văn NGHỆ dân GIAN của tộc NGƯỜI lự - Pdf 48

MỞ ĐẦU
Việt Nam với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, mỗi dân tộc, mỗi
vùng miền đều mang trong mình một nét bản sắc văn hóa riêng. Cũng nhưng
các dân tộc khác, dân tộc Lự cũng có một kho tàng văn nghệ dân gian khá
phong phú góp phần xây dựng nền văn hóa việt nam đa màu sắc. Trong nghị
quyết trung ương khóa VIII nêu rõ “xây dựng và phát triển văn hóa Viêt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” cho thấy văn hóa chuyền thống là
tích cấp bách cần được giữ gìn và bảo tồn.
Là sinh viên chuyên ngành quản lý văn hóa, trong quá trình học tôi
được trang bị kiến thức chuyên sâu và hiểu rõ về từng vấn đề của các dân tộc
thiểu số như: Kinh tế, trang phục, nhà cửa, ẩn thực, hôn nhân, ma chay, tín
ngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã hội. Từ đó cho thấy mỗi dân
tộc mỗi vùng miền lại có một nét văn hóa đặc trưng riêng, giúp tôi hiểu được
về đời sống vật chất cũng như văn hóa tinh thần của người đồng bào các dân
tộc thiểu số và đó cũng là vốn nền tảng kiến thức để tôi tìm hiểu và nghiên
cứu sâu hơn về giá trị văn hóa dân gian của dân tộc Lư.
Trong bài tiểu luận của tôi tập trung vào nghiên cứu văn nghệ dân gian của
người Lự ở tỉnh Lai Châu.

1


NỘI DUNG
I. ĐÔI NÉT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA NGƯỜI
LỰ Ở HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
1.1. Khái quát về nguồn gốc lịch sử và phân bổ dân của của người Lự ở huyện
Tam Đường, tỉnh Lai Châu
1.1.1. Về nguồn gốc lịch sử
Về nguồn gốc người Lự theo các nhà Dân tộc học, Sử học, Ngôn ngữ học,….họ đã
cư tró ở Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên), từ trước thế kỷ thứ XVII. Có nghĩa là cư
dân đã cư trú ở Điện Biên Phủ, trước khi nhóm Thái Đen (Tày Đăm) xuất hiện ở

đời chúa Lự thay nhau cát cứ vùng Mường Thanh (huyện Điện Biên), họ đã để lại
các di tích như thành Tam Vạn (xã Sam Mứn ngày nay), các địa danh như Nà
Lự (ruộng của người Lự).
Tại Việt Nam, họ là một dân tộc được công nhận. Cư trú chủ yếu tập trung ở hai
huyện Phong Thổ và Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và một lượng đáng kể di cư vào tỉnh
Lâm Đồng. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Lự ở Việt Nam có
dân số 5.601 người, cư trú tại 21 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Phần lớn người Lự
cư trú tập trung tại tỉnh Lai Châu (5.487 người, chiếm 98,0% tổng số người Lự tại
Việt Nam), Thái Nguyên (75 người), các tỉnh còn lại có không quá 10 người [1,Tr
115].
1.2. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của người Lự ở huyện Tam
Đường, tỉnh Lai Châu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Tam Đường nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Lai Châu, với tổng diện tích tự
nhiên là: 68.736,97 ha, tọa độ địa lý từ 220 10’ đến 220 30’ độ vĩ bắc, 1030 18’ đến
1030 46’ độ kinh đông.
- Phía Bắc giáp huyện Phong Thổ và huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai;
- Phía Tây giáp huyện Sìn Hồ và thị xã Lai Châu;
- Phía Đông giáp huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai;
- Phía Nam giáp huyện Sìn Hồ và huyện Than Uyên.
3


Với lợi thế nằm trên chuỗi đô thị biên giới vùng Tây Bắc (theo quy hoạch của Bộ
Xây dựng) là (hạt nhân) phát triển của “Vùng kinh tế động lực quốc lộ 32; 4D” là
một trong ba vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, là cầu nối các tua du lịch Sa Pa –
Lai Châu – Sìn Hồ, Sa Pa – Ma Lù Thàng, Sa Pa – Tam Đường - Điện Biên…
Tam Đường là huyện có địa hình phức tạp, được cấu tạo bởi những dãy núi chạy
dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Phía Đông Bắc là dãy Hoàng Liên Sơn kéo
dài hơn 80 km với đỉnh Phan Xi Phăng cao 3.143 m, Phía Đông Nam là dãy Pu

chủ yếu cho thủy điện Bản Chát, thủy điện Huội Quảng và thủy điện Sơn La.
- Suối Nậm So từ Tả Lèng qua xã San Thàng (thị xã Lai Châu), xã Thèn Sin hoà
vào dòng Nậm Na. Đây là nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho khu vực đô
thị thị xã Lai Châu và cho các xã lân cận. Do địa hình huyện tương đối phức tạp,
các con sông có độ dốc lớn nên có nhiều khả năng xây dựng các trạm thủy điện nhỏ
và vừa.
1.2.2. Đặc điểm kinh tế
Người Lự sống chủ yếu dựa vào canh tác lúa nước, kết hợp làm nương, săn bắt, hái
lượm, với các hoạt động hỗ trợ; thủ công gia đình, trao đổi và mùa bán sản phẩm
nông nghiệp. Cũng như người Thái, người Lào, từ xưa người Lự đã áp dụng nhiều
biện pháp dẫn thủy nhập điền với kỹ thuật phát triển. Hệ thống mướng phai, lá, lín,
….của họ không kém gì của người Thái. Vài chục năm về trước hàng năm người
Lự chỉ canh tác vụ mùa, cấy vào tháng tư tháng năm, thu hoạch vào tháng chín.
Trướckhi chính thức bước vào vụ cấy, các bản các gia đình chọn ngày tốt làm lễ
cúng bản (xên bản) và cúng gia tiên, xin phép mở mùa và cầu mong mưa thuận gió
hòa, con người khỏe mạnh, cây cối tốt tươi,gia súc, gia cầm không bị dịch bệnh.
Cùng với trồng lùa và hoa màu, các gia đình người Lự còn chăn nuôi trâu, dê, lợn,
vịt, gà,ngan,…..để lấy sức kéo làm ruộng, kéo gỗ, lấy phân bón ruộng,….cung cấp
thực phẩm cho các nghi lễ và đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho các bữa ăn hàng
ngày. Một số gia đình còn nuôi cá, nuôi ong mật. Tuy vậy, trong xã hội cũ chỉ có
gia đình khá giả mới có trâu.
Xưa kia, mục đích săn bắn của người Lự trước tiên là bảo vệ mùa màng, sau đó
5


mới là bổ sung nguồn thực phẩm cho các bữa ăn hàng ngày. Đối tượng săn bắt của
họ là các loại muông thú như hươu, nai,cầy, cáo, nhím, chuột, gà rừng,…Việc săn
bắn của họ được thực hiện với hai hình thức: săn tập thể (săn vây) và săn cá nhân
(săn rình). Vũ khí dùng trong săn bắn của họ, chủ yếu là súng kíp và nỏ. Bên cạnh
săn bắn, người ta còn đánh bẫy để bắt chim và thú rừng. Họ có nhiều loại bẫy khác

Châu
1.3.1. Văn hóa vật chất
* Nhà ở:
Kiến trúc nhà của người Lự là nhà sàn, căn nhà sàn của họ cũng giống như nhà sàn
của người dân tộc Thái Trắng (Táy khao).Ngôi nhà cổ truyền người Lự là loại cột
chon, kết cấu theo kiểu vì cột (xau- khứ tháng/ cột- quá giang) các vì được liên kết
bằng xà dọc (pe), các bộ phận được liên kết với nhau bằng ngoãm, hoặc buộc bằng
dây mây, dây rừng.
Song nhà có hai mái, mái phía sau ngắn hơn, còn mái phía trước kéo dài
xuống che cả hàng hiên và chỉ có một cầu thang lên sàn, đặt ở chái bên phải, phía
sau nhà, theo bà con thì để cầu thăng như vậy là để tránh những điều không may
mắn cho gia đình. Đặc biệt theo tín ngưỡng Lự nhà của hộ thường có số gian, bậc
cầu thang và số song cửa sổ, lan can,… luôn là số lẻ. Theo họ, đó là những cong số
cầu mong sự phát triển ăn nên làm ra gia và tránh ốm đau bệnh tật. Cửa ra vào của
nhà chủ yếu mở theo hướng Bắc. Gầm sàn sạch sẽ, hầu hết các gia đình dùng làm
nơi để trữ củi khô, khung cửi và một số đồ dùng khác.Bên trong nhà sàn của người
Lự thường dành một gian giữa để thờ cúng và con dâu trong gia đình không được
vào gian này. Nhà bếp thì nối trực tiếp với căn nhà chính, do vậy khi bước chân vào
nhà thì thấy ngay nhà ở và nhà bếp là một thể liên hoàn chứ không tách rời nhau.Ở
phần sau nhà gian giáp cầu thang lên xuống là nơi ngủ của con gái chưa lập gia
đình, tiếp theo là nơi ngủ của các con trai, kế đến là nơi ngủ của vợ chồng chủ nhà,
không gian ngủ của các thành viên trong nhà được xách định bởi những vách đan
bằng nứa, bằng thưng bằng gỗ tương đối kín đáo.
Theo tập quán Lự, liên quan đến nhà ở, việc xem tuổi chủ nhà chọn ngày dựng xem
7


bói chọn đấtlàm nền nhà, và thủ túc lên nhà mới (kin hươn mớ) và vai trò của ông
cậu (lung ta),….được tuân thủ rất nghiêm ngặt theo tục lệ cổ truyền. Trong đó, đặc
biệt chú ý vai trò của ôg cậu trong lễ lên nhà mới. Đối với người Lự ông cậu luôn

biệt, phụ nữ Lự thường đeo các loại vòng tay bằng đồng, vòng cổ băng bạc (ven
ngân), có gắn dây bạc kiểu xà tích. Phụ nữ trong gia đình khá giả còn đeo xà tích
bạc , khuyên tai bạc,…..
Trước kia, đàn ông Lự có tục để tóc dài, xăm mình, xâu tai và nhuộm răng
những tập tục này giờ đây đã dần mai một. Chiếc quần đen của nam giới rất giống
với quần của nam giới người Thái, người lào nhưng từ đầu gối trở xuống hẹp hơn
và có thêu nhiều hoa văn. Đặc biệt phải kể tới chiếc áo của nam giới thường ngày
(dệt bằng vải thô), mặc ngày hội (dệt bằng tơ lụa). Đây là loại áo xẻ ngực, chỉ ngắn
ngang thắt lưng. Với những kiểu chắp nối, áo cắt may khi trải ra tạo thành hình bán
nguyệt. Khi mặc, thân phải lót vào trong, còn thân trái bắt chéo sang phải buộc
bằng những sợi vải tết thành tua nhiều màu. Đàn ông Lự còn đội khăn đen, gấp nếp
cuốn nhiều vòng, thích nhuộm răng đen và thường đeo gươm không chỉ để để tự vệ
mà còn là tập quán trang trí của người Lự.
* Ẩm thực:
Xưa kia, người Lự ăn cơm nếp đồ là chủ yếu. Từ gạo nếp, họ chế biến thành các
loại xôi (khảu nưng): xôi trắng, xôi đỗ, xôi ngô, xôi sắn, xôi cẩm, xôi gấc, xôi
nướng,….Ngoài đồ , họ còn làm cơm lam, các loại bánh ( bánh trưng, bánh ít,…)
để thờ cúng, tiếp khách, mừng nhà mới,…..Cổ truyền người Lự dùng tay lấy xôi
trong ép, sau đó vê thành viên, chấm với chéo. Hàng ngày, họ đồ xôi ăn bữa sáng,
sau đó cho vào giỏ (ếp khảu/cóm khảu), mang đi nương đi ruộng ăn cả ngày. Ngoài
xôi, cơm,…..người Lự còn ăn cháo nấu bằng ngô, làm bánh ngô….
Trong các loại đồ ăn chế biến từ động vật của người Lự, tiêu biểu nhất vẫn là các
món cá. Trong đó cá nướng nhồi gia vị (pa pỉng tộp) là đặc biệt. Cá đồ, cá vùi tro
bếp, cá lam, cá mối (pa mốc/ pa đẹc) cá sấy khô (pa giảng) và gọi cá (cỏi pa),….là
những món ưa thích của họ. Ngoài cá, các loại món ăn chế biến từ các loại thịt: gà,
lợn, vịt, trâu, bò, dê, chim, sóc, gà rừng, hươu, nai,…..xưa kia cũng phổ biến trong
9


các bữa ăn người Lự. Ngoài những món ăn chế biến từ cá thịt trên người Lự còn

…..Bẻ cả cành ớt mang về treo trên gác bếp hoặc vách gần bếp cho khô lại, khi
dùng họ lấy những quả ớt khô cho vào bát, bỏ vào đó vài ba cục than nóng, đảo đều
đến khi ớt chín có mùi thơm đem giã lẫn với muối choặc cho vào chéo.
Cũng như các tộc người khác, người Lự có truyền thống làm rượu và uống rượu
trong lễ tế, tiệc tùng. Ngoài rượu nấu bằng gạo người Lự còn biết nấu rượu bằng
các loại Ngô. Thường ngày họ uống bằng các loại nước nấu từ cây lá lấy trong
rừng. Tùy từng mùa, từng gia đình, mà nước uống nấu bằng các loại cây bổ máu,
làm mát, hoặc làm ấm cơ thể,…Đặc biệt khi có tiệc tùng, cỗ bàn,….theo tục lệ
người Lự đều phải trải lá chuối tươi rồi bày biệm đồ ăn lên trên (kể cả khi dùng
mâm mây). Theo họ, đó là cách hèm (yểm bùa) để ma quỷ ác không dám tới ăn,
người ăn vào không đau bụng hoặc sinh bệnh.
1.3.2. Văn hóa tinh thần
*Hôn nhân
Gia đình người Lự thuộc gia đình phụ quyền. Trong đó vai trò của người đàn ông,
chủ gia đình được đặc biệt đề cao; xã hội thừa nhận quyền huynh thế phụ, nên
trong gia đình vai trò của con trưởng cũng rất quan trọng. Cách đây vài chục năm ở
vùng Lự còn tồn tại tương đối nhiều đại gia đình phụ quyền. Trong đó bao gồm vài
ba chục thành viên, dăm ba gia đình hạt nhân thuộc vài ba thế hệ, cùng sống trong
một mái nhà, cùng ăn chung,làm chung và mọi sinh hoạt tôn giáo chung. Đóthường
là một gia tộc lớn, gồm ông bà, bố mẹ, các cặp vợ chồng của những người con trai
nhiều khi là các cặp vợ chồng của cháu trai. Thực ra đó là một gia tộc, trong đó bao
gồm các thành viên nam cùng dòng máu tính theo cha, và vợ con của họ. Đến nay
thay thế các đại gia đình đó là hâu hết các tiểu gia đình phụ quyền. Bao gồm vợ
chồng và các con cái của họ chưa lập gia đình.
Theo phong tục cổ truyền, hôn nhân người Lự phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên
tắc: Cấm những người cùng dòng máu trực hệ trong vòng năm đời kết hôn với
nhau; con trai cô được phép kết hôn với con gái cậu nhưng cấm con gái cô lấy con
trai cậu;..Thực ra kết hôn theo kiểu anh đẻ em lấy ( em gái cưới con gái anh trai về
11




Đối với người Lự, đám ma có nghi thức tương đối đơn giản, không dùng kèn trống,
không thầy mo, mà con cháu người quá cố tự thực hiện các thủ tục ma chay cho
ông bà, cha mẹ. Trong xã hội cũ do nghèo đói, du canh du cư,…cũng như một số
tộc người khác ( Xinh Mun, La Ha, Kháng,…..) người Lự thường dùng phên tre,
phên nứa bó người chết rồi mang ra rừng ma (pá heo) chôn cất, không dùng quan
tài bằng gỗ
Sau khi tắm rửa mặc quần áo mới cho người quá cố, theo tập quán người Lự
thường bỏ vào mồm người chết một hai đồng xu (xưa là bạc trắng hoa xòe). Đây
chính là việc yểm bùa, bảo vệ ma mới chết trước sự tấn công của các loại ma quỷ
ác (ma quỷ thường rất sợ kim loại). Sau đó họ buộc tay chân người chết bằng các
sợi vải mộc, nhập quan, phủ lên thi hài một tấm vải mộc. Cuối cùng họ bỏ vào áo
quan quần áo và một số đồ dùng hàng ngày của người quá cố, trước khi đóng nắp
quan tài. Khâm liệm xong họ quàn thi hài tại nơi ngủ khi sống của người quá cố,
đốt nến sáp ong trên nắp quan tài. Đề ngăn ma quỷ dữ tới bắt ma người quá cố, họ
dùng chài, vó,….(các đồ đan mắt cáo) phủ kín quan tài. Với người Lự, chài, vó cũ
được dùng để ngăn tà mà quỷ dữ nó có tác dụng như ta leo.
Bình thường họ thường vắt một mảnh chài, hoặc vó cũ lên lan can ngay đầu cầu
thang lên nhà, khi vào nhà mới, chân chài ( cùng thanh kiếm dòng họ và ninh đồ
xôi) là vật được mang vào nhà đầu tiên. Thực hiện xong các thủ tục trên họ dùng
trứng gà bỏ vào máng nước đặt cạnh quan tài để những người đến viếng rửa tay
làm phép. Khi trong bản có người chết, người Lự chon ở các ngà đường vào bản,
những chiếc ta leo làm bằng dây vải mộc buộc lên đầu ngọn tre. Cách nay khoảng
vài ba chục năm người Lự thường quàn thi hài trong nhà khoảng ba ngày. Trong
những ngày đó đến bữa ăn họ thường cúng cơm cho người chết. Các trường hợp
chết vào ngày cuối tháng họ thường tổ chức chon cất ngay, không để sang đầu
tháng sau. Khi làm ma họ mổ trâu để hiến tế. Cũng như các tộc người ở Tây Bắc
trước khi giết trâu, người Lự dùng dây bằng vải trắng buộc nối từ quan tài tới sừng
trâu. Theo họ làm như vậy để ma người chết theo sợi dây bằng vải mộc tới để nhận

thần núi, thần khe, thần suối thần rồng phù hộ cho bà con dân bản no đủ, điều lành
14


ở lại, điều dữ mang đi.
Ở Lai Châu đồng bào Lự chiếm gần 2% dân số thuộc nhóm người Lự trắng sống
chủ yếu ở huyện Sìn Hồ và huyện Tam Đường. Đồng bào Lự cư trú dọc theo các
dòng sông, khe suối và tên bản làng thường được gắn liền với đặc thù của miền đất
họ sinh sống. Từ trước đến nay, với đời sống định canh định cư, người Lự đã biết
canh tác lúa nước từ rất sớm, nên đời sống vật chất của họ tương đối ổn định.
Chính vì vậy mà vốn văn hoá tinh thần cũng phong phú đa dạng với nhiều loại hình
văn hoá dân gian mang đậm bản sắc của người Lự.
Lễ Căm Mường là lễ để bà con dân bản thể hiện lòng thành kính dâng tế lễ vật lên
các vị thần. Từ xưa đến nay lễ Căm Mường bao giờ cũng được làm rất trang trọng.
Mỗi gia đình sẽ cử ra một người đại diện là nam giới đi tham gia phần phụ lễ, khi
về sẽ có “lộc” dành cho những người ở nhà.
Mở đầu cuộc lễ, thầy cả đọc lời tuyên bố lý dó buổi lễ. Trong lời tuyên bố lý do
buổi lễ của thầy cả đề cập tới lịch sử của người Lự, lịch sử bản mường, cái lý của
việc làm lễ Căm Mường và những người sẽ được “thụ lễ” lần này.
Khi cuộc lễ bắt đầu "say" các thầy lạy một lạy rồi bắt đầu đọc lời khấn. Trong phần
lễ này không có khèn, sáo, trống hay bất kì một loại nhạc cụ nào để làm âm vang.
Theo quan niệm của người Lự thì như thế sẽ làm ảnh hưởng tới các linh hồn riêng,
mà cái linh hồn ở đây chính là sự thần bí, linh thiêng ẩn hiện trong những lời khẩn
cầu của thầy cúng:
“Núi rừng mang hồn nước
Khe suối lượn hình song
Thần rồng bay lượn múa
Phun nước tưới ruộng đồng
Cho ngô lúa trổ bông
Cho mùa vàng trĩu quả.”

kèn con) giọng thanh. Có mặt hầu hết trong diễn xướng dân gian của người Lự là Pí
me Lự. Dùng để đệm hát giữ nam và nữ hoặc đệm cho nữ hát thì sử dụng cả sáo mẹ
và sáo con. Khi đệm cho nam hát thì chỉ dùng sáo con để đệm. Chỉ khi cả 2 cùng
16


thổi thì mới có giai điệu hay.
Pí Me hoặc Pí Lự là tên gọi một nhạc cụ họ hơi, chi lưỡi gà của dân tộc Lự ở
Lai Châu – Sơn La thuộc vùng núi phía Bắc Việt Nam.
Pí Me/Pí Lự được làm từ một ống nứa, hoặc trúc có chiều dài khoảng 50 –
70 cm, đường kính 1,5 cm, một đầu có mấu kín. Ngay chỗ mấu người ta trổ thủng 1
lỗ hình chữ nhật có kích thước 1cm x 2,5 cm để đặt lưỡi gà đồng (lưỡi gà hình tam
giác cân được cắt rời hai cạnh bên để dính lại phần đồng ở cạnh đáy). Trên thân ống
có khoét 7 lỗ bấm, lỗ thứ nhất ở mặt sau thân ống cách lưỡi gà 29 cm, lỗ thứ 2 ở
mặt trước cách lỗ thứ nhất 2 cm, 5 lỗ còn lại nằm thẳng hàng với lỗ thứ 2 và cách
đều nhau (3 cm), riêng lỗ 4 và 5 cách nhau 6 cm. Pí Me/Pí Lự có hàng âm như sau:
Do1, Re1, Mi1, Fa1, Sol1, La1, Si1.
Nghệ nhân thổi Pí Me/Pí Lự bằng cách đặt dọc thân Pí xuống, miệng ngậm kín
phần ống có gắn lưỡi gà ngập trong miệng, rồi thổi truyền hơi ra liên tục làm sao
cho tiếng Pí không ngắt khi thổi.
Âm thanh của Pí Me/Pí Lự giòn, rè có pha chất bồi âm, tiếng trong trữ tình phù hợp
với các bài có tình cảm sâu lắng, êm dịu.Pí Me/Pí Lự là nhạc cụ dùng để độc tấu,
hòa tấu, do nam giới sử dụng trong sinh hoạt giao duyên. Ngoài việc diễn tấu Pí Me
còn là phương tiện để các chàng trai nói thay lời mình với các cô gái.
Pí luk: (Sáo con) cũng giống như sáo mẹ nhưng ngắm hơn 20cm hai sáo này
đồng âm với nhau một quãng tám. Khi cùng đệm cho hát sáo mẹ làm nền cho sáo
con. Sáo con chỉ thổi từng đoạn giai điệu chủ đạo. Những chỗ hòa âm này âm thanh
quyện vào với nhau thành một bè. Người thôi Pí Me/ Pí Lự bằng cách đặt dọc thân
Pí xuống miệng ngậm kín phần ống có gắn lưỡi gà trong miệng rồi thổi hơi ra liên
tục làm sao cho tiếng Pí không ngắt thì thôi. Tiếng Pí của người Lự đậm chất trữ

Chàng trai nhẹ nhàng tới nhà cô gái, mang theo pí lụ(sáo con) đứng dưới gầm dùng
cây sáo chọc lên sàn chỗ cô gái nằm nghỉ và cất lời hát: “Em ơi! Dậy mau đi. Dậy
nhai trầu chung cơi. Dậy hút thuốc chung điếu. Bông hoa ban, hoa mạ của anh.
Dậy hát cùng chài cùng cá. Hát cùng lúa cùng rau. Hát cùng trăng cùng sao. Hát
cùng suối cùng thác. Hát với núi với rừng. Hát với trời với đất. Hát cho thấu lòng
18


nhau…”. Trường hợp này, lời hát thường được cất lên giữa khung cảnh tĩnh mịch
một cách nguyên sơ, khe khẽ, không nhạc đệm. Tình yêu của trai gái Lự lớn dần
cùng những lời ca trữ tình ấy.
Ngoài ra trong các ngày lễ hội trong phần hội các chàng trai thổi sáo để các cô gái
hát những bài ca của dân tộc mình. Những lời hát mộc mạc, giản dị, nhưng ẩn sâu
trong đó ý nghĩa nhân văn cao cả, đó cũng là lời gửi gắm, nhắn nhủ của thế hệ đi
trước dành cho lớp trẻ hôm nay phải biết chung tay xây dựng bản mường ngày
càng ấm no hạnh phúc.
“Hôm nay là ngày vui
Hôm nay là ngày hội
Dân bản được vui chơi
Được cùng nhau múa hát
Được thoả ước mong chờ
Cùng chung chén rượu ngọt
Cùng ôn chuyện ngày xưa
Những ngày còn đói khổ.
Hôm nay đã khác rồi
Cuộc sống mãi xanh tươi
Nhà nhà được no ấm
Bản mường vui mở hội…"
Hầu hết các điệu khắp đều được truyền lại từ thời xưa, có truyện kể lại rằng: Hồi đó
có một đôi yêu nhau nhưng không đến được với nhau họ chỉ còn cách thể hiện tình

theo rồi lùi chân phải về, chân trái trở về dậm nhịp tại vị trí bên phải. Những bước
chân không bước rộng mà được bước lên bước xuống nhẹ nhàng; bước nhẹ êm (có
khi như lướt) và nhún nhẹ nhàng; kết hợp với bước chân như vậy là động tác vung
tay đưa lên đưa xuống không hết đà (chỉ ở ngang người)…Nếu xòe Thái là bước
nhảy thì xòe người Lự bước vào vòng nhấn một nhịp sau đó bước ra và chuyển bước
tiếp theo. Đội hình vòng tròn cũng có thể xoay ngược ra phía ngoài.
Khi múa xòe người ta cầm tay nhau múa du dương nên xòe vòng. Lúc trong bản có
20


ngôi nhà sàn mới hoàn thành, chủ nhà làm lễ mừng nhà mới, bà con hàng xóm
trong, ngoài bản kéo nhau đến mừng cho chủ nhân. Tiếng trống, chiêng nổi lên đan
xen tiếng reo hò của nam thanh, nữ tú vòng xòe được hình thành. Vòng xòe có sức
hút mãnh liệt và không phân biệt già trẻ, gái trai. Khi nhạc cụ truyền thống vang lên
mọi người đều có thể tham gia vào vòng xòe
Xòe còn là nơi con người gửi gắm tình yêu của đồng bào dân tộc. Khi tham gia
vòng xòe trai gái được gần nhau, được lựa chọn bạn xòe, là nơi để thể hiện tình
cảm riêng tư. Vòng xòe gắn kết tình cảm con người với nhau. Xòe là hình thức múa
dân gian phản ánh cuộc sống lao động và đấu tranh sinh tồn giữa con người với
cuộc sống thiên nhiên và phản ánh sức sống mãnh liệt của dân tộc Thái trong việc
đấu tranh chống ngoại xâm. Múa xòe thể hiện giấc mơ của người dân về cuộc sống
thanh bình, ước muốn ấm no hạnh phúc, thể hiện sự mến khách của dân tộc tây bắc.
- Xòe khăn: Các cô gái được bà then dạy múa để mua vui cho những vị khách trên
trời mời về dự lễ. Điệu Xòe dùng mảnh khăn dài thường ngày dùng để thắt đai
ngang eo cô gái khi biểu diễn được khoác lên mình các cô gái xòe để biến những
động tác sinh hoạt hàng ngày thành những động tác múa duyên dáng, uyển chuyền.
Múa khăn có động tác đứng vung khăn ra đằng trước, vung quá đầu, vung ngang
ngực, vung sang bên cạnh và động tác ngồi vung khăn.
- Xòe nón: đưa nón sang hai bên người, nhún ngang, đưa nón sau gáy, nghiêng nón
hai bên đầu, lao nón, xoay nón trên đầu, ngồi chống nón trước mặt; và sáng tạo

vẹn. Người Lự cũng luôn đề cao đời sống văn hóa tinh thần, có cuộc sống lạc quan,
yêu đời và rất dễ gần. Đến bản người Lự ở huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu bạn sẽ gặp
rất nhiều phụ nữ nhuộm răng đen. Nếu như tục nhuộm răng ở người Kinh từ lâu đã
không còn, thì cho đến nay, hàm răng đen bóng vẫn là một tiêu chuẩn của nhan sắc
đối với người Lự. Phụ nữ Lự từ trẻ đến già đều nhuộm răng đen. Trên hàm răng
đen nhánh hạt na ấy có hai cái răng cạnh bên phải được bịt vàng. Các cô gái Lự
ngày xưa muốn lấy được chồng không thể bỏ qua tục nhuộm răng đen hoặc cấy
răng vàng. Nét cười mà khoe ra hàm răng đen, hay chiếc răng vàng thì dường như
tươi tắn hơn trong mắt người Lự. Giá trị thẩm mỹ của tục nhuộm răng đen, giờ đây,
22


có thể người xuôi thấy lạc hậu, song người Lự thì khác, đó không chỉ là cách làm
đẹp của riêng họ mà còn là sự tinh tế trong “bí quyết” nhuộm màu độc đáo đã thành
truyền thống của dân tộc. Từ những nguyên liệu như cánh kiến tán nhỏ, vắt nước
chanh rừng để khoảng một tuần, khi được thì phết thuốc ấy vào hai mảnh lá cọ rồi
ấp vào hai hàm răng vào lúc đi ngủ. Khi nhuộm răng thì phải kiêng nhai. Nhuộm
như thế 5, 7 ngày cho răng đỏ già ra màu cánh gián thi bôi thuốc răng đen. Thuốc
răng đen làm bằng phèn đen trộn với cánh kiến, nhuộm 1, 2 miếng là đen kịt lại,
sau đó lấy dùng dao đốt nóng cho chảy nhựa ra, lấy nhựa ấy phết vào răng sẽ có
một nụ cười độc đáo, nhất là vào dịp du xuân thì những nụ cười độc đáo sẽ tràn
khắp bản... Dường như người con gái Lự nhuộm răng đen để ý tứ giữ cho mình
những nét duyên, giữ riêng cho người mình yêu những điệu Khắp Lử “Hát Lự” khi
màn đêm buông xuống. Khi tiếng sáo “Pấu Pí” đôi của người con trai gửi tình cất
lên dìu dặt. Điệu Pấu Pí Khắp như lời gửi tình của đôi trai gái đang tâm sự yêu
đương.
Đối với đồng bào Lự, hay một số đồng bào thiểu số miền Tây Bắc, tục xưa đã gắn
với bản, với dân tộc thì bằng mọi cách giữ tục như chính sự sống của họ. Giá trị
thẩm mỹ của tục nhuộm răng đen giờ đây, có thể người xuôi thấy lạc hậu ở xu
hướng tân thời, song đồng bào Lực thì khác, họ cho rằng, đó không chỉ là cách làm

nhau, hình thức này sau cùng là chơi từng đôi một, thông qua hội tung còn nhiều
đôi trở thành chồng, thành vợ của nhau.
Cách thứ hai: Gọi là tọt cón vóng là tung còn vòng, ở giữa sân bãi, người ta
chôn một cây tre cao 8 - 10m, đầu trên cao có gắn một cái vòng tròn đường kính
khoảng 50 - 70cm theo phương thẳng đứng. Sau đó gắn vải đỏ, phần trên khâu chắc
vào mép vòng, ở dưới thả buông để khi ai đó tung trúng vào trong vòng còn dễ phát
hiện ra, thể hiện sự khéo léo của người chơi. Trò chơi này giành cho mọi đối tượng,
mọi lứa tuổi.
Hình thức chơi: Có thể bên nam, bên nữ, hoặc tùy chọn; nếu ai tung lọt tâm
vòng thì người đó đạt thành tích, giải thưởng là đôi chén rượu (tùy quy ước mỗi
cuộc thi). Cũng có thể chia đội và Ban tổ chức sẽ quy định cách đứng chơi và mục
24


tiêu là phải tung quả còn chui qua vòng. Tổ trọng tài theo dõi chấm điểm.
Trò chơi ném còn vừa mang tính văn hóa lại vừa mang tính thể thao, rèn
luyện sự tinh tế, khéo léo, tài tình, ước lệ và duyên dáng, nhẹ nhàng khi tung, khi
bắt; Vừa kết hợp các động tác toàn thân, vừa sảng khoái tinh thần, vừa được giao
lưu, tỏ tình, đoàn kết, vui vẻ. Công cụ vừa rẻ tiền lại vừa dễ chơi, ai chưa biết chơi
chỉ cần quan sát một đôi lần là sẽ nhập cuộc được ngay.
+ Đẩy gậy:
Đẩy gậy là môn thể thao dường như phù hợp với tố chất của đồng bào dân tộc,
miền núi. Trò chơi được thế hệ đi trước truyền dạy kinh nghiệm và kỹ thuật thi đấu
cho các thế hệ sau, để từ đó phát huy môn thể thao truyền thống của dân tộc mình
và đội ngũ kế thừa ở đây ngày càng đông đảo.
Không chỉ những thanh niên cường tráng, khỏe mạnh tìm đến môn thể thao này, mà
những người lớn tuổi, người già cũng háo hức tham gia. Những ai không đủ khả
năng thi đấu thì làm cổ động viên, cổ vũ hết mình để tăng thêm tinh thần cho những
vận động viên khi có các trận đấu.
Chỉ với một cây gậy thi đấu làm bằng loại gỗ tốt, thẳng hoặc tre già có chiều dài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status