TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
----
----
TRẦN ÁNH TUYẾT
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ HIỆN THỰC VÀ
CON NGƯỜI TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ
(Luận văn TNĐH ngành Sp. Ngữ Văn Khóa 33: 2007-2011)
CBHD: TRẦN VĂN MINH
Cần Thơ, 4/2011
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thời gian đi qua, khắc nghiệt nhưng là thước đo sòng phẳng nhất, công bằng nhất
đối với mọi sáng tạo. Vượt lên trên tất cả những mất mát, cái còn lại là giá trị những
trang viết mà người nghệ sĩ để lại cho đời. Đến với kịch bản văn học của tác giả Lưu
Quang Vũ chúng tôi nhận thấy bằng tất cả tài năng và tâm huyết những sáng tạo nghệ
thuật của ông đã “thắng được thời gian và ở lại với lòng người”. Qua những trang kịch
sinh động, Lưu Quang Vũ đã góp sức xây đời, tác động tích cực vào xã hội, kiên quyết
chống sự bảo thủ trì trệ, sự lộng hành của cái xấu, cái ác. Chứng kiến bao cảnh đời
chìm nổi thời hậu chiến, Lưu Quang Vũ không ngừng băn khoăn, trăn trở về những
nổi niềm nhân thế và nghiền ngẫm niềm bi cảm của phận người. Chính vì vậy mà tác
phẩm kịch của Lưu Quang Vũ như một dòng sông suy tưởng chở nặng tình yêu thương
làm luận văn mong muốn hoàn thiện hơn kiến thức lịch sử văn học để những giá trị
nghệ thuật đích thực không bị bỏ qua và có cơ hội tiếp xúc với cái hay cái đẹp của văn
chương trong thể loại kịch.
Đó là lí do vì sao chúng tôi mạnh dạng chọn đề tài còn khá mới mẻ này: “Quan
niệm nghệ thuật về hiện thực và con người trong kịch Lưu Quang Vũ”.
2. Lịch sử vấn đề
Lưu Quang Vũ bước vào làng viết kịch chuyên nghiệp từ năm 1980, bắt đầu bằng
vở “Sống mãi tuổi 17”, khép lại cuộc đời và sự nghiệp bằng vở “Chim sâm cầm không
chết”. Hơn 50 vở kịch của Lưu Quang Vũ đã làm thay đổi bộ mặt của sân khấu nước
nhà. Từ khi kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ được đưa lên sân khấu, rải rác trên
các báo, tạp chí có đăng những bài phê bình, bình luận tỏ rõ sự quan tâm; đặc biệt từ
hội diễn sân khấu năm 1985, sự chú ý quan tâm này càng rõ rệt hơn. Có thể phân chia
dựa trên mốc thời gian là tháng 8 năm 1988 - thời điểm Lưu Quang Vũ qua đời để thấy
rằng cái chết chẳng những không làm người đời lãng quên mà ngược lại cái tên Lưu
Quang Vũ vẫn không ngừng được nhắc đến như một “hiên tượng”.
2.1 Trước khi Lưu Quang Vũ qua đời (tháng 8 năm 1988)
Tháng 3 năm 1985, Nguyễn Thị Minh Thái đã viết bài báo với tựa đề “Nguồn
sáng trong đời – một vở diễn đẹp giản dị”. Tác giả bài báo đã nhận xét kịch bản văn
học “Nguồn sáng trong đời” (Lưu Quang Vũ) được viết bằng “một lối bình dị”, ấn
tượng mạnh do kịch bản văn học tạo ra “chính là sự giản dị, không hoa sói hoa hòe,
5
không cầu kỳ mảng miếng, không ồn ào khoa trương”[1,254]; Nguyễn Thị Minh Thái
còn liên hệ so sánh vẻ đẹp giản dị mà hàm súc, tinh tế của vở “Nguồn sáng trong đời”
với cái đẹp mộc mạc thường thấy ở kịch của văn hào Sêkhốp. Ở một bài báo khác, khi
đề cập đến kịch bản “Người trong cõi nhớ” (Lưu Quang Vũ), Nguyễn Thị Minh Thái
viết “Đạo diễn Đoàn Bá ưa thích nhất chất thơ, chất triết lí của kịch bản” bởi vì tác
giả kịch bản có “cách tiếp cận đời sống hôm nay một cách mới lạ, không giẫm lên lối
tính triết lý sâu sắc của vấn đề mà nó đặt ra”. Trên tạp chí sân khấu thành phố Hồ Chí
Minh (số 1/1986), Vũ Hải giới thiệu những nhà soạn kịch đạt được huy chương Vàng
hội diễn sân khấu, trong đó Lưu Quang Vũ là người trẻ nhất chính “chất văn học” đã
tạo nên sức hấp dẫn cho kịch anh. Và chính Christian Hoche (Pháp) đã gọi ông là
“Môlie ở Việt Nam (…) với ngòi bút chua cay, với khuynh hướng sâu sắc chống chủ
nghĩa xu thời”.
Cũng ở “Tạp chí văn học”, số 5 năm 1986 có đăng bài viết khá sâu sắc “Kịch
Lưu Quang Vũ - những trăn trở về lẽ sống, lẽ làm người” của Phan Trọng Thưởng.
Trước hết, ông đã điểm qua những thành công nổi bật của nhà viết kịch Lưu Quang
Vũ. Từ đó rút ra nhận xét “Cùng với các vở: Nhân danh công lí (Doãn Hoàng Giang),
Mùa hè ở biển (Xuân Trình), Tôi và chúng ta và Nguồn sáng trong đời của Lưu Quang
Vũ là những sự kiện nghệ thuật đáng chú ý”. Theo Phan Trọng Thưởng, để lí giải
thành công của Vũ thì ngoài những yếu tố như: kịch Lưu Quang Vũ đáp ứng yêu cầu
thời sự, đề cập những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống…với ông thì nên “hướng sâu
sự tìm tòi về phía cá tính sáng tác, phía cá nhân nhà văn”. Mặt khác, ông cho rằng “
cảm hứng chủ đạo trong kịch của Lưu Quang Vũ là cảm hứng về con người, về cái
đẹp, cái thiện”; “khát vọng chính” của Lưu Quang Vũ là “khát vọng hoàn thiện cuộc
sống, hoàn thiện con người.. Cho nên, vượt qua cả những đề tài có tính chất thời sự,
kịch của anh hướng tới những giá trị bền vững lâu dài”[2; 291]. Sau đó, Phan Trọng
Thưởng phân tích một số tác phẩm cụ thể và đi đến kết luận : thế giới nhân vật trong
kịch Lưu Quang Vũ rất đa dạng nhưng không phân biệt thế giới người tốt và thế giới
người xấu. Giải thích cho nhận định này ông khẳng định “Bởi vì trong quan niệm nghệ
thuật của anh, con người về bản thể, tồn tại cả mặt xấu lẫn mặt tốt”. [2; 295]
Và Trần Quê trong một bài viết đăng trên “Tạp chí sân khấu”, số 6, năm 1986
đã giới thiệu về Lưu Quang Vũ - “ Một tác giả trẻ trưởng thành từ tạp chí Sân khấu”.
Trong bài viết có đưa ra nhận xét: các kịch bản của Lưu Quang Vũ trải rộng trên nhiều
đề tài, nhưng ở bất cứ đề tài nào, tựu chung lại cũng “ nói về con người đương thời,
nhất là con người mới xã hội chủ nghĩa”. “ Anh táo bạo sộc tới những vấn đề khó khăn
nhất, hóc búa nhất, nói thẳng, nói ngay vào những vấn đề mà có người còn ngần
ngại..”. Kết thúc bài viết là lời nhận xét “Lưu Quang Vũ đang là một cây bút trẻ nhiều
hoành hành, ngự trị trong cuộc sống đương đại”.
Mười năm sau ngày ông mất, trong cuốn sách “Một số gương mặt văn chương
học thuật Việt Nam hiện đại” (xuất bản năm 1998) Phong Lê phác thảo chân dung và
8
sự nghiệp của 54 tác giả góp phần vào tiến trình hiện đại hóa đời sống văn chương và
học thuật của thế kỷ XX. Theo Phong Lê, “những năm 80 Vũ đạt được rất nhiều vinh
quang trong kịch trường. Vũ luôn dành các đỉnh cao có lúc đến chóng mặt. Cũng có
thể nói ngọn đuốc Lưu Quang Vũ trở nên rực sáng trong bầu trời sân khấu… Kịch
trường không còn Vũ nhưng vẫn còn các vở của Vũ…”[3;423]. Phần giới thiệu Lưu
Quang Vũ chỉ có vài trang, nhưng sau khi đọc những người yêu mến thể loại kịch
không khỏi tò mò muốn tìm hiểu xem kịch bản của Lưu Quang Vũ như thế nào mà
ông đã được xem như một tác giả tiêu biểu nhất trong giai đoạn văn học kịch thế kỷ
XX.
Ngoài ra trong quyển “Lý luận văn học- vấn đề và suy nghĩ” (xuất bản năm
1999) của Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh Như Phương, ở cuối phần lý thuyết chung về
đặc điểm của thể loại kịch, cái tên Lưu Quang Vũ đã được nhắc đến như một dẫn
chứng để minh họa: “Kịch là một thể loại khó… một kịch bản tồi thì khó lòng tạo nên
một vở diễn có giá trị được. Chính vì vậy mà nhiều nhà văn có thể thử bút ở nhiều lĩnh
vực như thơ, truyện, kí, luận, nhưng ít dám liều nhảy sang kịch và thật sự trở thành
một tác gia kịch. Trong nền văn học hiện nay của ta, Lưu Quang Vũ là một trường hợp
hiếm có. Anh là một tên tuổi có vị trí xứng đáng cả trong thơ, truyện và kịch” [3,107].
Năm 2001, Lưu Khánh Thơ đã tuyển chọn nhiều bài viết, bài nghiên cứu tiêu
biểu về Lưu Quang Vũ đăng rải rác trên các tạp chí, và tập hợp lại, in thành sách với
tiêu đề : “Lưu Quang Vũ – tài năng và lao động nghệ thuật”. Trong cuốn sách đó, Ngô
Thảo cho bạn đọc biết rằng: Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi đã từng cộng tác với Lưu
Quang Vũ tám vở diễn. “Điều mà nhà đạo diễn có kinh nghiệm thích và quý ở Vũ đó là
trong kịch anh luôn có những chi tiết đa nghĩa, đạo diễn muốn nhấn mạnh, cắt nghĩa
về phía nào cũng có lý, nên phải rất thận trọng để không làm nghèo mất ý nghĩa của
phác thảo đôi nét về kịch nói sau 1975. Hay nhà nghiên cứu Tôn Thảo Miên cũng có
cái nhìn tổng quát khi “Nhìn lại văn học kịch thời kỳ 1975- 1985”. Nhắc đến sự phát
triển của văn học kịch sau năm 1975 các tác giả đều lưu ý và khẳng định những đóng
góp của Lưu Quang Vũ với sân khấu, và xem ông như một gương mặt tiêu biểu của
văn học thời kỳ này.
Ở chương trình trung học phổ thông, kịch bản văn học cũng được đưa vào giảng
dạy, khi mà thể loại kịch chỉ chiếm một số lượng ít ỏi. Qua đó phần nào khẳng định vị
trí, vai trò của tác giả Lưu Quang Vũ đối với nền văn học kịch nước nhà và nhà soạn
sách đã nhận định “Lưu Quang Vũ không chỉ trở thành một hiện tượng đặc biệt đặc
biệt của sân khấu kịch trường những năm tám mươi của thế kỉ XX mà còn được coi là
10
một trong những nhà soạn kịch tài năng nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam
hiện đại”.
Nhìn lại lịch sử nghiên cứu, phê bình kịch của Lưu Quang Vũ, người làm luận
văn nhận thấy những nhà nghiên cứu chỉ tập trung tìm hiểu, bàn về nội dung của từng
vở kịch riêng lẻ, hay một số khía cạnh nhất định. Qua những đánh giá riêng lẻ như
vậy, nhìn chung vẫn chưa bao quát hết một cách toàn diện, tỉ mỉ kịch của Lưu Quang
Vũ. Cho nên, thực hiện luận văn này chúng tôi sẽ khảo sát văn bản kịch trên cơ sở tiếp
cận ở phương diện quan niệm nghệ thuật trong kịch Lưu Quang Vũ. Chân lí là sự kế
thừa và tiếp nối đồng thời phát triển; do đó, học tập và kế thừa ý kiến đánh giá xác
đáng của những nhà nghiên cứu đi trước để từ đó chúng tôi định hướng đúng đắn khi
thực hiện luận văn này.
3. Mục đích nghiên cứu
Mọi thành công hay hạn chế của một tác phẩm văn học luôn có cội rễ sâu xa
trong bối cảnh xã hội, đặc điểm của thời đại và một yếu tố không thể thiếu đó là cá
tính sáng tạo từ phía chủ thể nghệ sĩ. Vì thế, qua luận văn, người viết mong muốn tìm
phẩm còn lại có hạn, cho nên luận văn chủ yếu khảo sát một số kịch bản từng đạt giải
cao được in trong “Lưu Quang Vũ tác phẩm được giải thưởng Hồ Chí Minh ”. Bên
cạnh đó, luận văn còn tìm hiểu một số kịch bản văn học thời gian gần đây được dàn
dựng lại như Hoa cúc xanh trên đầm lầy, Tin ở hoa hồng, Điều không thể mất…
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn khảo sát những tư liệu tìm được trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử.
Trước hết, phương pháp lịch sử được sử dụng để đi vào tìm hiểu bối cảnh chính
trị- xã hội thời kì 1975- 1985 , trước đại hội Đảng lần thứ VI để thấy được những ảnh
hưởng, tác động của thời đại đến nhà viết kịch, tìm ra những điểm tiến bộ ; từ đó, xác
định vị trí của Lưu Quang Vũ trên văn đàn. Đồng thời, luận văn cũng kết hợp sử dụng
một số phương pháp khác. Trong đó, có phương pháp so sánh (đồng đại, lịch đại) được
dùng để đối chiếu kịch bản văn học của Lưu Quang Vũ với một vài tác giả trước năm
1945 hay các tác giả kịch bản văn học cùng thời để thấy phong cách riêng, cá tính sáng
tạo và mức độ đóng góp của Lưu Quang Vũ đối với thể loại văn học kịch. Và xét theo
phương thức tái hiện đời sống, cái nhìn về con người thì thể loại kịch có những nét đặc
thù riêng, khác với trữ tình và tự sự. Do vậy, những điểm khác biệt về thể loại văn học
cũng được lưu tâm để tìm hiểu, khám phá. Ngoài ra, phương pháp hệ thống cũng được
sử dụng để hiểu rõ đặc điểm “quan niệm nghệ thuật” thể hiện trong từng kịch bản văn
12
học cụ thể; và việc hệ thống cần để đưa ra những liệu cứ cụ thể trong quá trình nghiên
cứu để làm cơ sở vững chắc cho các luận điểm thêm thuyết phục.
Như vậy, trong suốt quá trình nghiên cứu chúng tôi vận dụng kết hợp các phương
pháp trên cùng với các tao tác tư duy như: phân tích, phân loại, liệt kê, tổng hợp,
chứng minh, khái quát hóa, hệ thống hóa.. để làm sáng tỏ vấn đề được nêu ra một cách
cụ thể, chân xác.
niệm nghệ thuật cũng phải có tính chất độc đáo vì nó được soi sáng bởi một cái nhìn
14
riêng. Và Huỳnh Như Phương đã khẳng định “Văn học mang tính thẩm mỹ tích cực là
vì cùng với thế giới nghệ thuật, nhà văn đã đem đến cho văn học một quan niệm nghệ
thuật”. Để thuyết phục hơn, tác giả đã đưa ra nhận định của Bêlinxki viết về Gogol:
“Tác giả không bị đối tượng của mình làm cho thụ động, ông ở trên đối tượng, ông
chế ngự đối tượng, ông không nhìn đối tượng như một cái gì tự nó, mà là đối tượng ở
trước ta, cho ta; vì thế nhiều khi trong tác phẩm của ông, chúng ta nhận ra được cái
nhìn riêng, quan niệm chủ quan của ông”. [1;212]
Trước đây, trong giới lí luận văn học Nga đã có nhiều tác giả ứng dụng khái
niệm quan niệm nghệ thuật để khảo sát các nền văn học trên thế giới như:
P.X.Likhasốp, I. Êrêmin, V.R.Secbina, V.V.Timôphiep, N.G. Giunlinxki…Ở Việt
Nam, vấn đề này được lưu ý như là một công cụ đắc lực cho việc khám phá thế giới
nghệ thuật của nhà văn, bởi để sáng tạo một tác phẩm văn học, nhà văn phải có quan
niệm về thế giới ấy qua góc nhìn nghệ thuật như một điều kiện không thể thiếu. Trần
Đình Sử cho rằng: “Tìm hiểu khái niệm quan niệm nghệ thuật trong nghiên cứu văn
học Xô Viết ta thấy rằng quan niệm nghệ thuật là một phạm trù nghệ thuật học, nó gắn
với quan niệm thế giới quan, triết học, xã hội học về con người và thế giới nói chung,
nhưng tự bản thân nó đã là một “ý thức hệ” đặc biệt gắn liền với miêu tả nghệ
thuật”[9; 93].
Như vậy, quan niệm nghệ thuật thể hiện các giới hạn cách hiểu thế giới, con
người thuộc một hệ thống nghệ thuật của nhà văn thông qua mức độ, phạm vi, khả
năng chiếm lĩnh đời sống của nhà văn đó. Quan niệm nghệ thuật gồm nhiều vấn đề
như: thế giới, con người, các phạm trù thẩm mỹ. Tuy nhiên, cái thúc đẩy sức sáng tạo
nghệ thuật chính là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người; rõ hơn, đó là quan
niệm nghệ thuật về hiện thực và quan niệm nghệ thuật về con người.
1.1.2 Quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người
Nói đến quan niệm nghệ thuật là nói đến “ý hướng” của nhà văn hướng đến
văn học nghệ thuật hướng tới sự phát huy bản ngã, đối lập lại với tính chất phi ngã của
văn học thời phong kiến. Quan niệm nghệ thuật này vừa đề cao vai trò của cá tính, vừa
bộc lộ khát vọng hòa hợp với “tha nhân”; vừa thể hiện ước mơ đi xa đến một chân trời
khác, một quê hương khác; lại vừa bị ám ảnh bởi tiếng gọi của trần gian này, của thế
giới này.
Còn quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của các nhà văn hiện thực
phê phán là “nghệ thuật vị nhân sinh”. Vũ Trọng Phụng từng viết: “Các ông muốn tiểu
thuyết cứ là tiểu thuyết, còn tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu
thuyết là thực sự ở đời”. Với nguyên tắc coi hiện thực trực tiếp là đối tượng của nghệ
thuật và đặc biệt coi trọng mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh mà văn học hiện
16
thực phê phán đã phát hiện ra nhiều kiểu nhân vật mới, làm phong phú thêm khả năng
chiếm lĩnh hiện thực khách quan và con người.
1.1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về thế giới
Thế giới được tạo nên bởi thiên nhiên, vũ trụ và con người. Trong triết học,
chủ nghĩa duy tâm quan niệm thế giới là hiện tượng tinh thần, tồn tại bất biến. Chủ
nghĩa duy vật quan niệm thế giới là hiện tượng vật chất luôn vận động, không ngừng
biến đổi. Trong văn học, mặc dù chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội khác
đặc biệt là triết học nhưng quan niệm về thế giới không đơn giản là vật chất hay tinh
thần mà nó được thể hiện ở điểm nhìn nghệ thuật. Chính vì thế, quan niệm nghệ thuật
về thế giới là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn, đó là cuộc đời hay hiện thực
cuộc sống dựa trên cảm nhận của cá nhân được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, được
nhìn ở góc độ nào đó. Trong thơ cổ điển, nhà thơ nhìn thế giới trong sự vĩnh hằng của
nó. Trong thế giới đó, có “thay đổi”, có vận động nhưng là đổi thay vận động trong sự
vĩnh hằng của muôn đời, trong nhịp điệu tuần hoàn của thời gian: xuân qua, hạ đến,
thu tàn, đông sang. Nhà thơ bằng lòng với việc của muôn đời: với Nguyễn Du thì
“Trăm năm trong cõi người ta” (Truyện Kiều- Nguyễn Du), còn Thôi Hiệu “Nghìn
năm mây trắng bây giờ còn bay” (Hoàng Hạc Lâu), hay đó là một “thế sự du du”, một
1.1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về con người
Con người là đối tượng hướng tới của văn học nhưng con người trong văn
học không phải là con người nguyên bản của đời sống “mà là quan niệm về con người
ấy, một cách thẩm mỹ và nghệ thuật” (theo Trần Đình Sử). Nói cách khác, cần phân
biệt quan niệm con người như một phạm trù tư tưởng, đạo đức xã hội với quan niệm
nghệ thuật về con người như một phạm trù nghệ thuật thẩm mỹ. Nếu muốn khám phá
sự cảm nhận con người tới mức độ nào, thì cần khám phá quan niệm nghệ thuật về con
người trong hình thức miêu tả nhân vật. Nhưng đó không phải phân tích nhân vật trong
tác phẩm để chỉ ra: tính cách, khí chất, bản chất xã hội, tác giả lên án cái gì, khẳng
định cái gì và nghệ thuật miêu tả nhân vật… Trái lại, cần phải khám phá cách cảm
nhận con người qua việc miêu tả nhân vật, tức là, con người được cảm nhận qua các
nhân vật của tác giả cụ thể, tác phẩm cụ thể gắn chặt với cái nhìn của nhà văn. Một khi
đã hiểu quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn thì chúng ta sẽ hiểu nhân vật
đó sâu sắc, toàn diện hơn.
Chẳng hạn như, nhà văn Nguyễn Công Hoan, với quan niệm “Cuộc đời là
một sân khấu hài kịch”, đã nhìn vào mặt trái của cuộc đời, của con người, để phỉ nhổ
18
vào những xấu xa, bỉ ổi của xã hội, để cười ra nước mắt những điều xấu xa của con
người dưới đáy nhằm lên án xã hội đảo điên. Con người trong quan niệm của Nguyễn
Công Hoan hoàn toàn bị tha hóa, thậm chí bị vật hóa, đồ vật hóa… Từ vị quan béo tốt,
một bà lớn với khuôn mặt thịt nung núc, đến những đứa ăn mày, ăn xin, kẻ cắp, người
trốn nợ, bà cụ nhà quê… tất cả đều là những con người bị tha hóa. Cách nhìn “cuộc
đời là một sân khấu hài kịch” đã chi phối sâu sắc nhà văn trong việc chọn đề tài, chủ
đề, xây dựng nhân vật, biến cố và tình tiết… mang đậm chất hài kịch. Cái nhìn phê
phán khiến cho tác phẩm của ông có sức công phá mạnh mẽ đối với xã hội thực dân
nửa phong kiến; từ đó toát lên nhu cầu cần phải thay đổi tận gốc rễ cái xã hội tối tăm,
mục ruỗng và tàn bạo để trả lại chân dung thật sự cho con người.
Riêng nhà văn Nam Cao, với quan niệm “nghệ thuật không nên là ánh trăng
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì định hướng cho người cầm bút nên quan
điểm sáng tác sẽ chi phối đến nội dung và hình thức tác phẩm. Từ đó có thể khẳng
định, quan điểm sáng tác chỉ một phần nào đó ảnh hưởng đến các nhà văn. Còn đối với
quan niệm nghệ thuật của người cầm bút thì ẩn chìm trong ý thức và thể hiện ở nhiều
yếu tố, ở sâu bên trong mạch ngầm của tác phẩm. Nếu nhà văn đưa ra quan niệm nghệ
thuật trước mà không thể hiện trong tác phẩm của mình thì chúng chỉ được ghi nhận
như ý hướng sáng tác.
Văn học bắt nguồn từ cuộc sống. Do đó, hiện thực khách quan hay còn được
gọi là hoàn cảnh lịch sử cũng góp phần chi phối ảnh hưởng đến cách nhìn của nhà văn
về cuộc sống và con người. Hiện thực khách quan đầu thế kỷ XX là một xã hội thực
dân nửa phong kiến với bao nhiêu áp lực nặng nề, phơi bày nhiều mặt bất công ngang
trái. Con người Việt Nam thời này chịu nhiều khổ cực: sự đày đọa cuộc sống dưới ách
đế quốc thực dân và phong kiến; sự hủy hoại văn hóa, đạo đức truyền thống dân tộc;
sự xâm nhập của văn minh phương Tây trong ý đồ đen tối của thực dân Pháp. Hoàn
cảnh lịch sử trên đã tác động tới việc hình thành quan niệm nghệ thuật về hiện thực và
con người của các nhà văn hiện thực phê phán. Phản ánh hiện thực khách quan như nó
tồn tại, chú trọng miêu tả con người gắn với hoàn cảnh, tính cách con người bị quy
định bởi hoàn cảnh. Và, văn học hiện thực phê phán đã tạo ra một bước ngoặc mới
trong việc khám phá đời sống con người. Đó là một ví dụ để chứng minh tác động của
hoàn cảnh lịch sử đến quan niệm nghệ thuật của người cầm bút. Lưu ý rằng, dù bị tác
động bởi hoàn cảnh lịch sử nhưng nhà văn với quan niệm mang tính nghệ thuật cao
không đơn thuần tái hiện lại chân xác hiện thực, mà bày tỏ một cách nhìn trước cuộc
sống và qua đó gửi gắm tâm sự, ước vọng của mình về cuộc đời và con người qua
nhiều bình diện.
20
Ngoài ra, một yếu tố tác động không nhỏ đến quan niệm nghệ thuật về thế giới
và con người của nhà văn đó là thế giới quan. Mỗi tác phẩm là một bức tranh về sự
chức của người cầm bút, sự tác động của những yếu tố khách thể góp phần đem đến
cho nhà văn một cách tự biểu hiện qua quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người.
1.1.4 Một số phương diện của quan niệm nghệ thuật về thế giới và con
người thể hiện trong tác phẩm văn học
Quan niệm nghệ thuật của nhà văn bộc lộ qua mô hình nghệ thuật về thế
giới và con người, qua cách tổ chức các tuyến nhân vật, các sự kiện, cách giải quyết
mâu thuẩn trong tác phẩm… khi quan niệm thay đổi thì thời gian, không gian, cách lí
giải, cách đánh giá cũng thay đổi và tất nhiên cách xây dựng hình tượng cũng thay đổi.
Trong những cấu trúc xã hội khác nhau thì mô hình nghệ thuật cũng khác nhau. Nằm
trong từng cấu trúc xã hội, kết cấu của mô hình khá bền vững. Nó quyết định những tri
giác, cảm xúc của người nghệ sĩ, nó buộc người nghệ sĩ phải chọn cho mình một mô
hình nghệ thuật nhất định để thể hiện. Chẳng hạn, trong mô hình văn học trung đại các
nghệ sĩ hay dùng nguyên tắc ước lệ để miêu tả nhân vật. Nguyễn Du miêu tả Từ Hải
"Vai năm thước rộng thân mười thước cao"... Trong văn học dân gian kiểu xây dựng
nhân vật theo hai tuyến thiện, ác cũng là một kiểu mô hình. Đặc trưng của văn học
hiện thực phê phán là kiểu kết thúc nhân vật không có lối thoát như chị Dậu, anh Pha,
Chí Phèo... Giai đoạn chống Mỹ có mô hình nhân vật hy sinh tình cảm riêng vì nghĩa
lớn như chị Tư Hậu, anh Trỗi . . . Mô hình nghệ thuật rất đa dạng, nó có thể là của
thời đại, giai đoạn, tác giả… Chẳng hạn, mô hình nhân vật trong sáng tác của Nam
Cao là người nông dân tri thức nghèo… Việc đi sâu tìm hiểu mô hình nghệ thuật sẽ
giúp ta nhận ra những đặc điểm chung, khái quát trong từng hình tượng nghệ thuật cụ
thể; như thế sẽ phản ánh đầy đủ cuộc sống vừa thể hiện gương mặt nghệ sĩ.
Ngoài ra, quan niệm nghệ thuật còn thể hiện ở điểm nhìn, cái nhìn của nhà
văn. Người nghệ sĩ nhìn cuộc sống và các quá trình đang diễn ra ở góc độ nào, nhiều
hay chỉ một góc độ, khoảng cách giữa người trần thuật và sự việc được trần thuật –
điểm nhìn của người cầm bút. Hiện thực cuộc sống thì đa dạng, phong phú mà năng
lực nhận thức của con người là có giới hạn. Mỗi nhà văn chỉ có thể phản ánh một vài
mặt nào đó của hiện thực, có thể đó là mặt bản chất hoặc không bản chất. Quan niệm
niệm nghệ thuật về thế giới, con người.
Mô-tip các nhân vật, biến cố trong tác phẩm cũng thể hiện quan niệm nghệ
thuật của tác giả về thế giới và con người. “Hầu như mọi vật của Nguyễn Công Hoan
đều có ngoại hình xấu xí. Điều này trở thành một thói quen, một ý thức thẩm mỹ của
ông”. Do nhìn cuộc sống một cách bi quan, hoài nghi cho nên Nguyễn Công Hoan chỉ
nhìn ở những phương diện xấu xí của con người. Ông còn quan niệm “phía xấu dễ
nhập tâm hơn phía tốt”.
23
Quan niệm nghệ thuật còn thể hiện ở nhiều yếu tố khác: mối quan hệ giữa
người và người, người với tự nhiên, trạng thái tình cảm của nhân vật. Thơ cách mạng
thường biểu hiện một sự lạc quan, yêu đời, một niềm tin vào tương lai, sự tin tưởng,
yêu đương “người với người sống để yêu nhau”.
Quan niệm nghệ thuật còn thể hiện ở nội dung và hình thức nghệ thuật. Nó
chi phối cách xây dựng hình tượng nhân vật, cách sắp xếp các chi tiết, sự kiện, giọng
điệu, ngôn từ…trong tác phẩm văn học. Do không chấp nhận thực tại nên Chế Lan
Viên không tái hiện thực tại mà tìm về với quá khứ, với hình ảnh của tháp Chàm, hình
ảnh của đất nước Chiêm Thành rực rỡ.
Quan niệm nghệ thuật của tác giả còn chịu ảnh hưởng của cái vô thức. Nhà
thơ Hàn Mặc Tử thường bị ám ảnh bởi hình tượng: trăng, máu, hồn,…Vì thế, khi sáng
tác những hình tượng ấy gần như luôn xuất hiện trong cõi vô thức của tác giả.
Quan niệm nghệ thuật của một tác giả thể hiện ở rất nhiều yếu tố trong tác
phẩm. Tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của nhà văn sẽ giúp ta khám phá những phương
diện quan trọng của tác phẩm. Chính vì thế, tìm hiểu quan niệm nghệ thuật của nhà
văn có ý nghĩa rất quan trọng; đặc biệt văn học Việt Nam sau 1975 chứng kiến nhiều
sự tìm tòi, đổi mới trong quan niệm. Qua việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật ở kịch
Lưu Quang Vũ sẽ phần nào khẳng định sự hoàn thiện và phát triển của nghệ thuật viết
kịch trong tiến trình văn học hiện đại.
khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình”, không phải chỉ trong loại hình kịch mới
có sự dung hợp các yếu tố của loại hình khác. Trong thơ truyện, ký đều có, nhưng kịch
có ưu thế trong sự kết hợp khả năng biểu hiện của tự sự và trữ tình. Kịch là một thể
loại văn học nhưng lại gắn liền sinh tử với sân khấu, vì thế kịch sẽ không bao giờ là
một thể loại văn học đơn thuần như tự sự và trữ tình. Kịch bản viết ra vừa để đọc, vừa
để đọc vừa đẻ diễn, do đó đọc kịch bản văn học nếu chúng ta tách hoàn toàn với nghệ
thuật sân khấu thì không thể hiểu được.
Như vậy, nhìn từ góc độ nào ta cũng thấy kịch bản văn học là một bộ phận
hợp thành của nghệ thuật sân khấu. Không phải ngẫu nhiên mà khi sáng tác kịch bản,
nhà văn bao giờ cũng tính đến các yếu tố không gian, thời gian, khả năng biểu hiện
nghệ thuật của các phương tiện sân khấu nhất là sự diễn xuất của các diễn viên. Nhưng
kịch bản văn học không chỉ có đời sống gắn bó với nghệ thuật sân khấu mà nó còn có
đời sống độc lập riêng của nghệ thuật ngôn từ. Có thể xem “Kịch”, “Kịch bản văn học”
hay “Văn học kịch” như những khái niệm đồng nghĩa chính là vì thế.
25
1.2.1.2 Một số lưu ý về đặc trưng của kịch bản văn học
a. Kịch tính là đặc trưng nổi bật nhất của kịch
Trong bài “Sự phân chia văn học thành loại và thể”, Bêlinxki đã nói về sự
giống nhau giữa tự sự và kịch như hai phương thức biểu hiện đời sống. Theo Bêlinxki,
kịch giống tác phẩm tự sự vì: Ở đây cũng hiện hữu một hành động xác định đang tự
vận động cái bên trong, cái lý tưởng (tức là cái chủ quan) đã trở thành cái bên ngoài,
cái hình thức (tức là cái khách quan). Muốn phản ánh đời sống trong tính khách quan,
tác phẩm tự sự và kịch phải dựa vào một hệ thống sự kiện, biến cố được tổ chức thành
cốt truyện. Tuy cùng xây dựng cốt truyện để phản ánh đời sống theo nguyên tắc khách
quan, nhưng từ trong bản chất, kịch và tự sự là hai loại tác phẩm có nội dung thể loại
rất khác nhau. Kịch khác tác phẩm tự sự ở kịch tính. Kịch tính là đặc điểm nổi bật của
thể loại kịch. Không có xung đột, mâu thuẫn thì không có kịch tính. Kịch tính bao giờ
Tính tập trung cao độ biểu hiện trước hết ở các bộ phận cấu thành cốt truyện kịch. Bộ
phận cấu thành duy nhất của cốt truyện kịch là hành động được triển khai qua một hệ
thống sự kiện diễn ra theo trật tự thời gian. Cốt truyện kịch thường đơn tuyến. Mỗi vở
kịch thường chỉ tập trung phát triển một tuyến cốt truyện. Bởi vì, yêu cầu về sự thống
nhất hành động cho phép mỗi vở kịch chỉ theo đuổi một mục đích, hướng vào một vài
chủ đề then chốt, cơ bản, nhằm gợi ra một vài hứng thú nào đấy, mọi chi tiết cùng toàn
bộ hệ thống sự kiện biến cố được sử dụng để tạo dựng cốt truyện đều phải dồn về một
mối, hướng tới mục đích ấy, góp phần thể hiện chủ đề ấy, làm nổi bật cảm hứng ấy. Để
gây hứng thú cho người xem, thi pháp cốt truyện của kịch rất coi trọng việc sáng tạo ra
cái bất ngờ. Muốn tạo ra cái bất ngờ, người sáng tác phải biết dẫn dắt các sự kiện biến
cố rẽ vào những chỗ ngoặt, những bước nhảy vọt, những đoạn đột biến, biến cố trong
cốt truyện phải được liên kết, tổ chức chặt chẽ, lôgich. Cho nên, thi pháp kịch vừa coi
trọng việc sáng tạo ra cái bất ngờ, vừa chú ý tổ chức những chi tiết có chức năng giới
thiệu, báo trước, đặt tính cách, số phận, động cơ, ý đồ của các nhân vật và các sự kiện,
biến cố vào một quan hệ nhân quả tất yếu nhằm mang lại cho cốt truyện sự hấp dẫn mà
vẫn tự nhiên. Cốt truyện của tác phẩm kịch lại thường phát triển với nhịp điệu mau lẹ,
vì thế tác phẩm kịch không được phép mở rộng không gian, kéo dài thời gian diễn biến
của các sự kiện, biến cố. Việc tôn trọng nguyên tắc về sự tập trung của cốt truyện đã
chi phối cách thức tổ chức bố cục của kịch bản văn học. Một vở kịch thường được chia
thành ba hoặc năm hồi tương ứng với ba giai đoạn vần động hết sức mau lẹ của hành
động kịch: thắt nút (trước đó thường có phần trình bày) - đỉnh điểm - mở nút (có thể
thêm phần vĩ thanh).
27