luận văn đại học sư phạm Những nội dung cơ bản của đề tài hình tượng con người trong điêu khắc, trang trí đình làng Việt - Pdf 26

Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Đình làng - một mảnh hồn quê, một nét đẹp của xóm làng Việt Nam,
từ lõu đã in vào tâm khảm của mỗi con người và tỏa sáng trong những áng
thơ văn:
"Hôm qua tát nước đầu đình
Để quên chiếc ỏo trờn cành hoa sen…"
Trong những ngụi đỡnh làng Việt, điờu khắc, trang trí là một phần rất
quan trọng, nó làm tăng giá trị của mỗi công trình kiến trúc dân gian truyền
thống. Trong dòng chảy chung của nền mỹ thuật Việt đậm chất dân dã, mỗi
giai đoạn lịch sử, mỗi đề tài trang trí lại để lại một dấu ấn riêng.
Nhưng phải chăng điêu khắc đình làng đang bị lãng quên? Qua một
thời gian dài trong đời sống mĩ thuật của chúng ta, không khí ngạc nhiên, vồ
vập trong cỏc phũng triển lãm điêu khắc cổ xưa phải chăng là vì lẽ đó. Ta
hiểu đây là chuyện thường xảy ra đối với những cá tính nghệ thuật mạnh mẽ,
những cá tính thà tạm bị lãng quên chứ không chịu hòa lẫn với mọi thời. Điêu
khắc đình làng mang cái tinh thần như thế. Trong điêu khắc đình làng, hình
ảnh con người là trung tâm, mang cái hồn của người dân Việt. Và cỏi khỏc ở
đây lại chính là cái chất bình dân, bộc bạch, nô đùa,nhạo báng, khinh bỉ, vừa
hóm lại vừa thụ…Mĩ thuật Việt Nam trước kia hầu như nằm gọn trong tay
một nhóm người nước ngoài ở viện nghiên cứu Viễn đông của Phỏp.Và hầu
hết họ mang nhận thức tiêu cực và bảo thủ trong nhận thức nghệ thuật, theo
cái nghĩa kìm hãm lại những yếu tố chân chính và tiến bộ. Mà trong điêu
khắc đình làng, cụ thể là ở trong hình tượng con người lại luôn mang trong
mình yếu tố dân chủ và xã hội. Ở Pháp, cũng như ở Châu Âu bấy giờ nghệ
thuật Hi-La vẫn là thước đo của mọi nghệ thuật trên đời, nghệ thuật nào
không ướm vừa cái khuôn khổ cố định đú thỡ bị họ gạt ra ngoài. Dễ thương
không có thứ điêu khắc nao đáng chiêm ngưỡng ngoài điêu khắc Hi Lạp cổ
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội

Nội
2
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
B.NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Sự ra đời, bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam thế kỷ XVI, XVII
Điêu khắc đình làng Việt Nam là một di sản nghệ thuật bất hủ cùng với
thành tựu đáng tự hào về kiến trúc của tổ tiên ta.Trong suốt 4 thế kỷ (XVI -
XIX) ngụi đình là sản phẩm thuần khiết gắn với văn hoá làng, hội tụ biểu
tượng cao độ về đời sống vật chất và tinh thần của làng. Giá trị bất hủ của nó
nằm ở thành tựu kiến trúc và điêu khắc Việt Nam, ở đú đã kế thừa và phát
triển cao, độc đáo nghệ thuật điêu khắc truyền thống.
Xuất phát từ nhu cầu nghệ thuật ngày càng cao của con người, đặc biệt
đình làng lại là nơi hội họp, tập trung của mọi người trong làng, những người
nghệ nhân dân gian đã tạo ra những bức chạm khắc nhằm trang trí cho ngụi
đỡnh. Phần lớn là hình tượng con người với những hoạt động đời thường vừa
nói lên thị hiếu thẩm mĩ, vừa nói lên mong ước, khát vọng của người dân lao
động. Theo các nhà nghiên cứu, đình làng có thể ra đời từ trong lòng xã hội
Lê sơ, song hình mẫu hoàn chỉnh đạt giá trị kiến trúc nghệ thuật và còn để lại
đến nay từ sớm nhất là thời Mạc mà nổi bật là đỡnh Tõy Đằng (Hà Tõy),
đỡnh Lỗ Hạnh (Bắc Giang). Khoảng chuyển của 2 thế kỷ XV - XVII cú đình
Phù Lưu (Bắc Ninh) và nở rộ đạt tới đỉnh cao ở cuối thế kỷ XVII, tiêu biểu
với cỏc đỡnh: Phự
Lão, Thổ Hà (Bắc Giang); Diềm (Bắc Ninh); Chu Quyến, Võn Đỡnh
(Hà Tây); Thổ Tang, Ngọc Canh (Vĩnh Phúc); Xốm (Phú Thọ); Hương Lộc
(Nam Định); Chẩy (Hà Nam); Trà Cổ (Quảng Ninh); Kiền Bái (Hải Phòng)
Sang thế kỷ XVIII - XIX đình làng xây dựng thưa thớt hơn, song cũng cú
đỡnh được xây mới ở Thạch Lỗi (Hải Dương), Hồi Quan, Đình Bảng (Bắc

Đối với họ, đề tài nghệ thuật phải là những đề tài cao quý chốn cung đình,
tôn giáo, thần thoại. Phải là bút pháp gia trưởng, chính thống của nghệ thuật
“đàn anh”. Phải là thứ trật tự bình ổn, cố định, không đột biến, không hăng
say,vì đối với họ đột biến và hăng say có thể là hiệu cũi bỏo đọng đáng sợ ở
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
4
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
một chỗ khác, ở chỗ quyền thống trị xã hội do họ cầm đầu bị xúc phạm. Vì
thế mà họ rất giống phong kiến Việt Nam ở chỗ không chịu nổi chất bình
dân, nô đùa ở những bức chạm khắc về con người ở đình làng, những bức
tắm sen, trai gái vui đựa…Hơn nữa cái họ không chấp nhận được không chỉ
là đề tài mà còn là ở cái lối tạo hình bướng bỉnh, ngang phè, là phi cổ điển,
phi Hi-La
Một số tác giả Việt Nam, khi viết về nghệ thuật nước nhà, ban đầu chỉ
thích ở chùa Tây Phương, Bút Tháp với những bức tượng quan âm ít nhiều đã
mang sẵn những thông tin thẩm mỹ quen thuộc. Bởi nếu đến với hỡnh ảnh
con người ở điêu khắc đình làng, họ buộc lòng phải coi thường những phép
tắc quyền quý của khoa học, lối diễn tả lịch thiệp của nhà trường, phải hạ
thấp những “tỉ lệ kinh điển”, “đường trục”, “thấu thị”…vốn là sản phẩm của
đầu óc duy lý kiểu Châu Âu.
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
5
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
CHƯƠNG 2
NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI HÌNH TƯỢNG CON
NGƯỜI TRONG ĐIÊU KHẮC, TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG VIỆT Nam
Có hiểu được những cảnh sinh hoạt trong thôn làng Việt Nam ngày
xưa và có thấy được những công việc làm ăn của nhà nông thì mới thấu hiểu

rồng, phượng, hạc”, “tỏng mả Hàm Rồng” “Người cưỡi hổ”. Nhưng ngay cả
những đề tài mang tính chất chính thống cũng được dân gian hóa. Hình tượng
tiên hay rồng đều được thể hiện theo suy nghĩ, cách cảm của người dân lao
động, tất cả trở nên bình thường, gần gũi và hòa vào trong cuộc sống của
người dân lao động (Hình (1)).Hãy xem hình tượng cụ tiờn, nhân vật thường
xuất hiện trong huyền thoại và chuyện cổ tích, nếu các tiên nữ dược chạm nổi
chẳng hạn trờn cỏn bia đá chùa Keo (Nam Định) hoặc trên bức cốn gỗ chựa
Thỏi Lạc (Hưng Yên) là những công nương đĩnh đạc thì nàng tiên trờn vỏn
nong hay lỏ giú ở đình làng, dự cú cưỡi rồng cũng sẵn sàng hở vai,mặc yếm
sơ sài như gỏi quờ trần tục xốc vác, nhiều cô không quên đeo theo một túi
nhỏ đựng trầu cau (đình Hưng Lộc, Ngọc Than). Có điều là theo truyền
thuyết xa xưa, dân tộc Việt Nam vốn thuộc dòng dõi “con rồng chỏu tiờn”
nờn sự hiện diện thưa thớt của tiên ở đây xem ra cũng bí ẩn. So với hình rồng
có mặt khắp nơi khắp chốn, hình tượng cụ Tiờn chuyển từ những công nương
diêm dúa, tế nhị sang những vũ nữ ăn mặc bình dân, họa hoãn lắm mới bắt
gặp những nàng tiên Việt Nam có cánh
1.2 Cách khắc họa:
Về cách khắc họa hình tượng con người mang yếu tố thần thoại nổi bật
với những hình tượng vũ nữ thiên thần có cánh và không có cánh, ở vị trí vỏn
giú cánh gà thường chạm chính diện với khuôn mặt trái xoan, mũi thấp, môi
mỏng, cổ cao thanh tú, đôi khi thể hiện rõ cả 3 ngấn (Đình Diềm – Bắc
Ninh). Có khi tượng vũ nữ lại có những đặc điểm chung là ngực nở bụng
thon, cánh tay dài với những ngón tay búp măng mềm mại.(Hình 2). Trong
đình, tượng tạc hỡnh tiờn cũng thường nhỏ chỉ cao vài gang tay được ghộp
lờn mấy cầu kiệm kiến trúc trên cao (như ở Tây Đằng). Tiên cũng được chạm
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
7
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
ghép vào các bố cục khác trong tư thế cưỡi rồng, đứng trên đầu rồng(đình

8
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
điểm: người thấp, đậm, mặt tròn, mũi to, sống mũi thấp, môi dày, mắt to…
Cũng có một vài mảng chạm người đàn ông có vóc dáng khá cao lớn, mũi
cao, và đặc biệt dựa vào trang phục (áo dài, chân đi ủng, đầu đội mũ phớt
rộng vành ), có thể đó là những người phương Tây đến nước ta buôn bán
trong giai đoạn này; Những bức chạm mô tả người đàn ông trong các cảnh
đấu vật, đi săn, táng mả hàm rồng thường có thân hình vạm vỡ, ngực nở,
đôi khi các cơ bắp được phóng đại lên quá mức. Nhìn chung, hình tượng con
người trong điêu khắc kiến trúc đình làng thế kỷ XVII thường có tỷ lệ giữa
đầu và thân mang tính ước lệ, chỉ bằng 1/3. Ở đỡnh Tõy Đằng (Hà Tây) để
diễn tả đời sống thường nhật, có cảnh chèo thuyền hái hoa, chèo thuyền uống
rượu, làm xiếc, gánh con, nhổ cây đẽo gỗ, đõm thỳ Ở chựa Cúi cú cảnh dắt
ngựa, cưỡi hổ báo Tất cả đều biểu hiện giá trị điêu khắc đậm nét với các
khối được diễn tả no căng, hình thức giản dị, khái quát cao. Ý nghĩa của đề
tài, động tác và nghệ thuật đã vượt qua những phi lý của hình thể mang tính
cách điệu nghệ thuật cao. Quan điểm tạo hình dân gian ấy cũng được thể hiện
rõ nét qua tác phẩm “Đánh cờ” – đình Ngọc Canh, với bàn cờ hình vuông,
bốn người đánh cờ ngồi bốn góc và đều quay ra ngoài. Người gần thì nhỏ,
người xa nhất lại dược diễn tả với tỉ lệ lớn nhất. (Hình 7). Trong hoạt cảnh
của đời sống xã hội đã mang hình thức tượng trưng với tỉ lệ không theo
chuẩn mực có sẵn, tuy vậy vẫn thể hiện được bố cục sống động. Cách chạm
tự nhiên thoải mái, rõ ràng đã tạo được một phong cách, không biểu lộ bài
bản định sẵn mà vẫn giàu hơi thở cuộc sống (Hình 8).
Hãy tìm hiểu kĩ một số bức chạm tiêu biểu về đề tài này để thấy được
giá trị nội dung cũng như nghệ thuật mà tác giả dân gian dã gửi gắm vào đó.
Bức “uống rượu ở đình Ngọc Canh thể hiện cuộc rượu với một tinh thần nho
nhã.Đường nét mềm mại, hình khối nhẹ nhàng. Toàn bộ tác phẩm được bố
cục chặt chẽ trong hình chữ nhật, hai bên chạm hai hình giống như bông hoa
sen càng gợi cho người xem về tinh thần nhẹ nhàng, thanh tao của cuộc rượu.

cảm đằm thắm của con người với con người, con người với thiên nhiên,
muông thú. Đặc biệt, hình tượng người phụ nữ được thể hiện khá phong phú.
Tư tưởng Nho giáo coi phụ nữ là “phụ nhân nan húa”, “thập nữ viết vụ”;
phong bế dục vọng, nam nữ “thụ thụ bất thõn” thỡ trong điêu khắc đình
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
10
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
làng các người nghệ sĩ nông dân công khai bộc lộ dục vọng, lạc thú của con
người, miêu tả một cách hiện thực cảnh trai gái tình tự, giao hoan, cảnh phụ
nữ khỏa thân, tắm đầm sen như ở đỡnh Đụng Viờn (Ba Vì, Hà Tõy), đỡnh
Đại Phùng (Hoài Đức, Hà Tõy), đỡnh Phự Lóo (Lạng Giang, Bắc Giang)
(Hình 11). Có thể nói, đề tài tình cảm của điêu khắc trang trí đình làng đã
hướng về con người, thể hiện những nhu cầu sống, những khát vọng, ước mơ
về một cuộc sống no đủ, lạc thú, hạnh phúc và thanh bình của những người
nông dân chất phác mộc mạc, yêu đời Đường nét chạm khắc thô mộc, tạo
khối khoẻ nhưng cũng không kém phần tinh tế. Những bức chạm tả cảnh sinh
hoạt của người dân, ngay cạnh những hoạt động bình thường cũng xuất hiện
hình ảnh nam nữ vui đùa múa hát với nhau. (Hình 12). Có lẽ các nghệ nhân
thời này đã kế thừa được tính hùng hậu, đơn giản, thượng võ mà thời Trần để
lại khi xây dựng hình tượng các tráng đinh cựng cỏc cô thôn nữ vui đùa ca
múa. Đồng thời ẩn hiện đâu đó lại phảng phất hình tượng của các vũ nữ
apsaga, ngực trần với các vũ điệu làm say lòng người.
Nhưng phải đến các bức chạm ở đỡnh Phự Lóo (Bắc Giang) mới thấy
được tính chất tự do, táo bạo trong cách xây dựng hỡnh tượng.Trờn đầu bẩy
ngay gian chính giữa, có bức chạm cô gái khoả thân ngồi trờn rõu rồng tết
tóc, ngoảnh đầu xem đôi trai gái múa quạt, xa xa hơn nữa là cảnh một đôi
nam nữ đang đạt đến cực khoái.Theo ước tính các bức chạm khắc có cảnh
tình tự này chiếm hơn ba phần tư hoạt cảnh ở đỡnh Phự Lóo. Âm và Dương
là 2 yếu tố được hiểu cho giống cái và giống đực mà cụ thể là cô gái và chàng

nho hủ lậu đương thời với quan niệm”Nam nữ thụ thụ bất thõn”. Đồng thời ở
đây ta còn thấy sự tiến bộ trong quan niệm của con người về hình ảnh người
phụ nữ.Với quan niệm ”trọng nam khinh nữ” của nho giáo đã ăn sâu vào tâm
tưởng của người Việt thì người ta lại cú cõu”tam nam bất phú, tứ nữ bất bần”
hay“ba đồng một mớ đàn ông –Ta bỏ vào lồng ta xách đi chơi-Ba trăm một
mụ đàn bà-Mang về mà trải chiếu hoa mà ngồi”.Hình tượng con người trong
điêu khắc đình làng đã làm hình ảnh người phụ nữ: người bà, người mẹ,
người vợ,…ngày càng được tôn vinh. Tầm thức cùng tín ngưỡng phồn thực
cổ như đã nói ở trên của cư dân lúa nước như chiếc phin lọc, gạn lọc những
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
12
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
cái gì tinh tuý cho mình, gạn bỏ những gì khắc nghiệt để rồi dung hợp tạo ra
một giá trị đích thực cho văn hoỏ đỡnh làng.
Điển hình cho những tác phẩm về đề tài tình cảm là bức chạm “trai gái
vui đựa” ở đình Hưng Lộc – Nam Định.(Hình 13). Tác phẩm thể hiện bốn
nhân vật với bốn trạng thái tình cảm khác nhau. Cùng là cười nhưng ở hai
nhân vật nam mỗi người một nét cười không giống nhau. Người thì cười
thoải mái, người lại tủm tỉm, thể hiện sự tình tứ mãn nguyện. Hai cô gái ưu
tư, sâu lắng song cũng được các nghệ nhân diễn tả mỗi người một vẻ. Tất cả
được bố cục thành một nhóm có nhân vật chính, phụ,có bối cảnh tạo vẻ sinh
động cho tác phẩm. Dáng người của bốn nhân vật thay đổi góp phần thể hiện
tâm trạng của từng người. Đường nét thoải mái, phúng khoáng. Khối hình
đơn giản không cốt giống mà sống động, tươi mát, hồn nhiên. Tác phẩm bộc
lộ khát vọng yêu thương tự nhiên của con người.
Như vậy có thể thấy rằng hình tượng trai gái giao duyờn đúng một vai
trò quan trọng trong ý thức hệ của người Việt –cỏc cư dân của nền văn minh
lúa nước nhất là trong các công trình kiến trúc điêu khắc cổ.Nú cho thấy kết
quả của sự dung hợp của cái vốn có, của văn hoá Phật giáo, văn hoá Nho

nhưng vẫn đảm bảo sự vững chắc của bề mặt tác phẩm. Tuy nhiờn cú nột rất
riêng của Việt Nam không lệ thuộc vào công thức, khuôn sáo, tư duy được
phát huy cao độ trong mọi khía cạnh. Bằng phương pháp tạo hình độc đáo,
giống như người nghệ sĩ Tõy Nguyờn, nhà điêu khắc của trang trí đình làng
Bắc Bộ không bị bó buộc vào những cơ sở tạo hình như người phương Tây.
Không quan tâm đến khoa học giải phẫu, bằng cách xây dựng hình thể "phi tỷ
lệ", thậm chí còn được cường điệu hóa, có khi đầu rất to hoặc cánh tay rất
dài nhưng tất cả lại hài hòa trong tính biểu cảm của hình ảnh, đó là trạng
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
14
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
thái, là cảm giác mà người nghệ sĩ dân gian muốn tác động đến người xem.
Có thể coi điêu khắc đình làng mang đậm chất Ba-rốc là ở chỗ đó, ở chất hiện
thực, biểu cảm và sinh động.
Người lao động Việt Nam và đặc biệt là các nghệ sĩ làng đó phỏ tung
cái kỷ cương phong kiến nghiệt ngã để tự trang bị cho mình một hào quang
đạo lý đầy tình thương, lòng nhân từ biểu hiện tâm hồn dân tộc “Phộp vua
thua lệ làng” nên những ngụi đỡnh làng còn để lại cho hậu thế nhiều hình
mẫu nghệ thuật, đề tài mang phong vị dân gian tươi trẻ, hóm hỉnh giàu nhân
ái, đặc biệt hơn cả là hình ảnh con người. Mặt khác, căn cứ vào cấu trúc tạo
hình, vào cách dựng đường viền cởi mở, cách dàn bố cục từ nhiều điểm mắt,
dụng ý vứt bỏ đăng đối để diễn bằng những nhịp lệch…cú phải chăng điêu
khắc đình làng đã hiểu thấu những luật lệ và kỹ sảo của phép tạo hình cổ điển
thời Lý, nhưng lai “cố tỡnh” vượt qua nó,để dùng một ngữ pháp lật ngược,
ngang tắt, năng động như cách nói trong dân gian.Tất cả đều mang bản sắc
Việt Nam truyền thống. Hình chạm không cầu kỳ nhưng đầy sức sống. Dáng
vẻ cốt cách tâm hồn của người Việt chuyển động, tàng ẩn trong từng nét
chạm đục mạnh mẽ và tinh tế (Hình 14).
Ở phương Tây, từ nghệ thuật Phục hưng đến nghệ thuật hiện đại là cả

quan quân cướp bóc của dân (đình Liên Hiệp). Hoặc nữa, con gái ngồi hớ
hênh trên đầu rồng- mà ai cũng biết rồng là biểu tượng của vua chúa(đỡnh
Phự Lóo- Bắc Giang) Cảnh sinh hoạt trong dõn cú trai gái cợt nhả lộ liễu
(đình Hưng Lộc), phụ nữ tắm (đỡnh Đụng Viờn),nhóm đánh cờ (đình Ngọc
Canh)…Nhóm tượng hết sức độc đáo ở đình Cự Trữ - Nam Định diễn tả
hang chục nhân vật với một con hổ trong tư thế hân hoan,hứng khởi.(Hình
(15)) Có thể đây là niềm vui giải oan mà nhân vật chính chắp tay đúng giữa-
là nàng Thị Kính trong tích truyện dân gian cuối cùng được minh oan. Thị
Kính mỉm cười chia sẻ niềm vui với bà con làng nước làm con thú dữ cũng
vui lây.
Thông qua tính hiện thực của đề tài, điêu khắc trang trí đình làng Việt
thế kỷ XVII còn thể hiện tính đấu tranh sâu sắc. Dưới chế độ phụ quyền Nho
giáo, người phụ nữ bị khinh miệt, coi rẻ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vụ”,
“phụ nhân nan hoỏ”) Vì vậy, người phụ nữ không được tới đình làng. Vậy
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
16
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
nhưng điêu khắc đình làng lại dày đặc hình ảnh người phụ nữ. Họ tự do thể
hiện tình yêu với chồng, với con, với bạn bè; tự do vui đùa, ca hát Có thể
núi, khụng ở một công trình kiến trúc dân gian nào hình tượng con người lại
được đề cao, khát vọng yêu đương lại được bộc lộ mạnh mẽ như ở ngôi
đình làng Việt.
Tóm lại, dù phản ánh hiện thực cuộc sống hay phản ánh ước mơ, khát
vọng của người nông dân đương thời thì những tác phẩm điêu khắc trang trí
đó vẫn mang đậm tính dân gian, dân dã. Người thợ chạm khắc gỗ thế kỷ XVI,
XVII đã tự vượt ra khỏi khuôn khổ gò bó để tạo nên những tác phẩm sinh
động, cởi mở. Chỉ với vài nét đục, vài đường chạm sơ phác nhưng những tác
phẩm điêu khắc đú đó trở nên có hồn, vô cùng sống động. Hơn thế nữa các đề
tài thể hiện lại vô cùng phong phú, cho thấy đời sống và sinh hoạt của người

mới, thậm chí còn rất mới vì ta chưa hiểu thấu đỏo - nú chứa đựng nhiều
ẩn số và vì thế nú luụn mới, đến mức làm ta ngạc nhiên. Nú cũn có tác
dụng rất nhiều cho cuộc sống hôm nay - nghệ thuật điêu khắc truyền thống
là một vấn đề như thế mà sáng tác hiện nay chưa khám phá hết để nghệ
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
18
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
thuật nối liền mạch từ xưa đến hiện tại. Dân tộc và hiện đại là cái hồn của
nghệ thuật đương đại. Việc nghiên cứu này thật là cần thiết. Nghệ thuật
Việt Nam từ cái bản sắc dân tộc mà sáng tạo, hòa nhập, đổi mới và phát
triển. Tiếp thu có chọn lọc là sức mạnh của bản sắc dân tộc. Đó là bài học
quý giá của nghệ thuật để phát triển tới đỉnh cao…
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
19
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Tiếp xúc với nghệ thuật” (Thỏi Bỏ Võn)
2. “Lịch sử mĩ thuật Việt Nam” (Phạm Thị Chỉnh)
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
20
Bài học phần Vũ Thị Kim Ngân
MỤC LỤC
Trang
Líp: K56 - SP Mỹ thuật Trường ĐHSP Hà
Nội
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status