LUẬN văn LUẬT tư PHÁP tìm HIỂU về tổ CHỨC và HOẠT ĐỘNG xét xử của tòa án QUỐC tế về LUẬT BIỂN - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------&----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
(NIÊN KHOÁ: 2009 – 2013)
Đề tài:

TÌM HIỂU VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUỐC TẾ
VỀ LUẬT BIỂN

Giảng viên hướng dẫn :
Th.s Thạch Huôn
Bộ môn Luật Thương mại

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thảo Nguyên
MSSV:5095539
Lớp: Luật Tư pháp 2 – K35

Cần Thơ, 2013


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN


.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................

.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................................2
3. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................................2
4. Kết cấu luận văn.........................................................................................................3

CHƯƠNG 1 SƠ LƯỢC VỀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA LUẬT BIỂN VÀ
TÒA ÁN QUỐCTẾ VỀ LUẬT BIỂN ..................................................................4
1.1.Sự hình thành và phát triển của Luật biển ............................................................. 4
1.1.1. Luật biển quốc tế và Công ước về luật biển của Liên hiệp quốc năm 1982.....4
1.1.2. Nguồn của luật biển quốc tế ............................................................................5
1.2.Khái quát chung về Tòa án quốc tế về luật biển.....................................................7
1.2.1. Lịch sử hình thành về Tòa án quốc tế về luật biển..........................................7
12.2. Vai trò của Tòa án quốc tế về luật biển ............................................................ 9
1.3.Quan hệ của Tòa án với các tổ chức khác............................................................. 10
1.3.1. Tòa án quốc tế về luật biển với các cơ quan khác của Công ước năm 1982. 10
1.3.2. Tòa án quốc tế về luật biển với các Tòa trọng tài........................................... 11


KẾT LUẬN ............................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, do sự cạn kiệt tài nguyên trên đất liền, sự bùng nổ dân số và sự phát
triển của luật pháp, các nước đều có nhu cầu mở rộng quyền lực của mình ra các vùng
biển tiếp liền với lãnh thổ. Cùng với xu hướng tất yếu mà các quốc gia lựa chọn là hợp
tác cùng phát triển dựa trên tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Tuy nhiên,
sự gia tăng của quan hệ hợp tác quốc tế lại tiềm ẩn nguy cơ nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng
trong quá trình chủ thể thiết lập các quan hệ quốc tế. Các hoạt động trên biển ngày càng
nhiều, nguy cơ tranh chấp trên biển sẽ càng gia tăng. Chính vì thế, vấn đề đặt ra là phải
giải quyết các tranh chấp phát sinh như thế nào để đảm bảo được lợi ích hợp pháp của các
bên tranh chấp nói riêng và không phương hại đến hòa bình, an ninh quốc tế nói chung.
Các tranh chấp quốc tế được giải quyết bằng nhiều biện pháp khác nhau và một
(01) trong số các biện pháp đó là việc sử dụng hình thức tài phán quốc tế. Về bản chất, tài
phán quốc tế là cách thức hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế bằng những biện
pháp, thủ tục tư pháp, do các quốc gia lựa chọn. Nhìn chung, các cơ quan tài phán quốc tế
tồn tại hai dạng là Tòa án và Trọng tài quốc tế. Tính chất của mỗi loại hình thức tài phán
phụ thuộc vào quốc tế, điều lệ và chức năng đặc thù của từng loại.
Trên thế giới hiện nay có nhiều cơ quan Tòa án và Tòa trọng tài hoạt động trong
lĩnh vực giải quyết các tranh chấp quốc tế. Trong đó có Tòa án công lý quốc tế - tổ chức
lớn nhất thế giới cũng có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về biển. Tuy nhiên, Tòa
án công lý quốc tế chưa giành tiếng nói của các nước thứ ba (03), chưa đảm bảo được
lòng tin của các nước kém phát triển tại Tòa án và Tòa án công lý quốc tế chỉ giải quyết
các tranh chấp giữa các quốc gia với nhau. Trong khi đó hoạt động trên biển dẫn tới

Đề tài nhằm hướng tới nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề liên quan đến
hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển, bao gồm: những vấn đề lý luận về tổ
chức Công ước năm 1982 và Tòa án quốc tế về luật biển – cơ quan tài phán chính của
Công ước năm 1982; đánh giá về tổ chức và hoạt động của Tòa án quốc tế về luật biển và
những thực tiễn hoạt động; tìm hiểu những tồn tại trong hoạt động giải quyết tranh chấp
của Tòa án quốc tế về luật biển; từ đó đưa ra những ý kiến đề xuất giải quyết những tồn
tại đó.
Thông qua tìm hiếu một cách đầy đủ các vấn đề liên quan đến cơ quan tài phán
thường trực này, chúng ta sẽ nhận thức rõ thêm vai trò quan trọng của Tòa án quốc tế về
luật biển trong vấn đề gìn giữ hòa bình, an ninh thế giới. Việc giải quyết những tồn tại
trong quá trình hoạt động giải quyết tranh chấp sẽ tạo điều kiện cho Tòa án quốc tế về
luật biển trở thành giải pháp tối ưu được các bên tranh chấp lựa chọn để giải quyết các
tranh chấp trên biển nhằm đạt được lợi ích cần thiết, đồng thời vẫn duy trì được mối quan
hệ hòa bình hữu nghị giữa các nước…
Dựa vào mục trên, đề tài sẽ đi vào nghiên cứu tất cả vấn đề liên quan đến hoạt
động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển trong khoảng thời gian từ lúc cơ quan tài
phán này xuất hiện cho đến nay.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp cụ thể
sau: phân tích tổng hợp, so sánh, phương pháp lịch sử,… trên cơ sở hoạt động xét xử của
Tòa án quốc tế về luật biển để giải các vấn đề đặt ra trong luận văn. Luận văn còn đưa ra
những ý kiến đề xuất để giải quyết những tồn tại trong hoạt động giải quyết các tranh
chấp của Tòa án quốc tế về luật biển.
4. Kết cấu của luận văn

GVHD: Th.s Thạch Huôn

2

SVTH: Nguyễn Thảo Nguyên

hiện một số nguyên tắc về Luật biển ở vùng Biển Bắc Âu, và sau đó đã được phổ biến
sang khu vực Địa Trung Hải. Mãi cho đến năm 1930, Hội nghị quốc tế đầu tiên về luật
biển mới được triệu tập ở Lahay, với mục đích bàn về vấn đề cấp bách lúc đó như quy
chế lãnh hải, chống cướp biển, các nguyên tắc sử dụng tài nguyên thiên nhiên trên biển.
Do có nhiều mâu thuẫn nên Hội nghị Lahay không giải quyết được thỏa đáng vấn đề nào.
Ngày 14/02/1958, Liên Hiệp Quốc tổ chức Hội nghị về Luật Biển đầu tiên tại
Geneva, Thụy Sỹ. Hội nghị đã thông qua được bốn công ước quốc tế đầu tiên về luật
biển.1 Các công ước trên đã đặt nền móng cho việc pháp điển hóa luật biển, chúng đã đề
cấp đến một số khái niệm mới, và ghi nhận một số tập quán quốc tế về khai thác, sử dụng
biển. Mặc dù Hội nghị lần này được cho là thành công, nhưng nó vẫn để ngõ vấn đề quan
trọng là bề rộng của vùng lãnh hải.
Hội nghị lần thứ hai của Liên Hiệp Quốc về luật biển được tổ chức ngày
17/3/1960 tại Geneva, nhưng do những bất đồng và mâu thuẫn giữa các quốc gia nên hội
nghị kết thúc mà không đạt thêm một kết quả khả quan nào.
Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về luật biển sau năm năm trù bị (19671972), và chín lần đàm phán thương lượng (1973-1982) với 144 quốc gia và tám cơ quan
đại diện đặc biệt, tham gia đã thông qua được công ước mới về Luật biển. Văn bản cuối
cùng đã được thông qua tại Mongtego-Bay, Giamaica ngày 10/12/1982 với 320 điều
khoản, 17 phần và 9 phụ lục, Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994
(12 tháng kể từ ngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16/11/1993). Ngày
24 tháng 9 năm 2012, quốc gia Châu phi Swaziland chính thức phê chuẩn và tham gia
Công ước năm 1982 trở thành thành viên thứ 164 của Công ước. Sau Hiến chương Liên
Hiệp Quốc, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan
1

Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (có hiệu lực ngày 10 tháng 9 năm 1964, gồm 48 quốc gia thành
viên);
Công ước về biển cả (có hiệu lực ngày 30 tháng 9 năm 1962, gồm 59 quốc gia thành viên);
Công ước về Thềm lục địa (có hiệu lực ngày 10 tháng 6 năm 1964, gồm 54 quốc gia thành viên);
Công ước về dánh ca và bảo tồn các tài nguyên sinh vâtj của biển cả (có hiệu lựa ngày 20 tháng 3 năm 1966,gồm
36 quốc gia thành viên )

hiệp định đầu tiên phân chia “ đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài lãnh hải”;
Ngày 28 tháng 9 năm 1945, Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Truman mở rộng quyền
tài phán của Hoa Kỳ trên các nguồn tài nguyên sinh vật và khoáng sản trên thềm lục địa
tiếp giáp với biển.
Tại phiên họp thứ 22 Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 17 tháng 8 năm 1967,
Arvid Pardo, Đại sứ Malte đã đưa ra tư tưởng coi vùng đáy biển nằm ngoài vùng tài phán
quốc gia là di sản chung của nhân loại.
Các Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hiệp quốc:
Nghị quyết 1803 (XVII) ngày 18 tháng 12 năm 1962 “Tuyên bố về chủ quyền
vĩnh cửu trên các tài nguyên thiên nhiên”; 3016 (XXVII) năm 1972 về chủ quyền vĩnh
cửu của quốc gia trên các tài nguyên các vùng biển nằm trong ranh giới tài phán quốc gia
và 3171 (XXVIII) ngày 17 tháng 12 năm 1973 “Chủ quyền trên các tài nguyên thiên
nhiên” nhắc lại các nguyên tắc của hai Nghị quyết trên.

GVHD: Th.s Thạch Huôn

5

SVTH: Nguyễn Thảo Nguyên


Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển

Nghị quyết 2749 (XXV) ngày 17 tháng 12 năm 1970 “Tuyên bố về các nguyên tắc
quản lý đáy biển và đại dương cũng như các lòng đất của chúng nằm ngoài ranh giới
quyền tài phán quốc gia”.
Các phán quyết của Toà án công lý quốc tế:
Vụ eo biển Corfou ngày 9 tháng 4 năm 1949 (Anh - Albani). Anh kiện Albani
ngày 22 tháng 5 năm 1947 trước Toà án công lý quốc tế. Toà đã đưa ra một quy chuẩn
địa lý: eo biển nối hai phần của biển cả là một eo biển quốc tế. Phán quyết này có nhiều

SVTH: Nguyễn Thảo Nguyên


Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển

đưa ra tại phiên họp thứ 22 Đại hội đồng Liên Hợp quốc ngày 17/8/1967, coi vùng biển
nằm ngoài vùng tài phán quốc gia là di sản chung của nhân loại.
1.2. Khái quát chung về Tòa án quốc tế về luật biển
1.2.1. Lịch sử hình thành về Tòa án quốc tế về luật biển
Biển đã, đang và sẽ đóng vai trò không thể thiếu trong sự phát triển của loài người.
Với sự bùng nổ về dân số và khoa học kỹ thuật, sự cạn kiệt tài nguyên đất liền, sự phát
triển của luật pháp, biển lại càng đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi
quốc gia, cũng như của cộng đồng quốc tế. Lịch sử đã chứng minh: muốn trở thành một
cường quốc, trước hết phải là một quốc gia có biển. Không một quốc gia ven biển nào
không có khát vọng tiến ra biển, nhằm mở rộng quyền lực của mình ra các vùng biển tiếp
liền với lãnh thổ. Cùng với sự mâu thuẫn giữa hai nguyên tắc nền tảng trong Luật biển là
chủ quyền quốc gia và tự do trên biển ngày càng gay gắt. Nhằm điều hòa các lợi ích trên
biển của các quốc gia và các bên sử dụng biển, thì cần phải xây dựng một trật tự pháp lý
công bằng trên biển.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và xu hướng tiến ra biển làm chủ thiên nhiên, làm
chủ đại dương làm cho các quốc gia xích lại gần nhau, hợp tác, bảo vệ và phát triển bền
vững. Đồng thời với xu hướng này cũng làm nảy sinh các tranh chấp biển do ngày càng
có nhiều hoạt động trên biển đa dạng và phong phú hơn trong quan hệ giữa các nước. Do
đó, nguy cơ tranh chấp trên biển sẽ gia tăng đòi hỏi chủ động đưa vụ việc ra một Toà án
riêng về luât biển. Vấn đề thiết lập một Toà án quốc tế về luật biển đã xuất hiện trong các
chương trình nghị sự của các cơ quan quốc tế liên quan đến luật biển từ năm 1969.2 Và
trong Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về Luật biển đã xuất hiện ý tưởng thành
lập một Tòa trọng tài nằm trong Cơ quan quyền lực đáy đại dương để giải quyết các tranh
chấp liên quan đến Vùng đáy Biển – di sản chung của nhân loại. Các tranh chấp này nảy
sinh giữa các quốc gia, thể nhân và pháp nhân trong khi Tòa án công lý quốc tế, cơ quan

là một ý do để thành lập Tòa án mới về luật biển. Mặc dù đã có cải tiến nhưng trung bình
phải mất 3 – 5 năm Toà án công lý quốc tế mới giải quyết được một vụ xét xử.4 Với mục
đích giảm thời gian và chi phí Toà án quốc tế về luật biển sẽ phải quy định về thủ tục rút
gọn để đáp ứng được yêu cầu giải quyết các tranh chấp biển nhanh, gọn, ít ảnh hưởng đến
kinh tế.
Tòa án công lý quốc tế là một cơ quan chính của Liên Hiệp Quốc, có mối quan hệ
mật thiết với các cơ quan khác như Đại hội đồng, Hội đồng bảo an. Hoạt động của Tòa án
là độc lập nhưng phải phù hợp với hoạt động của các cơ quan khác nhằm đảm bảo thực
hiện mục tiêu và nguyên tắc hoạt động của Liên hiệp quốc. Toà án phải cân nhắc để
không đưa ra một phán quyết trái với Nghị quyết của Hội đồng bảo an về một vụ tranh
chấp hay tình thế nào đó.5 Vì vậy, để vượt qua sự tế nhị này Toà án quốc tế về luật biển
cần độc lập trong hoạt động của mình với các cơ quan khác.
Tòa án công lý quốc tế chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa các quốc
gia. Hoạt động trên biển dẫn đến nhiều loại tranh chấp không chỉ giữa các quốc gia với
nhau mà còn giữa quốc gia với các pháp nhân, thể nhân, tổ chức quốc tế khác. Toà án
quốc tế về luật biển cần có thẩm quyền để giải quyết tất cả các tranh chấp này.
Thẩm quyền xét xử của Toà án công lý quốc tế nhiều khi không được thực hiện do
các quốc gia tranh chấp không có thỏa thuận. Để tránh trường hợp này cần phải có một
thủ tục hoà giải và thủ tục bắt buộc sử dụng các cơ quan tài phán quốc tế. Quy chế của
Toà án công lý quốc tế là một bộ phận của Hiến chương Liên hiệp quốc nên rất khó thay
đổi. Toà án mới với quy chế mới sẽ cho phép khắc phục được tình trạng trên.
Các lý do này đã đặt nền móng cho việc ra đời một cơ quan tài phán quốc tế do
Công ước quy định Tòa án quốc tế về luật biển được thành lập theo đúng Phụ lục VII.
Hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về luật biển (1973-1982) đã quyết định
thành lập Tòa án quốc tế về luật biển. Quy chế Tòa án là Phụ lục của Công ước năm 1982
nhưng Tòa án là một thiết chế độc lập với các cơ quan khác do Công ước năm 1982 lập
ra như Cơ quan quyền lực đáy đại dương và Ủy ban ranh giới thềm lục địa. Tòa án có

4


về luật biển đóng vai trò là cơ quan tài phán chính trong việc giải thích và áp dụng Công
ước năm 1982. Điều này thể hiện trong thẩm quyền, thành phần và tổ chức của Tòa. Hoạt
động của Tòa mang tính độc lập trong khuôn khổ thống nhất chung đối với các cơ quan
khác của Công ước. Khác với các cơ quan khác Tòa là cơ quan thường trực quốc tế giải
quyết các tranh chấp pháp lý về biển.
Tòa án quốc tế về luật biển với thẩm quyền và cơ chế linh hoạt của mình là một bộ
phận không thể thiếu trong hệ thống tài phán quốc tế. Đây không phải là một tổ chức lập
pháp mà chỉ là một cơ quan tài phán đưa ra các phán quyết trong chừng mực thẩm quyền
cho phép. Chức năng chính của Tòa án quốc tế về luật biển là giải quyết các tranh chấp
liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước năm 1982. Tòa có thể áp dụng các quy
định của Công ước và các quy tắc khác của pháp luật quốc tế không mâu thuẫn với Công
ước và Tòa cũng có thể xét xử công bằng ( ex aequo et bono), nếu các bên có thỏa thuận
(Điều 293 Công ước năm 1982).
Ngoài ra, Tòa án quốc tế về luật biển có thể áp dụng các nguồn của Luật quốc tế
miễn là chúng phải phù hợp với Công ước năm 1982. Các phán quyết của Tòa có giá trị
chung thẩm và bắt buộc đối với các bên, phán quyết của Tòa chỉ tác động đến các quyền
và lợi ích của các bên trong vụ tranh chấp được đưa ra trước Tòa án. Tòa án quốc tế về
6

Thỏa thuận về quyền ưu đãi và miễn trừ cho Tòa án quốc tế về luật biển ngày 23 tháng 5 năm 1997.
Đoàn đại biểu Việt Nam tham dự bầu cử Thẩm phán Tòa án quốc tế về luật biển năm 1996 gồm Nguyễn Quý
Bính, Nguyễn Hồng Thao và Phạm Trường Giang.
7

GVHD: Th.s Thạch Huôn

9

SVTH: Nguyễn Thảo Nguyên


giải thích và áp dụng các quy định của Công ước liên quan đến hoạt động của ở Vùng
đáy biển mà Cơ quan quyền lực là một bên. Tuy nhiên, thẩm quyền của Tòa án và Viện
không động chạm đến quyền lực của Cơ quan quyền lực thi hành các quyền tùy ý quyết
định của mình.10 Ngược lại, Đại hội đồng Cơ quan quyền lực có quyền hỏi ý kiến tư vấn
của Tòa trước khi đưa ra các quyết định của mình.

8

Trụ sở tai Kingston (Jamaica), được thành lập năm 1994 ngay Công ước có hiệu lực, nhưng Cơ quan chỉ trở thành
tổ chức hoạt động độc lập từ năm 1996.
9
Điều 35 khoản 2 Quy chế Tòa án quốc tế về luật biển.
10
Điều 189 Công ước năm 1982.

GVHD: Th.s Thạch Huôn

10

SVTH: Nguyễn Thảo Nguyên


Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển

Thứ hai, Với Ủy ban ranh giới ngoài của thềm lục địa là cơ quan chuyên môn
được lập ra phù hợp với Điều 76 và Phụ lục II Công ước năm 1982 trên cơ sở đại diện
công bằng về địa lý. Uỷ ban được thành lập và đi vào hoạt động từ năm 1997. Uỷ ban có
nhiệm vụ xem xét và kiến nghị các quốc gia ấn định ranh giới ngoài thềm lục địa của
mình. Chức năng chuyên môn của Uỷ ban mang tính tư vấn chuyên môn. Công ước đã
không có quy định rõ ràng về thẩm quyền của Uỷ ban được đưa tranh chấp ra trước Toà


Điều 20 Quy chế Toà án quốc tế về luật biển.
Điều 280 Công ước năm 1982.

GVHD: Th.s Thạch Huôn

11

SVTH: Nguyễn Thảo Nguyên


Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển

liêm chính. Dựa trên đề cử này, Tổng thư ký Liên hiệp quốc có trách nhiệm lập một danh
sách các trọng tài viên. Khi có tranh chấp phát sinh, từ danh sách trọng tài viên của Tổng
thư ký Liên hiệp quốc một hội đồng trọng tài sẽ được thành lập bao gồm năm thành viên.
Mỗi bên tranh chấp có quyền chỉ định một trọng tài viên tham gia hội đồng trọng tài. Ba
thành viên còn lại được các bên thoả thuận cử ra và Chủ tịch hội đồng trọng tài sẽ được
lựa chọn trong số ba thành viên đó. Bản án có tính chất tối hậu và không được kháng cáo,
trù khi các bên trong vụ tranh chấp đã thoả thuận trước về một thủ tục kháng cáo. Tất cả
các bên trong vụ tranh chấp phải tuân theo bản án này.
Ngoài Toà trọng tài các quốc gia còn có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại một
Toà trọng tài đặc biệt. Toà trọng tài đặc biệt có thẩm quyền hạn chế hơn. Toà án chỉ có
chức năng tiến hành điều tra và xác lập các sự kiện có nguồn gốc từ vụ tranh chấp liên
quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản của Công ước liên quan đến việc
đánh bắt hải sản; việc bảo vệ gìn giữ môi trường biển; việc nghiên cứu khoa học biển và
hàng hải, kể cả nạn ô nhiễm do các tàu, thuyền gây ra hoặc do bị nhấn chìm. Phần XV có
quy định mỗi bên tham gia vào một vụ tranh chấp có thể đưa vụ tranh chấp ra giải quyết
theo đúng thủ tục trọng tài đặc biệt được trù định trong Phụ lục VIII bằng một thông báo
gửi tới bên kia trong vụ tranh chấp. Nếu các bên trong vụ tranh chấp yêu cầu thì Toà

năng đó.
Tuy nhiên, không thể phủ nhận thế mạnh của phương thức trọng tài là mất ít thời
gian xét xử hơn Toà án quốc tế về luật biển và các bên có khả năng được tự do lựa chọn
Trọng tài viên. Những năm gần đây nhằm làm tăng vai trò của toà, Toà án quốc tế về luật
biển đã kết hợp được thế mạnh của phương thức Toà án và phương thức trọng tài. Toà án
mang tính kế thừa kinh nghiệm giữa các vụ việc. Đồng thời, Thẩm phán của Toà án quốc
tế về luật biển cũng có được các thế mạnh của Trọng tài viên do Toà án có khả năng
thành lập các viện rút gọn để giải quyết từng vụ việc cụ thể và các Thẩm phán của Viện
rút gọn này sẽ cùng Toà án và các bên tranh chấp thống nhất, lựa chọn từ danh sách các
Thẩm phán của Toà án hoặc các bên có thể đề cử Thẩm phán ad hoc của mình.
1.3.3. Toà án quốc tế về luật biển và Toà án công lý quốc tế
Để khắc phục những hạn chế của Toà án công lý quốc tế, đơn giản hoá thủ tục và
tạo điều kiện giải quyết tranh chấp biển đa dạng hơn (giữa quốc gia với nhau, quốc gia
với các pháp nhân, thể nhân, các tổ chức quốc tế khác), Toà án quốc tế về luật biển được
thành lập và đi vào hoạt động. Hai Toà này có những nét giống nhau: đều là các thiết chế
tài phán quốc tế thường trực. Các quy định về phẩm chất Thẩm phán thủ tục bầu cử, thời
gian nhiệm kỳ, tổ chức và thẩm quyền của Toà án quốc tế về luật biển được xây dựng
trên cơ sở kinh nghiệm hoạt động của Toà án công lý quốc tế. Quy chế và Nội quy của
hai tổ chức này có nhiều điểm giống nhau. Cả hai đều có thẩm quyền như nhau trong xét
xử bất kỳ tranh chấp nào có liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước được đưa
ra cho mình theo đúng thủ tục. Tuy nhiên, hai thiết chế tài phán thường trực này có
những sự khác biệt cơ bản:

Toà án quốc tế về luật biển

Về

Toà án công lý quốc tế

- Là một thiết chế độc lập.


tổ

chức

- Có thẩm quyền giải quyết mọi
tranh chấp trong việc giải thích và
áp dụng Công ước về luật biển
của Liên Hiệp Quốc năm 1982
giữa các quốc gia, giữa pháp nhân
và thể nhân.

- Chi phí của Toà là do Đại hội
đồng Liên Hiệp Quốc chi trả .

- Chỉ có các quốc gia mới được sử
dụng cơ chế giải quyết tranh chấp
của Toà.

- Thành viên do các thành viên của
- Thành viên của Toà do các quốc
Quy chế bầu ra và phải trải qua hai
gia thành viên của Công ước bầu
giai đoạn bầu cử độc lập bởi Đại hội
ra và không phải qua hai giai
đồng và Hội đồng bảo an.
đoạn bầu cử độc lập bởi các cơ
quan khác.
- Có chức năng rộng hơn bao gồm
- Có chức năng giải quyết các

- Quy chế của Toà được thành lập - Quy chế cho phép Toà lập ba (03)
năm (05) loại Toà rút gọn khác loại Toà rút gọn để giải quyết các vụ
nhau.
tranh chấp theo yêu cầu của các bên.

Điều 23 Phụ lục VI của Quy chế và Điều 293 Công ước năm 1982.

GVHD: Th.s Thạch Huôn

14

SVTH: Nguyễn Thảo Nguyên


Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển

rút
gọn

Các Toà rút gọn của Toà án quốc tế về luật biển và Toà án công lý quốc tế
đều là các cơ quan của chính Toà đó và hành động với danh nghĩa của Toà
án. Phán quyết của Toà rút gọn có giá trị như phán quyết của Toà toàn thể.

- Các Thẩm phán của Toà án - Thẩm phán của Toà do Đại hội
Thành không phải do bất kỳ cơ quan đồng và Hội đồng bảo an bầu đồng
quyền lực bầu ra mà do các nước thời nhưng hoàn toàn độc lập.
Phần
thành viên bầu tại các Hội nghị của
của
các nước có biển.


Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển

CHƯƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
TÒA ÁN QUỐC TẾ VỀ LUẬT BIỂN
2.1. Thành phần và tổ chức của Tòa án quốc tế về luật biển
2.1.1. Thẩm phán của Tòa án quốc tế về luật biển
Tòa án là một tập thể gồm 21 Thầm phán độc lập được tuyển chọn trong số các
nhân vật có uy tín nhất về công bằng và liêm khiết, có năng lực trong lĩnh vực chuyên
môn trong lĩnh vực biển.14
Quy chế của Tòa án đảm bảo sao cho không cho một nước nào hay nhóm nước
nào có ưu thế đối với nước khác trong khi bầu cử Thẩm phán. Và việc lựa chọn được tiến
hành trên các nguyên tắc sau:
Mỗi quốc gia thành viên có quyền chỉ định nhiều nhất là hai người. Các thành viên
của Tòa án sẽ được tuyển chọn trên danh sách đề cử. Tuy nhiên, không thể có quá một
thành viên Toà án là công dân của cùng một quốc gia. Tòa án áp dụng nguyên tắc luật
quốc tịch hữu hiệu. “Nhân vật có thể bị coi là công dân của quá một quốc gia sẽ được coi
như là công dân của quốc gia mà nhân vật đó thường thi hành các quyền dân sự và chính
trị của mình”.15
Thành phần của Tòa án phải đảm bảo có sự đại diện của các hệ thống pháp lý chủ
yếu của thế giới và sự phân chia công bằng về mặt địa lý (Khoản 2 Điều 2 Quy chế của
Tòa án quốc tế về luật biển). Mỗi nhóm theo địa lý do Đại hội đồng Liên hiệp quốc xác
định ít nhất phải có ba thành viên trong Tòa án.16 Kết quả bầu cử theo hệ thống này
chứng tỏ các nước đang phát triển có vai trò ngày càng tăng trong hệ thống pháp luật
quốc tế. Cụ thể xem bảng kết quả bầu cử đầu tiên của Tòa án quốc tế về luật biển năm
1996:17

14



Ndiaye (Senegal)

Mensah (Ghana),
Marsit (Tunisi)

Warioba
(Tanzania)
Khu vực Châu Á

Rao ( Ấn Độ), Zhao (Trung Quốc)
Akl (Li băng)

Yamamoto(Nhật
Bản),

Khu vực Đông Âu

Kolodkin (Nga)

Vukas (Croatia)

Yankov (Bulgaria)

Khu vực Mỹ la tinh Marrotta Rangel Caminos(Achentina),

vùng
biển (Brazil)
Laing (Belize)
Caribê


18

Khoản 2 Điều 4 Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển.

GVHD: Th.s Thạch Huôn

17

SVTH: Nguyễn Thảo Nguyên


Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển

Các Thẩm phán có nhiệm kỳ là 9 năm và họ có thể được bầu cử lại. Tuy nhiên, để
duy trì tính liên tục của Tòa án không bị ảnh hưởng khi các thành viên mãn nhiệm kỳ sau
ba năm, 7 người sẽ mãn nhiệm kỳ sau sáu năm và họ được chỉ định rút thăm do Tổng thư
ký Liên hiệp quốc thực hiện sau cuộc bầu cử. Như vậy, bầu cử được tiến hành 3 năm một
lần nhằm thay đổi một phần ba thành phần của Tòa với mục đích đổi mới sức mạnh của
Tòa. Năm 2002, thời hạn sáu năm dành cho 7 Thẩm phán bầu lần đầu tiên kết thúc. Mười
ba (13) ứng viên đã được đề cử và một người đã xin rút trước khi bầu cử. Ngày 19 tháng
4 năm 2002, bầu cử đã được tiến hành, năm thành viên của Tòa án được bầu lại, Thẩm
phán Ballah và Cot được bầu mới cho nhiệm kỳ 9 năm. Các cuộc bầu cử thường kéo dài
và khó khăn.
Nhiệm kỳ của các Thẩm phán được bầu trong các cuộc bầu cử ba năm một lần
được bắt đầu từ ngày 01 tháng 10 sau ngày tổ chức bầu cử.19 Tuy nhiên, các Thẩm phán
củ của Tòa án bị thay thế sẽ tiếp tục xét xử các vụ mà họ đang xét trước đó.20 Năm 2005,
thành phần của lần bầu cử đầu tiên đã được thay đổi hoàn toàn.
Sau bầu cử, khi đã có đủ 21 Thẩm phán, Tòa tiến hành bỏ phiếu kín bầu Chánh án
và Phó chánh án với nhiệm kỳ là ba năm tính từ ngày bắt đầu nhiệm kỳ mới là ngày họ

Tìm hiểu về tổ chức và hoạt động xét xử của Tòa án quốc tế về luật biển

Về tính độc lập của các Thẩm phán
Các Thẩm phán của Tòa án quốc tế về luật biển là các Thẩm phán độc lập. Họ
không đại diện cho chính phủ mình cũng như không đại diện cho bất kỳ chính phủ, tổ
chức quốc tế nào.
Để đảm bảo sự độc lập về mặt vật chất, các Thẩm phán của Tòa được lĩnh lương
cả năm, Chánh án của Tòa được lĩnh phụ cấp đặc biệt hàng năm; Phó chánh án lĩnh phụ
cấp đặc biệt từng ngày trong thời gian thừa hành chức vụ Chánh án. Các khoản lương,
phụ cấp, thù lao của Thẩm phán được quy định lại theo từng thời gian trong các cuộc họp
của các quốc gia thành viên Công ước năm 1982, trong đó tính đến khối lượng công việc
của Tòa án và tất cả đều được miễn mọi thứ thuế.22
Các thành viên của Tòa án quốc tế về luật biển trong khi thực hiện chức năng của
mình đều được hưởng quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao (Điều 10 Quy chế của Tòa án
quốc tế về luật biển). Quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao này được đảm bảo bằng Hiệp
định về quyền ưu đãi của Toà án quốc tế về luật biển được thông qua bởi hội nghị thứ 7
của các quốc gia ngày 23 tháng 5 năm 1997, được lưu chiểu cho Tổng thư ký của Liên
hiệp quốc.
Thẩm phán của Tòa án vào bất kỳ thời điểm nào còn thuộc thành phần của Tòa,
khi tạm trú ở bất kỳ nước nào ngoài nước mà họ mang quốc tịch đều được hưởng các
quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao trong suốt thời gian tạm trú đó.
Các đặc quyền này đòi hỏi các Thẩm phán phải có nghĩa vụ toàn tâm toàn ý phục
vụ cho Tòa. Các thành viên của Tòa án hành động không phụ thuộc vào các thông tin
nhận được của chính phủ mình, không tự cho mình làm một việc nào trái với phẩm chất
nghề nghiệp, không tham gia vào việc giải quyết một vụ kiện nào mà trước đây ông ta đã
tham dự với bất kỳ tư cách nào. Và theo nguyên tắc độc lập khi xét xử của Thẩm phán,
họ không đảm nhận bất kỳ một chức vụ chính trị hay hành chính nào cũng như chủ động
tham gia hay có liên quan về tài chính trong một hoạt động nào của một xí nghiệp đang
tiến hành thăm dò hoặc khai thác, sử dụng tài nguyên ở biển hay ở đáy biển nhằm mục
đích thương mại khác. Thành viên của Tòa án cũng không được làm những chức năng đại

thức Tòa tiếp thu kinh nghiệm từ phương thức Trọng tài mà lý do chủ yếu là duy trì các
Thẩm phán được các bên tranh chấp lựa chọn một cách đặc biệt.
Các Thẩm phán của Tòa được lựa chọn không phụ thuộc vào quốc tịch. Như vậy,
sẽ có trường hợp một trong các bên tranh chấp có Thẩm phán mang quốc tịch nước mình
trong thành phần của Tòa án. Để cho các bên được bình đẳng trước Tòa sẽ có hai khả
năng: hoặc là loại bỏ Thẩm phán mang quốc tịch của một trong các bên tranh chấp hoặc
cho phép bên kia lựa chọn một Thẩm phán ad hoc bổ sung vào thành phần của Tòa án.
Điều 17 khoản 1 Quy chế của Tòa án quốc tế về luật biển quy định: “1. Thành
viên có quốc tịch của bên nào đó trong số các bên của một vụ tranh chấp có quyền ngồi
xử”.
Như vậy, chính quy định này đã mở khả năng cho phép lựa chọn Thẩm phán ad
hoc trong các trường hợp mà một bên tranh chấp không có trong thành phần của Tòa một
Thẩm phán mang quốc tịch nước mình, để cân bằng tình thế trước Tòa giữa các bên tranh
chấp. Khi xét xử một vụ tranh chấp bất kỳ bên nào khác trong vụ tranh chấp có thể chỉ
định một người theo sự lựa chọn của mình để tham gia xét xử với các thành viên của Tòa
án. Nếu trong thành phần có mặt xét xử của Tòa có một Thẩm phán có quốc tịch của một
bên thì bên kia có thể cử một người theo sự lựa chọn của mình để tham gia vào việc xét
xử với tư cách một Thẩm phán. Ngoài ra, quy chế của Tòa cũng trù định khả năng thứ
hai, đó là trường hợp: khi xét xử một vụ tranh chấp nếu Tòa án không có một thành viên
nào có quốc tịch của các bên thì mỗi bên có quyền chỉ định một người theo sự lựa chọn
của mình để tham gia xử án với các thành viên của Tòa.
Trong trường hợp một thành viên mang quốc tịch một trong các bên không thể
(hoặc không thể tiếp tục) tham gia xét xử bất kỳ giai đoạn nào của vụ án, thì bên đó có
quyền chỉ định một Thẩm phán ad hoc trong thời hạn do Tòa án hoặc Chánh án trong
24

Điều 5 Nội quy của Tòa án quốc tế về luật biển.

GVHD: Th.s Thạch Huôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status