ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH
ĐÀ O THI ̣ THÚY
BÀ I GIẢNG
LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN GDCD Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(LƯU HÀNH NỘI BỘ)
Hà Tĩnh, năm 2017
1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG BÀI GIẢNG
1.
GV
: Giáo viên
2.
GDCD
: Giáo dục công dân
3.
HS
: Phương pháp trực quan
9.
PPTLN
: Phương pháp thảo luâ ̣n nhóm
10.
QL
: Quy luâ ̣t
11.
QHSX
: Quan hê ̣ sản xuấ t
12.
SVHT
: Sự vâ ̣t hiêṇ tươ ̣ng
13.
THPT
Chương 3. CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG
DÂN TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG .............................. 29
3.1. Một số vấn đề chung về phương pháp dạy học ........................................... 29
3.1.1. Khái niệm phương pháp dạy học .............................................................. 29
3.1.2. Cấu trúc của phương pháp da ̣y ho ̣c ........... Error! Bookmark not defined.
3
3.1.3. Phân loại phương pháp dạy học ................................................................ 30
3.2. Các phương pháp dạy học môn Giáo du ̣c công dân ..................................... 31
3.2.1. Phương pháp thuyết trình .......................................................................... 31
3.2.2. Phương pháp vấn đáp (đàm thoại) ............................................................ 34
3.2.3. Phương pháp trực quan (PPTQ) ................................................................ 35
3.2.4. Phương pháp nêu vấn đề ........................................................................... 39
3.2.5. Phương pháp thảo luận nhóm (PPTLN) .................................................... 41
3.2.6. Phương pháp đóng vai ............................................................................... 45
3.3.7. Phương pháp động não .............................................................................. 47
3.3.8. Phương pháp trò chơi ................................................................................ 48
3.2.9. Phương pháp dự án .................................................................................... 50
3.2.10. Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (phương pháp xử lí tình
huống) .................................................................................................................. 53
3.3. Phương pháp kiể m tra, đánh giá trong da ̣y ho ̣c môn GDCD ....................... 55
3.3.1. Khái niê ̣m kiể m tra, đánh giá trong da ̣y ho ̣c ............................................. 55
3.3.2. Hiǹ h thức kiể m tra, đánh giá kế t quả ho ̣c tâ ̣p môn Giáo du ̣c công dân bằ ng
trắ c nghiê ̣m khách quan hiêṇ nay ........................................................................ 56
Chương 4. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CÁC KHÁI NIỆM, PHẠM TRÙ,
NGUYÊN LÝ, QUI LUẬT TRONG MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN........ 61
4.1. Đặc điểm chung của các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, qui luật trong môn
GDCD .................................................................................................................. 61
4.1.1. Vị trí, vai trò của các khái niệm, phạm trù, nguyên lí, quy luật trong môn
6.2. Một số hình thức tổ chức dạy học khác trong dạy học môn GDCD ............ 95
6.2.1. Thảo luận lớp (thảo luận tập thể) .............................................................. 95
6.1.2. Thực hành môn học ................................................................................... 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 101
5
CHƯƠNG 1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
BỘ MÔN LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN GIÁO
DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Đối tượng, nhiệm vụ của bộ môn lí luận và phương pháp dạy học
môn Giáo dục công dân
1.1.1. Những cơ sở của phương pháp dạy học Giáo dục công dân
* Cơ sở lí luận
Phải xác định phương pháp dạy học GDCD là một khoa học. Môn phương
pháp dạy học GDCD trở thành một khoa học khi đạt được những tiêu chí nhất
định:
Thứ nhất, phải có đối tượng nghiên cứu, tức là hiện tượng khách quan mà
người nghiên cứu tác động và tìm hiểu. Mỗi khoa học có đối tượng nghiên cứu
riêng, không có đối tượng nghiên cứu sẽ không có khoa học.
Thứ hai, có hệ thống lí thuyết gồm những khái niệm, phạm trù, quy luật,
bao gồm lí thuyết của một khoa học chung, lí thuyết riêng của các khoa học
chuyên ngành.
Thứ ba, có phương pháp luận riêng được xây dựng trên cơ sở thế giới quan,
nhân sinh quan của một giai cấp nhất định.
Thứ tư, có chức năng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu riêng.
Bản chất của dạy và học là quá trình giảng dạy của giáo viên và học tập
của học sinh. Đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội, điều khiển và tự điều khiển để
đề cập, trực tiếp giải quyết những vấn đề chính trị, tư tưởng của giai cấp công
nhân, của Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp xác lập củng cố định hướng xã hội
chủ nghĩa cho học sinh. Môn GDCD trong toàn bộ nội dung của nó từ lớp 10
đến lớp 12, trước hết tập trung vào việc xây dựng cho học sinh phổ thông thế
giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản và phương pháp luận khoa học
đúng đắn bằng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau. Tất cả đều làm cho học
sinh có quan niệm, niềm tin Triết học làm nền tảng cho thế giới quan. Từ đó học
sinh có định hướng đúng đắn trong hoạt động thực tiễn, giải quyết đúng các mối
liên hệ của bản thân, với cộng đồng trên các lĩnh vực, các phạm vi khác nhau.
Cùng với việc hình thành thế giới quan một cách trực tiếp, môn GDCD giúp HS
trả lới một cách khoa học, đúng đắn câu hỏi: Sống để làm gì ? Sống thế như thế
nào cho xứng đáng với vai trò, vị trí người công dân của nước Cộng hòa xa hội
2
chủ nghĩa Việt Nam. Tính định hướng chính trị còn thể hiện ở chỗ, môn GDCD
trực tiếp đề cập đến những vấn đề có tính đường lối, chính sách của Đảng cộng
sản Việt Nam. Đó là những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội nóng bỏng của đất
nước và thế giới. Với những phương pháp luận đã được trang bị, học sinh bước
đầu tìm hiểu, phân tích, đánh giá và tự rút ra kết luận cần thiết, đúng đắn. Mỗi
môn học trong nhà trường đều có nhiệm vụ xây dựng thế giới quan, nhân sinh
quan, phương pháp khoa học, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh.
Lợi thế hơn các môn học khác ở chỗ, môn GDCD thực hiện nhiệm vụ này một
cách trực tiếp. Đặc điểm này mở ra khả năng và trách nhiệm to lớn cho môn
GDCD.
Ba là, hệ thống tri thức môn GDCD mang tính tích hợp, chứa đựng nhiều
kiến thức của các môn khoa học khác nhau: Triết học, Kinh tế, Chính tri, Đạo
đức, Pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng
của Nhà nước Việt Nam và ở một mức độ nhất định còn chứa đựng cả kiến thức
của các môn khoa học tự nhiên. Tính tích hợp đặc trưng đó đòi hỏi bộ môn
bài dạy học. Bên cạnh đó khung phân phối chương trình mới của Bộ giáo dục và
Đào tạo đã thực hiện giảm tải một số nội dung, có bài không dạy, với mục đích
tăng thêm giờ thực hành và giờ ngoại khoá nhờ đó giáo viên có thể tận dụng
được thời gian để hướng dẫn học sinh viết các bài báo cáo chuyên đề thực tế về
tình hình của địa phương và đất nước. Song có một thực tế hiện nay là trong các
trường học, cấp học nói chung, trường THPT nói riêng, tình trạng vi phạm đạo
đức có xu hướng gia tăng, khiến dư luận xã hội xôn xao, không ít thầy cô lo
lắng, đó là nạn bạo lực học đường; tình trạng vô kỷ luật trong học tập; ý thức
thiếu tôn trọng giáo viên diễn ra ở nhiều nơi. Vì vậy nhiệm vụ giáo dục tư
tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh ở các trường học, cấp học, môn
học là rất cần thiết, trong đó môn GDCD là môn học giữ vai trò chủ chốt trong
việc giáo dục cho học sinh ý thức và hành vi của người công dân, góp phần hình
thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất và năng lực cầm thiết của công
dân trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Môn GDCD ở trường THPT được coi là môn học quan trọng nhất đối với
sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh, đồng thời môn học này cũng góp
phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đào tạo học sinh
thành những người lao động mới đáp ứng được những đòi hỏi của thời kì công
4
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của
thời đại. Vì thế môn GDCD cũng được xếp ngang hàng với các môn học khác
trong hệ thống các môn học ở trường THPT. Do vậy, ngày 28/9/2016, Bộ GDĐT đã công bố phương án thi THPT Quốc gia năm 2017, việc tổ chức thi 5 bài,
gồm 3 bài thi độc lập (Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ); 2 bài thi tổ hợp gồm khoa
học tự nhiên (Vật lí, Hoá học, Sinh học) và khoa học xã hội (Lịch sử, Địa lí,
Giáo dục công dân). Việc đưa môn GDCD vào tổ hợp bài thi Khoa học xã hội
trong kì thi THPT Quốc gia để xét tốt nghiệp THPT và có thể tham gia xét tuyển
Đại học, Cao đẳng, cho thấy Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khẳng định vị trí, tầm
quan trọng của môn GDCD cùng với các môn khoa học khác của bậc THPT.
GV, phương pháp dạy ho ̣c GDCD phải trả lời các cấ u hỏi như: GV cho ̣n những
phương pháp nào, ta ̣i sao la ̣i chọn chúng, GV tổ chức công việc chuẩ n bị bài ho ̣c
của ho ̣c sinh ra sao, kiể m tra kiế n thức như thế nào?
Hoạt động học tập của HS: Hoa ̣t đô ̣ng học tâ ̣p của HS là hoa ̣t đô ̣ng với đố i
tươ ̣ng, trong đó học sinh là chủ thể , nô ̣i dung ho ̣c là đố i tươ ̣ng. Ho ̣c là quá triǹ h
HS tích cực, tự giác chiế m lĩnh nô ̣i dung da ̣y học để hình thành, phát triể n nhân
cách dưới sự điều khiể n sư phạm của GV.
Trong ba nhân tố tham gia vào quá trình da ̣y ho ̣c: môn GDCD đươ ̣c cụ thể
hóa trong sách giáo khoa; giáo viên da ̣y môn GDCD; ho ̣c sinh học môn GDCD,
thì ho ̣c sinh và hoa ̣t đô ̣ng của HS là nhân tố quyế t đinh
̣ nhấ t. Do đó phương pháp
da ̣y ho ̣c GDCD phải xem xét HS tiếp nhận tài liêụ ho ̣c tâ ̣p như thế nào, làm viêc
ra sao, hoa ̣t đô ̣ng trí tuê ̣ diễn ra như thế nào?.
Có thể thấy, nắ m vững đố i tươ ̣ng nghiên cứu của môn phương pháp da ̣y
học GDCD sẽ giúp cho giáo viên da ̣y môn GDCD xác đinh
̣ đươ ̣c rõ ràng ranh
giới của phương pháp dạy ho ̣c bộ môn này với phương pháp da ̣y ho ̣c bộ môn
khác, biết kết hợp phương pháp da ̣y ho ̣c các bô ̣ môn khác với phương pháp da ̣y
học GDCD, có cơ sở để nâng cao chất lươ ̣ng dạy ho ̣c bô ̣ môn đồ ng thời góp
phầ n củng cố , nâng cao vi ̣ trí, vai trò của môn GDCD trong trường THPT và
trong toàn xã hô ̣i.
Với tư cách là mô ̣t khoa ho ̣c, phương pháp da ̣y học GDCD là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n
của khoa ho ̣c giáo du ̣c, nó không chỉ có quan hê ̣ chă ̣t che,̃ hữu cơ với môn
GDCD ở trường Trung ho ̣c phổ thông mà còn có quan hê ̣ chặt chẽ với các bô ̣
môn khác của Giáo du ̣c học, chủ yếu là Lí luâ ̣n da ̣y ho ̣c, Tâm lí ho ̣c, Lôgic ho ̣c,
Xã hô ̣i ho ̣c.
6
* Nhiệm vụ nghiên cứu
năng lập kế hoạch, thiết kế bài giảng; kĩ năng kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
của học sinh; kĩ năng sử dụng các phương tiện dạy học (đặc biệt là những
phương tiện hiện đại) và ứng dụng công nghệ thông tin; kĩ năng tổ chức hoạt
động ngoại khoá, kĩ năng phát hiện và giải quyết các vấn đề trong thực tiễn dạy
học môn GDCD.
Giáo dục tình cảm nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức của giáo viên: tinh thần
trách nhiệm, ý thức nghề nghiệp, ý thức làm việc độc lập một cách tự giác và
sấng tạo của giáo viên GDCD tương lai.
Hình thành năng lực tự học, tự đánh giá, tự đào tạo, tự xây dựng kế hoạch
phát triển nghề nghiệp của bản thân. Tăng cường khả năng thích ứng với những
thay đổi của chương trình và môn học.
Tóm lại, nhiệm vụ của PPDH GDCD là trang bị cho sinh viên những lí luận
khoa học về quá trình dạy học môn GDCD và những kĩ năng nghiệp vụ sư phạm
cần thiết nhằm bảo đảm thực hiện có hiệu quả việc giáo dưỡng, giáo dục và phát
triển cho học sinh THPT qua môn GDCD.
* Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận của phương pháp dạy học GDCD
Phương pháp da ̣y ho ̣c GDCD được xây dựng trên cơ sở thế giới quan,
phương pháp luận khoa học của một giai cấ p nhất đinh.
̣ Xuấ t phát từ nguyên tắ c:
Phương pháp dạy ho ̣c phải phù hơ ̣p với mu ̣c tiêu và nô ̣i dung da ̣y ho ̣c. Do đó
không chỉ nô ̣i dung da ̣y học mới mang tính giai cấ p, tính đảng mà phương pháp
da ̣y ho ̣c cũng phải mang tính giai cấ p.
Phương pháp da ̣y học mang tính giai cấ p thì phương pháp da ̣y ho ̣c GDCD
với tư cách là mô ̣t khoa học càng mang tính giai cấ p rõ rê ̣t. Bởi vì nế u không
đứng vững trên quan điể m, lâ ̣p trường, tư tưởng lí luận của giai cấ p này thì chắc
chắn sẽ rơi vào quan điểm lâ ̣p trường, tư tưởng, lí luâ ̣n của giai cấ p khác. Do đó
phương pháp luâ ̣n của phương pháp da ̣y ho ̣c GDCD chính là quan điể m lí luâ ̣n
tương đối có hệ thống các tri thức về thế giới quan, nhân sinh quan, những lí
luận chung mang tính chất phương pháp luận về tự nhiên, xã hội và con người.
Vì thế nội dung tri thức môn GDCD cũng được kết cấu từ các tri thức về Triết
học, kinh tế chính tri, chủ nghĩa xã hội khoa học, đạo đức, pháp luật, các chính
sách của Đảng và Nhà nước. Như vậy, mục tiêu môn học quyết định nội dung
môn học.
9
Quan hệ nội dung môn học với phương pháp dạy học của giáo viên, phương
tiện dạy học mà giáo viên sử dụng và hình thức tổ chức quá trình dạy học mà
giáo viên lựa chọn. Nội dung dạy học là yếu tố trực tiếp quy định phương pháp,
phương tiện và hình thức tổ chức dạy học. Phương pháp chỉ là hình thức biểu
hiện của nội dung, do đó nội dung quyết định. Xuất phát từ nội dung mà môn
GDCD cần có những phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học
cho phù hợp.
Quan hệ giữa đối tượng học tập, giáo viên và học sinh trong quá trình dạy
học. Quá trình dạy học là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố với vị trí và chức
năng khác nhau. Trong đó giáo viên với hoạt động dạy và học sinh với hoạt
động học là hai nhân tố trung tâm. Trong quá trình vận động phát triển mỗi yếu
tố đều phát huy tác dụng của mình. Các nhân tố khác như mục đích, nhiệm vụ,
nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học có hoàn thiện đến mức độ nào đi
nữa nếu không thông qua thầy và trò với hoạt động dạy và học thì cũng không
phát huy tác dụng thực tế. Hoặc ngược lại, nếu thầy, trò và hoạt động dạy học
không quán triệt được mục đích và nhiệm vụ dạy học, không nắm được nội dung
dạy học, không sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học ở mức độ cần
thiết thì hiệu quả tác dụng của các yếu tố này sẽ hạn chế rất nhiều, thậm chí có
thể mất tác dụng.
Như vậy, quá trình dạy học môn GDCD là hệ thống toàn vẹn, trong đó dưới
sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh sẽ tích cực tự giác chủ
liệu mà còn phải mở rộng tri thức qua nghiên cứu tài liệu của các môn khoa học
khác.
1.2.2. Yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành
Yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành là một trong những yêu cầu cơ bản
đối với người giáo viên giảng dạy môn GDCD ở trường THPT, tất cả những yêu
cầu này đều thuộc về nghiệp vụ sư phạm, đó là các nghiệp vụ như: phân tích
chương trình, thiết kế bài giảng, tổ chức dạy học, kiểm tra và đánh giá kết quả
học tập của học sinh.; kỹ năng nói, viết bảng, trình bày bảng, tư thế, tác phong
lên lớp của người giáo viên. Trong dạy học, ngôn ngữ sư phạm của người giáo
viên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc truyền thụ tri thức và tạo hứng thú học
tập cho học sinh, đặc biệt là môn GDCD.
11
Môn GDCD ở trường THPT là những tri thức gắn bó với đời sống thực tiễn
của con người và xã hội, nên giáo viên cần giúp cho học sinh biết vận dụng lí
thuyết để giải quyết những vấn đề thực tế liên quan đến cuộc sống của bản thân,
của gia đình và của xã hội. Thông qua vận dụng lí thuyết để giải quyết vấn đề
thực tiễn, giúp học sinh thấy rõ tác dụng thiết thực của tri thức môn GDCD đối
với bản thân, trên cơ sở đó kích thích hứng thú học tập, phát triển tư duy lô gic,
độc lập sáng tạo của học sinh. Tuy nghiên ngoài việc tri thức môn học gắn với
thực tiễn cuộc sống, thì tri thức môn GDCD còn có tính đặc thù là tính khái quát
và trừu tượng cao, nên trong dạy học giáo viên phải khi sử dụng ngôn ngữ đảm
bảo tính nghệ thuật, tính diễn cảm, tính rõ ràng, trong sáng, mạch lạc, nhất là khi
sử dụng từ vựng, ngữ âm, văn phong, cách đặt câu hỏi thì ngôn ngữ khi sử dụng
nên ngắn gọn, xúc tích, nhưng rõ ràng, giản dị và dễ hiểu, đảm bảo tính chính
xác khoa học nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh và học sinh hiểu
được chính xác nội dung bài học, nhờ đó người giáo viên sẽ truyền tải có hiệu
quả những tri thức cần thiết, cũng như hiệu quả của các phương pháp, phương
13
Chương 2. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG DẠY HỌC BỘ
MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
2.1. Quan niệm về nguyên tắc dạy học bộ môn Giáo dục công dân
Nguyên tắc theo tiếng la tinh « Pricipium » là tư tưởng chỉ đạo, quy tắc cơ
bản, yêu cầu cơ bản đối với hoạt động được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu bản
chất, quy luật của hoạt động đó.
Nguyên tắc được hiểu như là điểm chủ yếu đầu tiên, là điểm cơ bản, là
điểm xuất phát, là tiền đề của một lí luận nào đó. Trên cơ sở nguyên tắc này toàn
bộ lí luận được xây dựng theo một hệ thống xác định. Nguyên tắc chỉ đạo toàn
bộ quá trình xây dựng lí luận, và do đó chỉ đạo cả quá trình vận dụng lí luận vào
hoạt động thực tiễn của con người. Trong nguyên tắc bao gồm những yêu cầu
bắt buộc con người phải tuân theo, nếu tuân theo những yêu cầu bắt buộc đó thì
hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức của con người đạt hiệu quả cao.
Ngược lại nếu không tuân theo thì con người sẽ dễ phạm phải những sai lầm.
Nguyên tắc là những luận điểm có tính định hướng, được rút ra từ mục đích
công việc, từ những quy luật điều kiện khách quan cũng như kinh nghiệm hoạt
động thực tiễn. Nguyên tắc có giá trị chỉ dẫn các hoạt động có đông người tham
gia. Nguyên tắc bao giờ cũng mang tính khách quan, mặc dù nguyên tắc được
con người nêu ra khi khái quát kinh nghiệm hoạt động của mình nhưng nó
không phải là sản phẩm của tư duy thuần tuý, ý chí chủ quan của con người.
Nguyên tắc có thể được xây dựng trên cơ sở của một quy luật, và cũng có
thể được xây dựng trên cơ sở một tập hợp quy luật. Nhưng nguyên tắc và quy
luật không đồng nhất với nhau. Quy luật là vốn có của hiện thực khách quan,
biểu thị các mối liên hệ và quan hệ phổ biến, bản chất, bền vững của các sự vật
hiện tượng. Còn nguyên tắc chỉ tồn tại khi xác lập được mối liên hệ giữa chủ thể
và khách thể trong mọi quá trình hoạt động cụ thể nhất định nào đó.
luật nhận thức và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh nhằm thực hiện mục tiêu và
nhiệm vụ dạy học môn GDCD ở trường THPT.
Các nguyên tắc dạy học môn GDCD là những luận điểm cơ bản chỉ đạo
những hoạt động đang tồn tại và phát triển trong mối quan hệ chứng với nhau
của toàn bộ tiến trình dạy học môn GDCD ở Trường trung học phổ thông. Vì
vậy, không thể quan niệm rằng các nguyên tắc dạy học chỉ có tác dụng chỉ đạo
15
các hoạt động giảng dạy của giáo viên, hiểu như vậy sẽ cường điệu hoá vai trò
của giáo viên mà không thấy được vai trò của học sinh với tư cách là chủ thể
nhận thức, và là chủ thể hoạt động học tập.
Nguyên tắc dạy học là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình dạy học, đảm bảo
cho quấ trình dạy học môn GDCD đạt được mục tiêu. Do đó nhận thức và vận
dụng đúng đắn các nguyên tắc dạy học môn GDCD người GV mới có khả năng
đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy, hoàn thành tốt nhiệm vụ của môn GDCD
nói riêng và nhiệm vụ giáo dục nói chung.
2.1.2. Cơ sở để xây dựng các nguyên tắc dạy học môn Giáo dục công dân
Nguyên tắc dạy học GDCD được xây dựng trên cơ sở mục tiêu của quá
trình dạy học bộ môn ở trường Trung học phổ thông (THPH) là kết quả nhận
thức về các quy luật dạy học môn này ở THPT, do đó nó có cơ sở khách quan,
phản ánh những quy luật của quá trình dạy học môn GDCD ở THPT.
Nguyên tắc dạy học môn GDCD là ghiêng, chữ nhỏ, chữ in đậm, kênh hình để gợi ý phương
pháp học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy của giáo viên. Những dòng
chữ in nghiêng thường dùng để nhấn mạnh các kiến thức cần nhớ. Những dòng
chữ in nhỏ thường dùng để đặt câu hỏi dẫn dắt, cung cấp những thông tin, chú
thích những thuật ngữ, nội dung cần thiết trong bài.
Tài liệu tham khảo: Cung cấp những thông tin, tư liệu, địa chỉ các nguồn tư
liệu cần tham khảo giúp học sinh hiểu sâu hơn về bài học và bài tập.
Câu hỏi và bài tập: Mục tiêu của các câu hỏi và bài tập là giúp học sinh
nội dung nào có thể hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu ở nhà.
Xác định con dường dẫn dắt học sinh tiếp thu tri thức một cách tích cực,
năng động, lựa chọn phương pháp và phương tiện dạy học.
Xác định tiến trình dạy học với các bước: ổn định lớp, kiểm tra bài cũ, thực
hiện bài mới, củng cố bài học, hướng dẫn hoạt động nối tiếp.
Mẫu giáo án môn GDCD thường được thiết kế như sau:
Ngày………tháng……..năm…….
Tên bài giảng…………….
Tiết………..
76
I. Mục tiêu bài học
Học xong bài, HS cần đạt được các yêu cầu sau:
1. Kiến thức
2. Kỹ năng
3. Thái độ
II. Kiến thức trọng tâm
III. Phương pháp và hình thức dạy học
IV. Phương tiện dạy học (tư liệu, thiết bị dạy học)
V. Hoạt động dạy- học trên lớp (các bước lên lớp)
1. Ổn định tổ chức lớp;
2. Kiểm tra bài cũ;
3. Dạy bài mới
- Giới thiệu bài
- Tổ chức khai thác tri thức
Có nhiều hình thức trình bày một giáo án, GV có thể chọn một trong những
hình thức sau:
Hoạt động của giáo viên và học sinh
II- Kiến thức trọng tâm: Làm rõ nội dung cơ bản của thế giới quan duy
vật và phương pháp luận biện chứng.
* Tiết 1: Làm rõ nội dung:
Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của Triết học;
Thế giới quan duy vật – thế giới quan duy tâm;
III- Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học:
1. Phương pháp:
Kết hợp các phương pháp: Thảo luận nhóm, giảng giải, đàm thoại, nêu vấn
đề.
2. Hình thức tổ chức:
Đàm thoại kết hợp thảo luận nhóm.
IV- Phương tiện dạy học: SGK, SGV, một số bảng so sánh và phiếu học
tập để củng cố bài học.
V- Tiến trình bài học:
1. Ổn định tổ chức
2. Kiểm tra bài cũ
Kiểm tra sự chuẩn bị sách, vở của học sinh
3. Dạy bài mới
Giới thiệu bài mới:
GV: Đọc mẩu chuyện “Thần Trụ Trời”- sách giáo khoa
78