LUẬN văn LUẬT tư PHÁP THI HÀNH án HÀNH CHÍNH QUY ĐỊNH và THỰC TIỄN - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT HÀNH CHÍNH
---*****---

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên khóa 2008 – 2012
Đề tài:

THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH
QUY ĐỊNH VÀ THỰC TIỄN
Giáo viên hướng dẫn:
ThS. Diệp Thành Nguyên
Bộ môn: Luật Hành chính

Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Đèo
MSSV: 5085796
Lớp: Luật Tư pháp 1

Cần Thơ, tháng 5 năm 2012


NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN
*****
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................
................................................................................................................................

5. Kết cấu của luận văn........................................................................................... 3

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THI HÀNH ÁN HÀNH CHÍNH ......... 4
1.1 Một số khái niệm ............................................................................................... 4
1.1.1 Khái niệm thi hành án............................................................................... 4
1.1.2 Khái niệm thi hành án hành chính ............................................................ 5
1.2 Vị trí và ý nghĩa của việc thi hành án hành chính ............................................... 6
1.2.1 Vị trí của việc thi hành án hành chính....................................................... 6
1.2.2 Ý nghĩa của việc thi hành án hành chính................................................... 7
1.3 Khái niệm vụ án hành chính............................................................................... 7
1.3.1 Khái niệm vụ án hành chính ..................................................................... 7
1.3.2 Đặc điểm của vụ án hành chính ................................................................ 9
1.4 Sơ lược về Tài phán hành chính ở nước ta....................................................... 10
1.5 Hệ thống tổ chức của cơ quan thi hành án ....................................................... 12
1.5.1 Hệ thống tổ chức của cơ quan thi hành án............................................... 12
1.5.2 So sánh giữa thi hành án hành chính với thi hành án dân sự ................... 14


CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN
HÀNH CHÍNH................................................................................................. 18
2.1 Những bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành ....... 18
2.1.1 Những bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi
hành....................................................................................................... 18
2.1.2 Thi hành phần tài sản trong bản án, quyết định Hành chính của Tòa
án quy định trong Luật Thi hành án dân sự 2008.................................... 23
2.2 Yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án, trách nhiệm thực hiện
yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án và thẩm quyền của cơ
quan ra quyết định trong thi hành án................................................................. 25
2.2.1 Yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án..................................... 25
2.2.2 Trách nhiệm thực hiện yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa

dân khi tham gia tố tụng......................................................................... 63
3.2.4 Thực hiện tốt công tác thông tin công khai trong quá trình tố tụng
hành chính ............................................................................................. 64
3.2.5 Một số giải pháp khác ............................................................................ 64

KẾT LUẬN ...................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án là một hoạt động tư pháp quan trọng của Nhà nước, nhằm
đưa các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật ra thi hành trong
thực tế. Điều 136 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định:
“Các bản án, quyết định của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải
được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ
trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan
phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Hoạt động thi hành án nói chung và hoạt động
thi hành án hành chính nói riêng trực tiếp góp phần giữ vững pháp chế xã hội
chủ nghĩa, giữ vững kỷ cương phép nước, đảm bảo công bằng, thực thi công lý
và củng cố lòng tin của nhân dân vào chế độ.
Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh việc xây dựng và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân, vai trò của công tác thi hành án hành chính càng có vị trí vô cùng
quan trọng trong hệ thông tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp Việt Nam.
Từ chổ tổ chức thi hành án chỉ do Thừa phát lại, Ban tư pháp xã (giai đoạn năm
1945 – 1950), Thẩm phán huyện (giai đoạn năm 1950 – 1959); nhân viên thi
hành án, chấp hành viên đặc tại các Toà án địa phương (giai đoạn năm 1960 –

hành chính trái pháp luật. Trong khi đó, quyết định hành chính, hành vi hành
chính traí pháp luật mới là đối tượng mà người tham tham gia tố tụng muốn
hướng đến và kết quả xét xử án hành chính là chế tài như thế nào đối với quyết
định hành chính, hành vi hành chính đó. Do đó, bản án, quyết định của Toà án
tuyên huỷ quyết định hành chính trái pháp luật đó phải được thi hành triệt để
thì mới giải quyết dứt diểm vấn đề về quyền và lợi ích của những người trong
vụ án. Vậy nếu như có bản án, quyết định của Toà án tuyên huỷ quyết định
hành chính trái pháp luật thì sau đó sẻ được thi hành như thế nào? Cơ quan nào
có thẩm quyền tổ chức thi hành án ?
Trên thực tế thì không ít những bản án, quyết định của Toà án tuyên huỷ
quyết định hành chính trái pháp luật của các cơ quan hành chính vẫn không
được các cơ quan hành chính ra quyết định hành chính đó thi hành. Trước
những đòi hỏi thực tế phát sinh khách quan đó thì việc xây dựng và hoàn chỉnh
những quy định về thi hành án hành chính là rất cần thiết. Muốn có một cơ chế
quản lý và điều hành bộ máy Nhà nước thật sự có hiệu quả thì đòi hỏi phải có
một hệ thống quản lý thật sự khoa học và linh hoạt, nhưng trước hết phải hoàn
thiện những quy định của pháp luật về hành chính Nhà nước, bởi lẻ, hành chính
là gắn với xây dựng và quản lý bộ máy Nhà nước, bộ máy Nhà nước có thật sự
1

Điều 1 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

2

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn

quy định hiện hành về thi hành án hành chính để nâng cao hiểu biết về pháp
GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

3

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn
luật nói chung và pháp luật về thi hành án hành chính nói riêng cho người đọc
nhằm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quá trình hội
nhập và phát triễn.

4. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và Nhà
nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Nhà
nước của dân, do dân và vì dân. Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng và kết
hợp các phương pháp cụ thể như: tổng hợp, so sánh, nhận định và phân tích,
phương pháp hệ thống kết hợp lý luận thực tiễn cùng cơ sở pháp lý hiện hành
quy định… để làm rỏ vấn đề đặt ra trong nội dung đề tài.

5. Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm có: Lời nói đầu, ba chương, Kết luận và Danh
mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Lý luận chung về thi hành án hành chính.
Chương 2: Quy định của pháp luật về thi hành án hành chính.
Chương 3: Thực tiễn thi hành án hành chính ở một số tỉnh, thành phố
trong cả nước và một số giải pháp.


Mỗi quyết định chính xác của bản án sẻ tác động trực tiếp đến trước hết
là quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bên cạnh đó tác động đến quá trình
thi hành án của cơ quan thi hành án. Vì để thi hành được bản án thì cơ quan thi
hành án phải dựa vào bản án, quyết định của Tòa án. Mặc khác, phải có những
quy định cụ thể trình tự của một quá trình thi hành án. Song chỉ vậy thôi thì
chưa đủ, để đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trong

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

5

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn
trường hợp mà người phải thi hành án không chịu thi hành án thì cần có một cơ
chế đủ mạnh để bắt buộc người phải thi hành án thi hành bản án, quyết định
của Tòa án. Do đó, những quy định về cưỡng chế trong thi hành án là cơ chế
được xem là dự phòng để đảm bảo cho bản án được thi hành trong trường hợp
người phải thi hành án không thuộc diện tự giác thi hành.
Vậy, thi hành án là tổng hợp các hành vi pháp lý thi hành thành một giai
đoạn độc lập của quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên
quan. Đây là
giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có
liên quan của vụ án, trong đó các bản án, quyết định của Toà án được đưa ra
thi hành.2

1.1.2 Khái niện thi hành án hành chính
Theo quy tại Điều136 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001:
“Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải


SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn
đảm bảo thi hành các bản án, quyết định của Toà án về lỉnh vực hành chính và
các quyết định khác của Toà án theo quy định của pháp luật.”
“Cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp
hành bản án, quyết định của Tòa án hành chính. Thủ trưởng cơ quan Nhà nước
cấp trên trực tiếp có trách nhiệm theo dõi, giám sát việc thi hành án hành
chính, trong trường hợp cần thiết có quyền bược phải chấp hành quyết định
của Tòa án về vụ án hành chính; các quy định về tài sản, quyền tài sản trong
bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính được thi hành theo Pháp
lệnh Thi hành án dân sự 2004”3. Tuy nhiên từ thực tiễn thi hành án theo quy
định của Pháp lệnh này cho thấy, công tác quản lý Nhà nước về thi hành án vẫn
còn rất chung chung, chưa có quy định cụ thể về thi hành án hành chính và
hướng giải quyết mâu thuẫn xung đột trong quá trình tiến hành thi hành các vụ
án hành chính.
Cùng với những bước tiến trong thủ tục, điều kiện khởi kiện, Luật Tố
tụng hành chính hiện hành có những quy định về cơ chế bảo đảm thi hành các
bản án, quyết định hành chính. Theo quy định của Luật thì cơ chế bảo đảm thi
hành án hành chính đã được thiết lập khá chặt chẽ như trong trường hợp:
“người khởi kiện bị thua thì cơ quan đã ban hành quyết định hành chính bị
kiện sẻ tổ chức thi hành quyết định hành chính và tổ chức việc thi hành việc
cưỡng chế thi hành quyết định hành chính của mình theo quy định của pháp
luật; việc theo dõi, đôn đốc thi hành án hành chính được giao cho cơ quan Thi
hành án dân sự4; quy định rõ vai trò chỉ đạo thi hành án của cấp trên trực tiếp
đối với người phải thi hành án và vai trò kiểm sát việc thi hành án hành chính
của Viện kiểm sát.5


không thể kết thúc. Hơn nữa, thi hành án còn có ý nghĩa pháp lý quan trọng, vì
nó thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật mà còn thể hiện tính quyền uy, uy
tín của Toà án, của Nhà nước. Bởi khi tuyên án, Toà án nhân danh Nhà nước
cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam để tuyên án cũng như xét xử. Do đó, nếu
nhân danh Nhà nước để tuyên án mà không được thi hành thì chẳng khác nào
có nói mà không có làm, uy tín và chế độ xã hội của Nhà nước sẻ mất lòng tin
ở nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự xã hội và ổn định chính trị.
Với vị trí là giai đoạn cuối cùng, độc lập của quá trình bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó các bản án, quyết định của Toà án
được đưa ra thi hành. Thi hành án là giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan của vụ án.
Như vậy, để đảm bảo cho việc bản án, quyết định của Toà án được thực
thi trong thực tế khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
của người khởi kiện hoạt động thi hành án đóng vai trò quan trọng, làm cơ sở
cho việc kết thúc quá trình tố tụng, cơ sở đánh giá hoạt động tố tụng đạt hiệu
quả cao.

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

8

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn
Tuy nhiên, việc phân định những giai đoạn tố tụng của một vụ án hành
chính chỉ mang tính tương đối. Thực tế áp dụng, tính tối ưu của quy định pháp
luật không được thực hiện triệt để. Và trên thực tế thì việc thi hành án hành
chính đang là nổi lo vô cùng lớn trong hoạt động tố tụng hành chính.



9

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn
được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy
định.”7
Tuy nhiên nếu chỉ là những chế định, quy phạm pháp luật được quy định
trong luật nội dung để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thôi thì
các quyền này không thể áp dụng được. Để cho các quyền này được thực hiện
trên thực tế thì cần có các ngành luật hình thức bên cạnh các ngành luật nội
dung như: tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng lao
động... quy định các hình thức, trình tự thủ tục để giải quyết các tranh chấp xảy
ra trong thực tế. Một trong các cách thức, trình tự thủ tục đó là: Cá nhân, cơ
quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Toà án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
Đối với khiếu nại, việc giải quyết khiếu nại được thực hiện bởi những
chủ thể là cơ quan hành chính, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
Nhà nước đã ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính
hoặc cấp trên trực tiếp của các chủ thể này. Trong khi đó, thẩm quyền giải
quyết khiếu kiện là thẩm quyền của Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao –
với cơ chế giải quyết bởi Tòa án, chủ thể độc lập với cả hai bên: người khởi
kiện (người dân) và người bị kiện (cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm
quyền trong cơ quan nhà nước).
Tại Điều 18 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm
1996 được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006 quy định: “đối với các
quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần,

nay cũng phải được hiểu khác đối với Tòa án hành chính.
Từ khái niệm trên, ta thấy vụ án hành chính phát sinh khi có hai điều
kiện sau:
- Có việc khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc Viện kiểm sát
kiến nghị Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú làm giám hộ khởi kiện.
Đó là những quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền
vàn lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
dân sự mà không có ai khởi kiện, và của công dân nói chung.
- Đơn khởi kiện phải được Toà án thụ lý.
Trong hai điều kiện này, việc khởi kiện là điều kiện cần, còn việc thụ lý
đơn của Toà án là điều kiện đủ. Có việc khởi kiện nhưng Toà án không thụ lý
đơn thì không phát sinh vụ án hành chính.

1.3.2 Đặc điểm của vụ án hành chính
Tuy đều là những quan hệ pháp luật phát sinh trong đời sống xã hội, đều
ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ
pháp luật, nhưng vụ án hành chính khác với các vụ án dân sự, kinh tế, lao động
ở một vài đặc điểm sau đây:
9

Ths Diệp Thành Nguyên, tài liệu hướng dẫn học tập Luật Tố tụng hành chính năm 2011, giảng viên
khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ. Trang 12.

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

11

SVTH: Trần Thị Đèo



11

Điều 2 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2006.
Điều 5 Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

12

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn

1.4 Sơ lược về Tài phán hành chính ở nước ta
Ở nước ta, hình thức kiểm tra từ bên trong hệ thống cơ quan hành chính là
chủ yếu và kéo dài nhiều thập kỉ. Tuy nhiên, ở nước ta cũng sớm xuất hiện một
hình thức kiểm tra từ bên ngoài (từ khi có Sắc lệnh 04 về bầu cử Hội đồng nhân
dân năm 1957), đó là việc tòa án có thể giải quyết khiếu kiện về danh sách cử
tri nếu người khiếu kiện không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan lập danh
sách cử tri. Sau đó năm 1989 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự đã
trao cho tòa dân sự thẩm quyền xét xử cả các tranh chấp về lập danh sách cử
tri, hộ tịch, lao động… Đó là một số tranh chấp hành chính liên quan chặt chẽ
đến các quyền cơ bản của công dân, được giải quyết theo trình tự tư pháp dân
sự. Tuy nhiên, tòa án hầu như rất ít giải quyết các loại tranh chấp này.
Đầu những năm 90 của thế kỷ 20, ở nước ta, khái niệm tài phán hành
chính đã được bàn nhiều và người ta thấy không thể không thiết lập một cơ
quan chuyên xét xử, giải quyết các tranh chấp hành chính bởi đó là hình thức
phán xét theo thủ tục tư pháp, sẽ chặt chẽ, công khai, từ bên ngoài các cơ quan
quản lý hành chính, do vậy sẽ bảo đảm đánh giá khách quan hơn tính hợp pháp

hiệu quyền hợp pháp của công dân trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công
dân.
Trên cơ sở đó, ngày 21/5/1996 Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, giao cho Toà án nhân dân
thẩm quyền giải quyết một số khiếu kiện hành chính (Pháp lệnh đã qua hai lần
sửa đổi, bổ sung năm 1998 và năm 2006).
Như vậy, kể từ ngày 01/7/1996, ngày Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án hành chính và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật tổ chức Toà án
nhân dân năm 1992 có hiệu lực, cùng với việc thành lập Toà Hành chính
chuyên trách trong Toà án nhân dân để thực hiện nhiệm vụ xét xử các vụ án
hành chính.
Tuy nhiên, các tòa hành chính chỉ được giới hạn, xét xử đối với quyết
định, hành vi hành chính cá biệt đụng chạm tới người dân, chứ chưa phán xét
tính hợp pháp của các văn bản pháp quy của cơ quan hành chính chưa thực sự
đảm bảo công lý hành chính, ngay cả các quyết định, hành vi hành chính cá
biệt cũng không phải tất cả đều thuộc thẩm quyền của tòa án, hoặc được tòa án
thụ lý, xét xử, khi bị khiếu kiện.
Cùng với tiến trình cải cách thủ tục hành chính, Luật Tố tụng hành chính
được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2010, có hiệu lực
từ ngày 1/7/2011. Luật quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

14

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn
chính; trình tự thủ tục khởi kiện, giải quyết vụ án hành chính, thi hành án hành

Điều 1 Luật Tố tụng hành chính năm 2010.

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

15

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn
tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

 Hệ thống tổ chức của cơ quan thi hành án được quy định như sau:13
Tổng cục thi hành án thuộc Bộ Tư pháp, giúp Bộ trưởng thưc hiện chức
năng quản lý Nhà nước về thi hành án dân sự, hành chính, hình sự; chỉ đạo
hướng dẩn, tổ chức thi hành án theo thẩm quyền.
Tổng cục thi hành án có Cục quản lý thi hành án dân sự, Cục quản lý thi
hành án hành chính, Cục quản lý thi hành án traị giam, Cục quản lý thi hành án
hình sự ngoài phạt tù và các đơn vị khác.
Tổng cục thi hành án có Tổng cục trưởng, các phó Tổng cục trưởng và
một số chức danh khác do Chính phủ quy định;
Cục thi hành án Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là
Cục thi hành án tỉnh) là cơ quan thuộc Tổng cục thi hành án, quản lý và trực
tiếp thi hành án ở địa phương theo thẩm quyền.
Cục thi hành án cấp tỉnh có Phòng thi hành ansdaan sự, Phòng thi hành
án hành chính, Phòng quản lý thi hành án hình sự ngoài phạt tù và các bộ phận
khác.
Chi cục thi hành án huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh (gọi chung là chi cục
thi hành án cấp huyện) là cơ quan thuộc cục thi hành án cấp tỉnh, quản lý công

án hình sự ngoài phạt tù.Có trưởng phòng, Đội trưởng, các Phó Đội trưởng,
Chấp hành viên và một số chức năng theo quy định.
Chính phủ quy định cụ thể cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ, quyền
hạn của hệ thống cơ quan thi hành án, căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001.14
Trước hết phải khẳng định cơ quan thi hành án là cơ quan có nhiệm vụ
thi hành những bản án, quyết định của Tòa án và của cơ quan khác theo quy
định của pháp luật. Việc quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan thi hành
án có ý nghĩa khẳng định rõ cơ quan thi hành án là cơ quan gì trong hệ thống
các cơ quan của Nhà nước, giống như khi nói đến Tòa án luật khẳng định ngay
đó là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay cơ
quan Kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và giám sát các hoạt động tư
pháp theo quy định của pháp luật.
Các quy định là căn cứ để trước hết các cơ quan thi hành án nhận thức
đúng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ cũng như tầm quan trọng của mình, không
lệ thuộc, không ỷ lại cơ quan khác trong hoạt động thi hành án. Mặc khác, nó
tạo đà cho người dân hiểu biết về vị thế của cơ quan thi hành án, để khi người
14

Điều 20 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

17

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn
dân có quyền lợi không được thi hành theo bản án của Tòa án, họ nghĩ ngay

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

18

SVTH: Trần Thị Đèo


Thi hành án hành chính - Quy định và thực tiễn
quyết định của Tòa án; đảm bảo sự kết hợp tương trợ thi hành án giữa các
ngành luật; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của của công dân (cá nhân, cơ quan,
tổ chức); đảm bảo sự giám sát, kiểm sát hoạt động thi hành án; đảm bảo nguyên
tắc pháp chế XHCN...
Đặc biệt giữa thi hành án dân sự và thi hành án hành chính thì về thi
hành bản án, quyết định về phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính
của Tòa án được thi hành bởi cơ quan thi hành án dân sự.
Kể từ ngày 01/7/2011 khi Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực thi hành
thì việc thi hành án hành chính có cụ thể hơn trách nhiệm của cơ quan thi hành
án dân sự, song vẫn cần lưu ý là cơ quan thi hành án dân sự chỉ thụ lý và ra
quyết định thi hành án đối với phần tài sản trong bản án, quyết định của Tòa án
hành chính như hiện nay. Đối với phần không phải là tài sản, thì cơ quan thi
hành án có trách nhiệm đôn đốc theo quy định tại các Điều 243, 244 và 245
Luật Tố tụng hành chính năm 2010.
 Sự khác nhau:
Tuy có những điểm giống nhau nhưng giữa thi hành án hành chính với
thi hành án dân sự cũng có sự khác nhau nhất định ở những đặc điểm sau đây:
- Về chủ thể:
+ Đối với thi hành án hành chính: Chủ thể tham gia trong quan hệ pháp
luật hành chính một bên phải là cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có
thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước. Quan hệ pháp luật có một bên
mang quyền lực Nhà nước. Đó là nét đặc trưng cơ bản mà chỉ riêng quan hệ

Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án.
Quyết định theo thủ tục đặc biệt của Hội đồng thẩm phán của Tòa án
nhân dân tối cao quy định tại Đều 240 của Luật này.
Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án mặc dù có
bị khiếu nại, khiến nghị”.
+ Đối với thi hành án dân sự: Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008
quy định bản án, quyết định được thi hành:16
“Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật Thi hành án dân sự
bao gồm:
Bản án, quyết định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật:

15
16

Điều 241 Luật Tố tụng hành chính năm 2010.
Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

GVHD: ThS. Diệp Thành Nguyên

20

SVTH: Trần Thị Đèo



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status