MỞ ĐẦU
Học phần Văn hóa các dân tộc thiểu số là môn học chuyên ngành không thể
thiếu đối với sinh viên ngành quản lý văn hóa. Học môn học này sẽ giúp cho sinh
viên ngành quản lý văn hóa nắm rõ kiến thức, hiểu rõ hơn về phong tục, tập quán,
tín ngưỡng của 54 dân tộc anh em cùng chung sống trên mảnh đất hình chữ S Việt
Nam. Việc tìm hiểu Văn hóa dân gian các Dân tộc thiểu số còn thể hiện đường lối
dân tộc và đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng ta, đó là bình đẳng dân tộc, phát
huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc
Việt Nam, nhằm góp phần vào việc xây dựng nền văn hoá văn nghệ Việt Nam
thống nhất và mang tính chất dân tộc phong phú. Văn kiện hội nghị lần thứ 5 BCH
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá 8) đã nêu rõ: “coi trọng và bảo tồn,
phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng phát triển những giá trị mới về
văn hoá văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số là một nhiệm vụ vô cùng
cấp bách”.
Là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, trong quá trình học tôi được
trang bị kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dân tộc thiểu số
như: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩn thực, hôn nhân, ma chay, tín ngưỡng, văn
nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội. Từ đó cho thấy mỗi dân tộc mỗi vùng miền
lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, giúp tôi hiểu được về đời sống vật chất
cũng như văn hóa tinh thần của người đồng bào các dân tộc thiểu số và đó cũng là
vốn nền tảng kiến thức để tôi tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dân
gian của dân tộc Cơ Lao.
Dân tộc Cơ Lao là một trong số các tộc người ít người nhất Việt Nam, được
di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam cách nay khoảng 100 – 200 năm, họ sống tập
chung ở tỉnh Hà Giang và được chia thành ba nhóm chính là Cơ Lao Đỏ, Cơ Lao
Xanh và Cơ Lao Trắng.
Hà Giang là quê hương khá lâu đời của dân tộc Cơ Lao, hoà chung bản sắc
văn hoá phong phú, đa dạng của cộng đồng 22 dân tộc anh em ở Hà Giang, dân tộc
Cơ Lao là một trong những dân tộc có nét đậm đà bản sắc riêng. Nguồn văn hoá
Tày, Dao, Nùng, La Chí, Pà Thẻn, Bố Y,…Trong đó người H’mông chiếm số
lượng đông nhất, đứng vị trí thứ hai sau người H’mông là dân tộc Tày. Trong đại
gia đình 22 dân tộc anh em sinh sống ở Hà Giang, không thể không kể đến dân tộc
Cơ Lao là một trong những dân tộc thiểu số ở nước ta cư trú và tập trung sống chủ
yếu ở tỉnh Hà Giang, là một trong những dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Ka- Đai.
Người Cơ Lao cư trú chủ yếu ở xã Sính Lủng, huyện Đồng Văn vùng núi đá phía
Bắc, gắn liền với địa hình cảnh quan có nhiều núi đá vôi, đá tai mèo, nhiều vách
núi hiểm trở ít sông suối và ở xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì vùng núi đất phía
Tây thuộc địa hình cảnh quan núi đất nhưng có độ dốc lớn, độ chia cắt mạnh và
cũng khá hiểm trở.
Ngoài các yếu tố địa hình, khí hậu, thuỷ văn có tính đại diện của Hà Giang,
hai huyện Đồng Văn và Hoàng Su Phì còn có đặc điểm tự nhiên rất khác biệt.
Chính sự khác biệt ấy đã tạo ra những cách thích ứng khác nhau giữa các nhóm Cơ
Lao. Huyện Đồng Văn mang những đặc điểm địa hình, khí hậu, thuỷ văn của vùng
núi đá sơn nguyên và là một trong những huyện có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt
nhất ở Hà Giang. Người Cơ Lao cư trú tập trung ở xã Sính Lủng, đây là xã nằm ở
phía Đông Bắc của Đồng Văn, giáp huyện Mèo Vạc. Nằm trọn trong vùng núi đá
tai mèo, cao vút. Toàn xã có 9 làng, trong đó có 2 làng Mã Chề và Cá Ha là địa bàn
cư trú của người Cơ Lao, 7 làng còn lại là của người H’mông. Còn ở huyện Hoàng
Su Phì thì người Cơ Lao cư trú tập trung ở xã Túng Sán
Túng Sán là một xã thuộc huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang, Việt Nam.
Phía Bắc giáp xã Lao Chải (Vị Xuyên), phía Đông giáp xã Cao Bồ và Thượng
Sơn (Vị Xuyên), phía Nam giáp xã Thượng Sơn (Vị Xuyên), xã Bản Nhùng, phía
Tây giáp xã Tân Tiến, xã Đản Ván.
Xã Túng Sán có diện tích 48,77 km², dân số năm 1999 là 2.316 người, mật
độ dân số đạt 48 người/km². Cư dân trong xã thuộc 6 dân tộc: Cơ Lao, H’mông,
Dao, Nùng, La Chí, Hoa, trong đó dân tộc Cơ Lao là chủ yếu. Những kết quả thống
kê dân số được công bố trong các thập niên cuối của thế kỷ XX cho thấy, dân số
tên tự gọi của mình. Những tài liệu đầu tiên đề cập đến dân tộc này, xuất hiện vào
những năm đầu thế kỷ XX là của các sĩ quan người Pháp như Lunet de
Lajonquiere và Bonifacy. Đến năm 1942 nhà ngôn ngữ học P.K. Benedict tiếp tục
nghiên cứu về ngôn ngữ Cơ Lao. Trong các tài liệu đó tên gọi và tên tự gọi của
người Cơ Lao được ghi lại không thống nhất. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn
Huy, cho đến giữa thập kỷ 40 của thế kỷ trước, người Cơ Lao tự nhận mình là Thư.
Người Cơ Lao ở Việt Nam có quan hệ tộc thuộc với dân tộc Ngật Lão ở Trung
Quốc. Nhà dân tộc học Trung Quốc Hoa Tây cho rằng, muộn lắm đến đời Hán ở
vùng Quý Châu, Tây Nam - Tứ Xuyên, Vân Nam đã có tổ tiên người Cơ Lao cư trú
và họ có tên gọi là người Lão, sau này phát triển thành tên gọi Cơ Lao. Đến đời
Đường, Tống (thế kỷ VII- thế kỷ XII) tên gọi đó được ghi là Ngật Lão. Về sau tên
Cơ Lao được phiên âm và viết theo những cách khác nhau như: Cách Liêu, Lát
Liêu, Ngật Liêu, Ngật Lão. Ngày nay được gọi là Ngật Lão. Ở Việt Nam, người Cơ
Lao được gọi theo âm Hán- Việt là Kel Lao từ những chữ Cách Liêu, Cách Lão sau
này đọc chệch từ Kel Lao thành Cơ Lao. Người Cơ Lao hiện đang sinh sống tại xã
Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì thì vẫn gọi dân tộc mình là Kê Lau theo phiên âm
Hán ngữ là Kưa Lảo tức Ngật Lão [1,Tr151]
Ở Trung Quốc, người Cơ Lao tự gọi là Quốc Lão hoặc Cách Lão.
Theo Nguyễn Văn Huy, mỗi nhóm Cơ Lao còn tự gọi tên theo nhóm và tên gọi thể
hiện rõ đặc trưng về y phục hay phong tục của mỗi nhóm, nhóm Cơ Lao Trắng tự
gọi là Tứ Đư pộ ộ (pộ ộ: trắng), nhóm Cơ Lao Xanh tự gọi là Ho Ki xí ngu (xí ngu:
xanh), nhóm Cơ Lao Đỏ tự gọi là Tứ Đư p’làn đày (p’làn đày: đỏ). Năm 1979,
Tổng cục thống kê ra Quyết định ngày 02 tháng 03 năm 1979 ban hành Danh mục
các thành phần dân tộc Việt Nam và dân tộc Cơ Lao xếp thứ tự số 47 trong danh
mục, như vậy tên gọi Cơ Lao là tên gọi chính thức của dân tộc này. Căn cứ vào các
tên tự gọi và tên gọi, các nhà Dân tộc học cũng gọi người Cơ Lao theo nhóm: Voa
đề là nhóm Cơ Lao Đỏ, Tứ Đư là nhóm Cơ Lao Trắng, Ho Ki là nhóm Cơ Lao
Xanh. Sở dĩ có tên gọi Cơ Lao Trắng vì theo phong tục của người Cơ Lao Trắng,
các nhà Dân tộc học đều cho rằng, người Cơ Lao bắt đầu có mặt ở Hà Giang
khoảng 120-125 năm, cách ngày nay, muộn hơn so với dân tộc Lô Lô và La Chí.
Bộ phận Cơ Lao ở Đồng Văn đến Việt Nam sớm hơn so với bộ phận Cơ Lao ở
Hoàng Su Phì. Nhóm Cơ Lao Đỏ ở Hoàng Su Phì thậm chí có mặt sau cả người
Nùng và người Hoa. Như vậy, quá trình di cư của các nhóm Cơ Lao vào Việt Nam
diễn ra làm nhiều đợt, thời gian di cư sớm nhất cách ngày nay khoảng 7 đến 8 đời.
Trong quá trình di cư các nhóm đã tách ra và cư trú ở nhiều địa phương khác nhau.
Mặc dù sinh sống ở cách xa nhau về mặt địa lý, và có một số khác biệt về ngôn
ngữ, phong tục tập quán, nhưng các nhóm Cơ Lao đều nhớ rất kỹ quê hương cổ
xưa của mình là ở Quý Châu (Trung Quốc). Có thể thấy rằng, người Cơ Lao là con
cháu của một cư dân cổ đại ở Trung Quốc, họ đã di cư vào Việt Nam vì nhiều lý do
khác nhau (loạn lạc, thiếu đất đai, bị Nhà nước phong kiến Trung Quốc bóc lột).
Dân tộc Cơ Lao là một thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, luôn
đoàn kết, kề vai sát cánh với các dân tộc khác trong công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
I.3.
Đặc điểm về đời sống văn hóa của người Cơ Lao ở Hoàng Su Phì,
Hà Giang
I.3.1. Văn hóa vật chất
Nhà ở
Người Cơ Lao sinh sống trong những ngôi nhà trệt trình tường, hoặc những
vách bằng ván gỗ, phiên nứa,..mái được lập bằng cỏ gianh, ngói máng, hay bằng
thân tể bổ đôi. Kết cấu thuộc dạng vì kèo, Kỹ thuật lắp giáp liên kết khung nhà của
họ: Mộng các loại, con xỏ, buột Nhà của người Cơ Lao có loại hai gian, loại ba
gian và bốn gian [A1, Tr37]
Trang phục
chung: về thừa kế, khai thác sản xuất, bảo vệ mùa màng, chăn nuôi khai thác
nguồn lợi từ thiên nhiên, an ninh trật tự, hôn nhân…
- Khi sinh đẻ người Cơ Lao kiêng kị rất nhiều thứ cho đền khi sản phụ tròn
tháng mới được ăn uống sinh hoạt bình thường.
- Phong tục của họ quy định những người cùng dòng họ tuyệt đối không thể
lấy nhau. Nhưng nếu người anh trai chết thì em trai có thể cưới chị dâu và cấm anh
trai chồng kết hôn với em dâu
- Trong cưới xin của người Cơ Lao có các nghi thức như: dạm hỏi, ăn hỏi, lễ
cưới và lễ lại mặt. Sau khi ăn hỏi khoảng 2-3 tháng thì họ sẽ làm lễ cưới.
- Trong tang mà của người Cơ Lao họ quan niệm có nhiều dạng chết: chết già,
chết bệnh, chết lành, chết xấu, chết đột ngột, chết đuối…Khi người thân tắc thở họ
lau rửa rồi mặc quần áo mới cho người chết, sau đó đi mời thầy cúng về làm lễ để
mang đi chôn cất [1,Tr162].
II. MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI CƠ
LAO VÀ GIÁ TRỊ CỦA NÓ TRONG KHO TẰNG VĂN HÓA DÂN
GIAN VIỆT NAM
II.1. Một số loại hình văn nghệ dân gian
II.1.1.Truyền thuyết
Hầu hết các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đều thừa nhận truyền thuyết có
chức năng và đặc trưng là phản ánh, nhận thức và lý giải lịch sử, chủ yếu hướng
vào các hiện tượng trong thế giới tự nhiên, vào các sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng
đại và những nhân vật nổi lên trong những sự kiện, những biến cố ấy. Truyền
thuyết có thể chia thành 3 tiểu loại: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết phong vật
và truyền thuyết địa danh, truyền thuyết là những truyện truyền miệng kể lại truyện
tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo
quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến của nó là khoa trương,
phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng yếu tố kỳ ảo, thần kỳ như cổ tích và thần
thoại.
họ về thời gian tổ chức cúng tế để các trưởng họ thông báo cho các gia đình chuẩn
bị lễ vật. Đây là một quy định bất thành văn nhưng khi tham gia cúng tế mỗi gia
đình trong làng đều góp từ 1 đến 2 kg gà hoặc thịt lợn, gạo, rượu,… Đến giờ cúng,
thầy cúng lấy tất cả các con vật làm đồ tế lễ để cúng sống, trong số lễ vật được hiến
tế, thầy cúng chọn lấy một con lợn khoảng 30 kg đem mổ sống, không cắt tiết,
không cạo lông để lấy ra bộ lòng và để cả con lợn cùng bộ lòng lên tàu lá chuối
rừng làm lễ vật cúng tế. Sau khi cúng xong, các lễ vật sống được đem đi làm lông
nấu chín, sắp ra mâm và tiếp tục cúng, để phù hộ cho họ có được mùa màng tốt
tươi, đời sống nhân dân được bình an, hạnh phúc. Giáo sư Đỗ Bình Trị đã giải
thích: “Truyền thuyết lịch sử không bao giờ tồn tại tách rời sự thờ cúng, nghi lễ,
phong tục. Nó được kể như để viện dẫn nhằm minh giải cho sự thờ cúng, cho nghi
lễ, tín ngưỡng, phong tục... Các nhân vật trung tâm của truyền thuyết lịch sử đều
được thờ cúng hoặc ở quê quán, hoặc ở nơi ghi lại dấu tích chiến công…và trở
thành thành hoàng của một làng xã” [A5,tr.115].
Ở Hoàng Su Phì, người Cơ Lao Đỏ vẫn lưu truyền cho con cháu nghe
truyền thuyết nói về Việc cưới xin trước đây của người Cơ Lao Đỏ, theo tập quán,
các cô gái muốn đi lấy chồng phải sau 3 năm mới được tổ chức lễ cưới, kể từ ngày
làm lễ ăn hỏi. Trong thời gian 3 năm đó, dưới sự hướng dẫn của người mẹ, sự giám
sát của người bố, con gái phải dệt được một chiếc váy đẹp bằng lông cừu để làm cơ
sở đánh giá tài năng trong ngày cưới. Người Cơ Lao Đỏ quy định rằng, váy được
gọi là đẹp thì phải cứng, nếu đặt xuống đất hoặc ném ra xa vẫn không bị đổ. Và
đây là tiêu chuẩn để xác định tài năng của cô dâu. Đúng hôm cưới, khi đã có mặt
nhiều người để chứng kiến, đại diện nhà trai mở chiếc váy do chính cô dâu tự làm
và kéo thành ống rồi ném từ trên gác ném xuống nền nhà. Nếu thấy chiếc váy đó
vẫn dựng đứng, cô dâu được đánh giá là chăm chỉ, cẩn thận, giỏi giang trong mọi
công việc. Trường hợp sau khi ném, thấy váy bị đổ, cô dâu và bố (mẹ) của cô dâu
được đánh giá là chưa thật sự giỏi giang, thậm chí còn bị đánh giá thấp về vai trò
của cha mẹ trong việc chỉ bảo, dạy dỗ con gái.
Lao Đỏ có tập quán tổ chức lễ cúng ma tổ tiên nuôi lợn (gọi là ma lợn). Nghi lễ
này gắn liền với truyền thuyết kể rằng: Xưa kia, người Hán đuổi con lợn bắt để giết
thịt, họ đuổi mãi, con lợn chạy sang làng của người Cơ Lao Đỏ. Cùng đường, con
lợn chạy vào buồng một gia đình Cơ Lao Đỏ, được người Cơ Lao Đỏ che chở, con
lợn thoát chết. Từ đó, trở thành ma lợn làm nhiệm vụ phù hộ cho người Cơ Lao Đỏ
nuôi lợn và làm ăn sinh sống ngày càng phát đạt. Bởi vậy, người Cơ Lao Đỏ có tập
quán dựng bàn thờ ở trong buồng ngủ của chủ nhà để thờ cúng các loại ma buồng,
trong đó có ma lợn. Nội dung bài cúng chủ yếu nhằm tạ ơn ma lợn đã phù hộ, giúp
đỡ việc chăn nuôi của họ được thuận buồm xuôi gió, không có dịch bệnh. Đồng
thời cũng thỉnh cầu con ma lợn tiếp tục phù hộ cho gia đình để khi nào có lợn thịt
tết lại cúng tạ ơn. Người Cơ Lao Đỏ cho rằng, nếu thiết đãi khách bằng các lễ vật
cúng, gia đình làm ăn sẽ không phát đạt, chăn nuôi gia súc và gia cầm sẽ gặp nhiều
khó khăn. Như vậy, truyền thuyết là nơi lưu giữ những phong tục, tín ngưỡng
riêng, độc đáo nhất của người Cơ Lao Đỏ
II.1.2.Truyện cổ tích
Cũng như thể loại truyền thuyết, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những quan
niệm của mình về thể loại truyện cổ tích. Chu Xuân Diên đã đưa ra định nghĩa về
thể loại cổ tích có 3 ý sau: Truyện cổ tích đã nảy sinh từ trong xã hội nguyên thủy,
có những yếu tố phản ánh quan niệm thần thoại của nhân dân về các hiện tượng tự
nhiên và xã hội, có ý nghĩa ma thuật, chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp;
biểu hiện cách nhìn hiện thực của nhân dân đối với thực tại, nói lên những quan
niệm về công lý xã hội và ước mơ về cuộc sống tốt đẹp hơn; là sản phẩm của trí
tưởng tượng phong phú của nhân dân và ở đó yếu tố tưởng tượng thần kỳ tạo nên
một đặc trưng nổi bật trong phương thức phản ánh hiện thực và ước mơ”[6]. Hầu
hết những truyện cổ tích hay nhất của người Việt cũng như của các dân tộc anh em
đều thuộc về truyện cổ tích thần kỳ.
Truyện cổ tích thần kỳ người Cơ Lao Đỏ, có một số truyện giải thích những
phong tục, tín ngưỡng của người Cơ Lao Đỏ. Những gia đình làm ruộng như người
Trước khi cúng, buộc một con trâu vào cột đá để thầy cúng làm phép trao lại cho
Vua trời, năm đó Vua trời đã phù hộ cho các gia đình một mùa bội thu. Do phải
phụ thuộc vào thiên nhiên, trong đó nguồn lương thực chính là từ lúa, ngô, nên cứ
vào dịp tháng 6 hàng năm các tộc họ lại mua một con trâu buộc vào cột đá cúng tế
Vua trời che chở cho nhân dân, đem lại mùa màng tươi tốt cho họ.
Cũng như nhiều tộc người, người Cơ Lao Đỏ tin rằng linh hồn con người có
liên quan mật thiết với cuộc đời con người. Nếu linh hồn rời khỏi xác thì người đó
cũng chết. Con người cũng tin rằng cuộc sống không chấm dứt sau khi chết. Sau
khi chết, linh hồn sẽ rời khỏi thể xác bay đến một thế giới khác và tồn tại vĩnh
hằng ở đó. Truyện cổ tích thần kỳ Thầy hướng dẫn gọi hồn, kể về nguồn gốc người
Cơ Lao Đỏ biết gọi hồn, kể rằng: trước đây Thiên đình đánh rơi một con dao biến
ra Chấu Cúng, vỏ dao biến ra Thào Hóa Nhi, hai người xem số rất giỏi, Chấu Cúng
bói thì không cứu, Thào Hóa Nhi bói thì cứu. Hôm đó, Chấu Cúng bói trước bảo
với mẹ của Sù Chí Lừ là thằng bé sẽ chết vào 12 giờ khi cùng với 2 người vào lò
làm gạch, Thào Hóa Nhi bói sau chỉ cách cứu Sù Chí Lừ. Khi Chấu Cúng biết
Thào Hóa Nhi cứu Sù Chí Lừ, đã đi tìm Thào Hóa Nhi, hai người đánh nhau không
có thắng thua. Cuối cùng Chấu Cúng biến ra con dao, Thào Hóa Nhi biến ra vỏ dao
và bay về trời. Một người là Lao Chen Phần lấy bản cúng của Chấu Cúng, Thào
Hóa Nhi về gọi hồn, từ đấy người Cơ Lao Đỏ mới biết gọi hồn. Theo quan niệm
của người Cơ Lao Đỏ, con người có 3 hồn: hồn ở trong đầu, hồn ở ngực và bụng,
hồn thứ ba ở dưới chân. Khi con người còn sống, cả ba hồn này thường liên kết với
nhau để điều khiển mọi hoạt động của cơ thể làm cho con người được khỏe mạnh,
thông minh, biết khéo léo trong việc ứng xử và làm ăn. Bởi quan niệm như vậy mà
hiện nay trong cuộc sống hàng ngày của người Cơ Lao Đỏ thường xuyên làm lễ
gọi hồn để cầu mong cơ thể con người được khỏe mạnh. Với quan niệm việc ốm
đau là do hồn bị ma quấy rầy, người Cơ lao Đỏ có nhiều thủ thuật để bói tìm con
ma làm hại, bất kể bói cúng gì, người Cơ Lao Đỏ đều gọi nó đến giúp - tên nó là
Sọ Não Người.
phải vót 4 que bằng nhau, nhỏ như que tăm cắm vào các lỗ ở trên xương đùi. Nếu
thấy chúng chĩa cùng hướng, đều nhau là tốt, còn các trường hợp khác như lệch
nhau, các que ở hai xương có độ dài khác nhau, tức là độ sâu của các lỗ không đều
nhau thì không tốt. Nếu không làm đúng tập quán chọn đất mà cứ dựng nhà để ở,
người sống trong ngôi nhà đó cảm thấy không yên tâm, nếu xảy ra rủi ro, bệnh tật,
làm ăn không phát triển, người ta đều qui chỗ ở chưa được chọn kỹ. Như vậy, tìm
hiểu phong tục, tín ngưỡng của người Cơ Lao Đỏ Hoàng Su Phì, cho thấy các
truyện kể mang ý nghĩa giáo dục, ý nghĩa nhân sinh lớn.
Có thể thấy rằng nhân dân luôn ghi nhớ, lưu giữ được những phong tục
truyền thống tốt đẹp trong đời sống tinh thần của cha ông Có thể khẳng định rằng,
đây chính là vốn văn hoá cổ truyền mang sắc thái riêng trong truyện kể dân gian
người Cơ Lao Đỏ.
II.1.3.Ca dao dân ca
Cũng như cộng đồng 54 dan tộc anh em Việt Nam, người Cơ Lao cũng có
rất nhiều làn điệu dân ca truyền thống của mình. Dân ca của người Cơ Lao gồm
nhiều thể loại như: hát đối đáp, hát mời rượu, hát mừng vụ mùa. Chẳng hạn như
một buổi hát đối đáp giao duyên giữa những cặp đôi nam nữ trong cuộc hát đối đáp
đó họ bộc lộ tâm tư tình cảm qua lời ca tiếng hát. Vì thế những câu hát thường
chứa chan tình cảm nó hàn gán các trạng thái đợi chờ, nhớ nhung, trách móc, giận
hờn. Cũng có những cặp đôi đã nên duyên vợ chồng từ những buổi hát đối đáp
giao duyên đó
Ngoài ra dân ca Cơ Lao chứa đựng niều nội dung về tình yêu quê hương đất
nước, mối quan hệ xã hội, ca dao về lao động sản suất. Người Cơ Lao hay hát
những bài hát ca ngợi về về thiên nhiên, về các các hoạt động trong lao động, ca
ngợi về các thần linh, ca ngợi về vụ mùa. Có bài ca nổi tiếng về cây lúa của người
Cơ Lao họ thường hát khi đi cấy, làm cỏ lúa, gặt hái lúa.
“Mưa dã về, nước đã về
Nam còn gọi đàn bằng các tên khác nhau. Người Kinh gọi là “Líu” hay “Nhị
Líu” để phân biệt với “Nhị Chính”, người Mường gọi là “Cò Ke”, người miền Nam
gọi là “Đờn Cò”. Hình dáng, kích cỡ và nguyên liệu làm Đàn Nhị cũng khác nhau
đôi chút tùy theo tộc người sử dụng nó.
Loại Đàn Nhị thông dụng hiện nay có những bộ phận chính như sau:
1. Bát nhị (còn gọi là ống nhị): là bộ phận tăng âm (bầu vang) rỗng ruột,
hình hoa muống, làm bằng gỗ cứng. Bát nhị có 2 đầu, đầu này bịt da rắn hay kỳ đà,
còn đầu kia xòe ra không bịt gì cả. Ngựa đàn nằm ở khoảng giữa mặt da.
2. Dọc nhị (còn gọi là cần nhị, cán nhị): dáng thẳng đứng, đầu hơi ngả về
phía sau, gốc cắm xuyên qua lưng bát nhị, gần phía mặt da.
3. Trục dây: trục trên và trục dưới đều gắn xuyên qua đầu dọc nhị nằm cùng
hướng với bát nhị.
4. Dây nhị: Trước đây dây đàn được làm bằng sợi tơ se, ngày nay làm bằng
nilon hoặc kim loại. Dây kim loại cho âm thanh chuẩn hơn nhưng không ngọt ngào
bằng dây tơ hay dây nilon. Dây đàn chỉnh theo quãng 4 đúng, quãng 5 đúng, quãng
7 thứ… nhưng phổ biến nhất là quãng 5 đúng.
5. Cử nhị (hay Khuyết nhị): là một sợi dây tơ se neo 2 dây đàn vào gần sát
dọc nhị, nơi dưới hai trục dây. Có khi cử nhị là một khung áo buộc gần sát dọc nhị,
hai dây đàn xỏ qua hai lỗ khung này. Cử nhị là bộ phận để điều chỉnh cao độ âm
thanh. Nếu kéo cử nhị xuống, 2 dây đàn sẽ ngắt quãng hơn, tạo ra âm thanh cao
hơn. Nếu đẩy cử nhị lên khi đàn 2 dây sẽ phát ra âm thanh trầm hơn vì quãng dây
dài hơn. Tuy nhiên để lên dây đàn các nghệ nhân còn vặn trục dây nữa.
6. Cung Vĩ: làm bằng cành tre, cành lớp hay gỗ có mắc lông đuôi ngựa.
Những lông đuôi ngựa nằm giữa hai dây đàn để kéo đẩy, cọ xát vào dây đàn tạo ra
âm thanh. Do những lông đuôi ngựa kẹt hai dây đàn nên ta không thể tách rời cung
vĩ khỏi thân đàn.
lễ.
Pí lè thường có hai kích cỡ to, nhỏ khác nhau, khi thổi phải có hai người thổi cùng
nhau, hai thứ âm thanh to, nhỏ hòa quyện tạo cảm xúc tưng bừng, nhộn nhịp trong
các ngày lễ cuả người Cơ Lao
Hoa quyệt với tiếng đàn, tiến kèn không chỉ có những tiếng hát giao duyên của
những đôi trai gái mà còn có cả những điệu múa dân gian uyển chuyển và mềm
mại từ những chàng trai, cô gái của người Cơ Lao. Họ múa những vũ khúc cầu
mưa, múa tạ ơn thần linh phù hộ và cả những bài múa hội thi nhau giữa những đôi
trai gái với nhau.
II.1.5.Tri thức bản địa
Tri thức bản địa là các truyền thống lâu đời, các kinh nghiệm, thực tiễn sống
của một cộng đồng liên quan đến môi trường tự nhiên, xã hội, đời sống, tư duy của
cộng đồng đó. Tri thức bản địa bao gồm các loại trí khôn, kinh nghiệm, phong tục,
lề thói ứng xử, các bài học của một cộng đồng. Tri thức bản địa được duy trì, phát
triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với
môi trường tự nhiên. Tập hợp những hiểu biết, kiến thức và theo nghĩa này là một
phần của tổng hòa văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân
loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan.
Những tri thức này là nền tảng cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương
diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như khai thác tự nhiên, các hệ
thống canh tác và chăn nuôi, tìm kiếm nguồn nước, tự bảo vệ và chăm sóc sức
khoẻ bản thân; và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường.Tri thức bản địa
được hình thành trong quá trình trải nghiệm và đúc kết qua sự chọn lọc trong quá
trình vận động của cuộc sống, hướng đến sự thích nghi với đặc điểm văn hoá, xã
hội và môi trường. Nó luôn được làm giàu qua việc tích hợp các kinh nghiệm mới
hoặc tri thức mới có được từ quá trình tiếp biến văn hoá.
Người Cơ Lao qua quá trình trải nghiệm và sống hài hòa với môi trường tự
nhiên đã đúc kết lại kho tàng tri thức bản địa của mình như: họ tự chế ra bộ lịch
II.2. Giá trị văn nghệ dân gian của người Cơ Lao đối với kho tàng
văn hóa các dân tộc Việt Nam
II.2.1.Giá trị lịch sử
Văn nghệ dân gian của người Cơ Lao nói riêng cũng như của các dân tộc
thiểu số khác nói chung đều cung cấp một số tư liệu về nguồn gốc dân tộc, quá
trình di cư và những sinh hoạt văn hóa, xã hội của cộng đồng. Trước hết là những
câu chuyện truyền thuyết, những bài ca đọc trong các nghi lễ là những tài liệu quý
để tìm hiểu về nguồn gốc tộc người đó là sự tích Hoàng Vần Thùng. Những câu
chuyện hay, những bài thơ dài không dừng lại ở sự tích Hoang Vần Thùng mà còn
nói về quá trình di cư của tổ tiên họ vào Việt Nam như thế nào.
Cũng qua nhiều câu chuyện truyền thuyết, chuyện cổ tích , ca dao, dân ca, ta
có điều kiện tìm hiểu về nguồn gốc thủy tổ người Cơ Lao. Văn nghệ dân gian
mang giá trị lịch sử bởi những câu chuyện truyền thuyết hay cổ tích, những điệu
hát dân ca, ca dao hay kể cả nhữn tri thức bản địa đều có từ lâu đời trải qua bao
nhiêu năm thang trầm lịch sử những câu chuyện đó vẫn được lưu truyền lại từ đời
này sang đời khác. Giờ đây các cụ, già làng vẫn thường tổ chức những buổi họp để
kể những câu chuyện cổ tích và hát những bài hát dân ca cho các cháu nghe. Hiện
tại luôn tồn tại cùng với lịch sử vì vậy cần phải giữ gìn và phát huy những phong
tục tập quán truyền thống của dân tộc.
II.2.2.Giá trị văn hóa, nghệ thuật
Có thể nói văn nghệ dân gian là một di sản văn hoá quý báu có giá trị nghệ
thuật độc đáo của tộc người Cơ Lao. Trong các lễ hội có nhiều loại hình văn hoá
nghệ thuật được trình diễn. Các loại nhạc cụ dân tộc như, kèn Pí Lè, Đàn Nhị,
trống… được sử dụng trong các dịp lễ, tết có khả năng biểu cảm khác nhau, khi
hoà tấu trở thành một dàn nhạc dân tộc rất độc đáo. Âm nhạc trong lễ hát dao
duyên cũng rất đa dạng tuỳ thuộc vào mỗi lễ thức cụ thể, có khi rất tĩnh nghiêm,
trầm lắng, có khi lại sôi động, vui nhộn tùy thuộc vào từng lễ Bên cạnh đó, những
cuốn sách nôm Cơ Lao cổ với những bài thơ, những lời ca; những câu ca dao, tục