháp lệnh thi hành án 2004 có cơ sở, tạo điều kiện cho pháp lệnh dễ dàng
hơn trong việc quy định về vấn đề phong tỏa tài khoản từ đó pháp lệnh thi hành
án 2004 ra đời trên tinh thần dựa vào quy định của Luật tố tụng dân sự 2004 về
phong tỏa, khấu trừ tiền trong tài khoản của người bị thi hành án.
Pháp lệnh Thi hành án dân sự 2004, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
7 năm 2004. Vấn đề phong tỏa tài khoản được ghi nhận trong các biện pháp
cưỡng chế thi hành án dân sự. Thiết nghĩ có sự ghi nhận này là do một số vấn đề
cấp thiết, sự triển biến của xã hôi như năm 1995 Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế
đối với nước ta từ đó sự đầu tư, phát triển kinh tế có bước khởi sắc, nền kinh tế
có sự vận động và phát triển nên cần thiết phải điều chỉnh về vấn đề phong tỏa,
khấu trừ tiền trong tài khoản của người bị thi hành án; do xã hội có những
6 Điều 112 Bộ Luật tố tụng dân sự 2004
chuyển biến mới việc khấu trừ tiền trong tài khoản chưa có hiệu quả thiết thực
và chưa đủ sức răng đe, thêm vào đó khi có căn cứ cho rằng người phải thi
hành án có dấu hiệu tẩu tán tiền trong tài khoản thì chấp hành viên có thể ra
quyết định phong tỏa tài khoản đối với cá nhân tổ chức có tài khoản trong ngân
hàng, tổ chức tín dụng, ngân hàng nhà nước “Phong toả tài khoản, tài sản của
người phải thi hành án tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước”7
trong tài khoản việc này áp dụng trong trường hợp phong tỏa thành công giải
quyết vụ việc thì rất tốt. Nhưng trường hợp đặc ra là do nguyên nhân khách quan
nào đó khi Chấp hành viên xác minh có số tiền trong tài khoản nhưng khi có
quyết định phong tỏa tài khoản thì số tiền trong tài khoản không còn nữa Chấp
hành viên ra quyết định kết thúc việc phong tỏa tài khoản thì số tài khoản đó có
số dư trở lại thì thế nào? Theo quan điểm của tác giả thì không nhất thiết phải
quy định thời gian áp dụng việc khấu trừ tài khoản là 05 ngày mà đến khi thực
hiện xong việc khấu trừ tiền trong tài khoản vấn đề này cũng sẽ được tác giả làm
rõ ở nội dung chương 3.
Trên tinh thần luật tố tụng dân sự 2004 quy định về vấn đề phong tỏa tài
khoản như vậy, Luật thi hành án dân sự 2008 không có gì đổi mới trên tinh thần
kế thừa các quy định có trước, đến Luật tố tụng dân sự được sửa đổi bổ sung
2011 cũng không có gì khác so với Luật tố tụng dân sự 2004 và Luật thi hành án
dân sự 2008.
1.2. Sự khác nhau giữa biện pháp cưỡng chế thi hành án với áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời về phong tỏa tài khoản tại ngân hàng
Nhìn chung biện pháp khẩn cấp tạm thời và biện pháp cưỡng chế thi hành
án là tương tự nhau nhưng từng đối tượng cụ thể thì ta thấy chúng khác nhau rõ
nét trong từng vấn đề cụ thể.
Trong quá trình nhận đơn, thụ lý, giải quyết vụ việc dân sự, thi hành bản
án Tòa án và cơ quan thi hành án có thể phải ra quyết định áp dụng một hoặc
một vài biện pháp cần thiết nhằm đáp ứng một hoặc một số yêu cầu cấp bách của
vụ án đang trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án. Cả hai biện pháp cưỡng
chế thi hành án và biện pháp khẩn cấp tạm thời đều nhằm đảm bảo tài sản cho
công tác thi hành án dân sự, nhưng mỗi biện pháp có chức năng và vai trò thực
tế trong từng giai đoạn cụ thể của vụ án.
Sự khác nhau cơ bản giữa hai biện pháp cưỡng chế và biện pháp khẩn cấp
tạm thời mà ta có thể thấy được là thời điểm ra quyết định, trong quá trình thụ lý
8 Điều 76 luật thi hành án dân sự 2008
thời gian khá dài có thể vài tháng; còn biện pháp khẩn cấp tạm thời thì chỉ áp
dụng trong một khoản thời gian ngắn trong vòng mấy ngày có thể chấm dứt.
Giữa hai biện pháp này ta thấy điểm khác nhau căn cứ giữa cưỡng chế và
biện pháp khẩn cấp tạm thời: Cưỡng chế thì phải dựa vào bản án, quyết định,