MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người. Nó được tạo ra và phát triển trong
mối quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại là nền
tảng tinh thần góp phần hoàn thiện và phát triển con người, duy trì sự bền vững
và trật tự xã hội.Văn hóa, thể hiện trình độ phát triển của con người và xã hội
được biểu hiện trong các kiểu, hình thức tổ chức đời sống và hành động của con
người.
Việt Nam là một dân tộc đông anh em, gồm 54 tộc người khác nhau.Mỗi tộc
người lại mang đến những nét văn hóa khác nhau, cùng với bề dày văn hóa
truyền thống của mình đã tạo nên những nét đặc sắc cho dải đất hình chữ S
này.Những nét đặc sắc văn hóa ấy đi cùng với thời gian, không gian mà tồn tại.
Trong kho tàng văn hóa có văn nghệ dân gian, đây là một bộ phận vô cùng quan
trọng. Nó là những gì gắn bó, gần gũi nhất đối với nhân dân lao động. Bởi văn
nghệ dân gian là kết quả do chính họ sáng tạo ra bao gồm: văn học dân gian, âm
nhạc dân gian, ca hát, nhảy múa dân gian, mĩ thuật ứng dụng trang sức và tạo
hình dân gian. Nó ra đời cũng là nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống văn hóa,
văn nghệ của các địa phương đặc biệt miền núi, đồng bào dân tộc ít người.
Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, sưu tầm hay khai thác văn nghệ dân gian ở một
số nơi còn chưa được chú trọng.Nhiều sản phẩm văn nghệ dân gian dần đi vào
lãng quên hoặc nhiều người còn chưa từng nghe thấy bao giờ.
Quảng Bình là vùng đất văn vật, nhiều địa danh nổi tiếng. Trong quá trình lịch
sử, đã hình thành nhiều làng văn hóa nổi tiếng và được truyền tụng từ đời này
sang đời khác. Còn là nơi lưu giữ những nét văn hóa đặc sắc của các tộc người
sinh sống nơi đây.
Người Chứt - một dân tộc ít người sinh sống tại Việt Nam và Lào.Tuy vậy, lại
có những nét đặc sắc riêng trong kho tàng văn nghệ dân gian phong phú của họ.
Những nét đặc sặc ấy nói riêng và văn nghệ dân gian nói chung cần phải được
lưu giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị mà nó mang lại. Để truyền cho thế hệ
Quảng Bình. Phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào với 89 km
đường biên giới, phía Bắc giáp huyện Tuyên Hoá, phía Nam và Đông Nam giáp
huyện Bố Trạch. Toàn huyện có 15 xã và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên là
1.410 km2. Từ thành phố Đồng Hới, có thể đến huyện Minh Hóa bằng hai con
đường: Con đường thứ nhất từ Đồng Hới chạy theo quốc lộ 1A về thị trấn Ba
Đồn huyện Quảng Trạch, sau đó chạy theo quốc lộ 12A lên Minh Hóa. Con
đường thứ hai chạy theo đường Hồ Chí Minh, xuất phát từ Cộn chạy hướng Bắc
khoảng 120 km là tới nơi; con đường này hấp dẫn khác du lịch với các địa danh
một thời lững lẫy trong chiến tranh như đèo Đá Đẽo, ngầm Dinh, Khe Ve, đèo
Mụ Giạ,...
-Điều kiện tự nhiên:khắc nghiệt nên cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế - xã hội cũng
như đời sống của nhân dân còn rất nhiều thiếu thốn khó khăn. Tuy vậy người
Minh Hoá không chỉ nhận biết cái khó, dám đối mặt với những gian nan vất vả
mà còn có tầm nhìn xa, tin tưởng vào những lợi thế của huyện để vươn lên.
Minh Hoá là huyện có nhiều tiềm năng và thế mạnh. Huyện có cửa khẩu quốc
tế Chalo - Nà Phàu các đầu mối và tuyến giao thông quan trọng đi qua như
đường Hồ Chí Minh chạy suốt chiều dài của huyện, đường 12C là tuyến đường
ngắn nhất nối các tỉnh vùng Đông Bắc Thái Lan qua Lào, về Quốc lộ 1A, đến
cảng biển Hòn La (Quảng Bình), cảng Vũng Áng (Hà Tĩnh). Bên cạnh đó, Minh
Hoá còn có nhiều di tích lịch sử như đèo Đá Đẽo, Mụ Dạ, Ngầm Rinh, Khe Ve,
Chalo, Cổng Trời…, các khu rừng tự nhiên, sơn thuỷ hữu tình có thể xây dựng
thành khu du lịch sinh thái như hang động Tú Làn ở Tân Hóa, Thác Mơ ở Hoá
Hợp, Nước Rụng ở Dân Hoá, phía Bắc đèo Đá Đẽo và các hang động ở Thượng
Hoá, Hoá Tiến, Hoá Thanh. Đây là điều kiện thuận lợi phát triển sản xuất hàng
hoá, thương mại, dịch vụ xuất nhập khẩu, thúc đẩy quan hệ hợp tác, giao lưu
kinh tế giữa địa phương với các vùng kinh tế trong tỉnh, trong nước và quốc tế.
4
Phát huy thế mạnh đó, trong những năm qua, Minh Hoá đã từng bước "thay da,
Thực tế, 7 tên gọi Sách, Mày, Rục, Mã Liềng, Arem, Xơ-lang, Umo
dùng để chỉ 7 nhóm trong tộc người này. Nhóm người Rục được phát hiện
muộn nhất vào năm 1959 ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa và đến năm 2004
có 85 hộ với 428 nhân khẩu. Nhưng theo ước tính của Tổng cục Thống kê ngày
1 tháng 7 năm 2003 thì dân số người Chứt giảm xuống còn 3.787 người.
Đến năm 2009, theo Tổng điều tra dân số và nhà ở, người Chứt ở Việt Nam có
dân số 6.022 người, cư trú tại 23 trên 63 tỉnh, thành phố. Người Chứt cư trú tập
trung tại các tỉnh:
6
Quảng Bình: 5.095 người, chiếm 84,6% tổng số người Chứt tại Việt
Nam.
Đắc Lăk: 435 người.
Lâm Đồng: 266 người.
Hà Tĩnh: 156 người.
Tại Lào, theo ước tính của Ethnologue thì có khoảng 450 người Chứt
(Ethnologue ghi là theo điều tra dân số năm 1995 của Lào) sinh sống tại tỉnh
Khammouan.
-Ngôn ngữ: Người Chứt là tộc người sử dụng ngôn ngữ cùng ngữ hệ
với tiếng Việt. Tiếng Chứt được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm vì gần gũi
với tiếng Kinh nguyên thủy. Thời điểm tiếng Chứt tách ra khỏi nhóm tiếng ViệtMường vẫn còn đang tranh cãi:
Theo Phạm Văn Cường thì vào khoảng thế kỉ V - VI, sau đó khá lâu,
vào khoảng thế kỉ X – XI tiếng Mường mới tách ra.
Còn theo Bùi Xuân Dinh thời điểm phân tách của nhóm Viêt Mường và hai nhóm Chứt – Poong diễn ra từ khoảng thiên niên kỷ thứ I TCN
đến thế kỷ thứ II sau CN. Và nhóm Việt Mường phân tách khoảng từ khoảng
thế kỷ thứ VII -VIII.
Giáo sư Trần Trí Dõi đã nhận xét tiếng Chứt như: “bảo tàng lưu giữ
các giai đoạn phát triển của tiếng Việt”. Văn hóa của người Chứt cũng cho phép
tìm lại lịch sử phát triển của người Việt cổ.
nhân khẩu sinh sống ở bản Rào Tre, thuộc xã Hương Liên, huyện Hương Khê,
Hà Tĩnh. Để có một bản Rào Tre như hôm nay, trong gần 30 năm qua, các thế
hệ cán bộ, chiến sỹ lực lượng bộ đội biên phòng Hà Tĩnh và chính quyền địa
phương đã thực sự sát cánh cùng người Chứt để “vượt cạn” bỏ hang, bỏ suối về
nhà. Đêm, khi cán bộ địa phương ngủ là người Chứt tìm cách tháo chạy vô
rừng. Ông Đặng Duy Báu-Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh lúc bấy giờ cùng với ông Võ
Trọng Việt-Chỉ huy trưởng bộ đội biên phòng Hà Tĩnh (nay là Thượng tướng,
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) nhiều đêm liền ngồi với nhau bàn cách cứu tộc
người này.Tổ công tác khác được phân công xuyên rừng đi chọn địa điểm phù
hợp để tính đến phương án dựng bản cho người Chứt. Mưa lâu thấm dần, một
vài năm sau khi người Chứt đã quen mắt với màu áo bộ đội biên phòng, thấy
nhớ khi bộ đội biên phòng vắng mặt, khi đau bụng, sinh con, khi cúng Giàng,
thần linh cũng gọi bộ đội biên phòng tham gia. Những ngôi nhà sàn được dựng
lên bằng cây rừng, kiến trúc theo kiểu hang dần dần cũng được bà con người
Chứt đến ở. Tiếp đó, những ngôi nhà sàn lại được thay thế, cách tân kiểu mới,
những lớp học được mở ra, trạm xá được dựng lên…Gần 30 năm để có một bản
làng, nhiều cán bộ, chiến sỹ bộ đội biên phòng đã gắn bỏ hết cả cuộc đời binh
nghiệp của mình để dạy chữ, để ăn ở sinh hoạt, giữ đường biên giới cùng bà con
nơi đây.
Theo như cuốn Việt Nam văn hóa và du lịch có nói: “Người Chứt sinh sống
bằng nương rẫy du canh du cư, săn bắn và hái lượm. Cây trồng chính là ngô,
sắn, đỗ, lúa. Công cụ sản xuất rất thô sơ: rìu, rựa, gậy chọc lỗ...vận chuyển hàng
hóa chủ yếu là gùi đeo vai. Lương thực ăn hàng ngày chủ yếu là ngô,
sắn...Những năm mất mùa họ phải ăn bột báng...”[3,tr.91].
8
Ngày nay khi được chính quyền Việt Nam vận động về sống định cư như vậy,
họ hòa đồng hơn vào các tộc người khác.Họ sống định canh, định cư nhưng các
Sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy, hái lượm và săn bắt, nên nguồn
lương thực chủ yếu cua người Chứt là ngô, sắn, và các loại bột báng, củ mài, củ
pẩu, của nâu,...;nguồn thực phẩm chủ yếu của họ là các loại măng, rau lấy trong
rừng, và chim muông, cua ốc săn bắt được. Với nguồn nguyên liệu ấy cách chế
biên chủ yếu của họ đồ, nướng, hoặc luộc. Từ sau khi định canh, định cư, cuộc
sống của các nhóm địa phương thuộc dân tộc Chứt, ngày càng ổn định và khá
dần. Nay tuy còn vô vàn khó khăn, nhưng việc ăn uống của họ đã được cải thiện
nhiều. Các món ăn của họ đã chịu nhiều ảnh hưởng từ ăn uống của người Kinh
lân cận.
- Tín ngưỡng, thờ cúng của người Chứt:
“Đối với các nhóm Mày, Sách, Arem, Mã Liềng, Rục,..thuộc cộng đồng người
Chứt, tín ngưỡng vạn vật thiêng liêng khá phổ biến. Với họ, ngoài rừng có ma
rừng, ma suối (cù muých rú đác), trong không trung có cù muých linh l’váng
(ma lơ lửng giữa không trung), ở bốn phương và giữa trời có năm ông thổ công
(đăm ôông tồ côông; được coi là chủ đất của cavên), trong nhà có thổ công, hai
ôông t’pua, pà pua pếp (hai ông vua, bà vua bếp), dưới đất có ma đất (múa ôông
bản thổ: mụ ông bàn thổ),...Vì thần bảo hộ các làng (trông coi và bảo vệ đất
rừng, người và vật của cavên), của họ là cu muých yàng. Với họ, đây là vị thần
quan trọng nhất.
Tuy săn bắn và hái lượm còn đống vai trò quan trọng, nhưng ở người
Chứt ít thấy những lễ nghi, tín ngưỡng và ma thuật săn bắn. Nhóm Mã Liềng có
tục cúng ma ná (ma nó) trước và sau khi săn được thú. Khi săn hay bẫy được
thủ to (lợn, mang, tác,...), họ cúng tổ tiên và ma bếp. Bên cạnh những nghi lễ
tiên quan đến săn bắt, ở các nhóm Sách, Mày và Rục có tục làm lễ xuống giống
(pàchôông K’lôống), cúng khi tra lúa trên nương, cúng hồn lúa, cúng cơm mới
(ch’leng)”,...[1, tr.66].
Văn hóa nguyên thủy đa sắc ra đời trên nền tảng lao động miệt mài của loài
người, mang lại ánh sáng tri thức mà con người hiện đại đang thừa hưởng. Ở
nhiều ngôn ngữ khác nhau, phân bổ khắp vùng Nam Á.
Khoảng những năm 1958-1959, công an vũ trang (nay là biên phòng)
phát hiện nhóm người nguyên thủy sống giữa rừng ở khu vực biên giới Quảng
Bình. Đầu năm 1960, người Rục được vận động ra sinh sống tập trung, lúc ấy
chỉ có 34 người. Đến năm 2012, lần đầu tiên, Đồn biên phòng Cà Xèng giúp
người Rục làm lúa nước, tự đảm bảo được một phần lương thực.
Cũng giống như ở các nơi khác, người Chứt ở đây cũng sống nằng nông
nghiệp nương rẫy, du canh và săn bắt hái lượm. Trừ nhóm Sách sống chủ yếu
bằng nông nghiệp còn các nhóm khác hái lượm và săn bắn chiếm vị trí quan
trọng, thậm chí là nguồn sống chính trong những năm mất mùa. Công cụ sản
xuất gồm: rìu, rựa, gậy chọc lỗ, nơi làm ruộng có thêm cày, bừa. Từ khi định cư
người Chứt đã nuôi trâu bò để phục vụ cày bừa, làm sức kéo. Đan lát chủ yếu
do nhu cầu tiêu dùng trong gia đình. Đôi nơi họ biết thêm nghề rèn dao và rìu.
11
Gần 60 năm trôi qua kể từ khi tộc người Rục được phát hiện, đưa ra khỏi hang
đá, nay họ định cư giữa những thung lũng bằng phẳng ở xã Thượng Hóa (Minh
Hóa, Quảng Bình), không còn “sáng ra khỏi hang, tối vào lại” như trước đây.
Ký ức về cuộc sống “săn bắt hái lượm” vẫn còn in đậm trong tâm trí nhiều
người Rục. Một số cụ ông, cụ bà “không nhớ nổi tuổi” đôi khi thèm khát cuộc
sống hang đá, đã quay lại hang ở đôi ba ngày.
Nhìn chung, ngày nay cùng với những thay đổi lớn lao của đất nước và
điều kiện sinh động, cũng như các dân tộc thiểu số khác, dân tộc Chứt có rất
nhiều sự biến đổi. Chẳng những cung cách kiếm sống thay đổi, văn hóa ăn,
mặc, ở đã khác xưa nhiều, mà tâm lý, tín ngưỡng, nếp sống của họ cũng thay
đổi không ngừng. Nếu xưa kia sống bằng nghề làm ruộng, săn bắt và hái lượm
là chính, thì nay các hoạt động kinh tế của họ đã đa dạng, chuyên ngành,
chuyên môn hóa đã xuất hiệ, thương mại được chú trọng và quan trọng là sản
một thanh nứa nhỏ để kéo. Với bầu cộng âm làm bằng ống nứa to khoét lỗ ở
giữa. Vì cây đàn thô sơ như vậy nên người Chứt còn gọi đàn Trơ bon đơn giản
là đàn nứa. Khi chơi loại đàn này có thể kéo (như kéo nhị của người Kinh),
hoặc gảy như đàn tranh. Tiếng đàn này phát ra âm thanh hơi “phô” nhưng cũng
khá dìu dặt, nghe gần giống tiết tấu đàn accordean.Mỗi lần nghệ nhân đánh đàn
Trơ bon, âm thanh phát ra như muốn gửi cả tâm tình của đại ngàn Trường Sơn
đến người nghe.
Trước đây, mỗi dịp hội hè, tiếng nhạc làm cho bản thêm rộn ràng, sôi nổi.
Và cũng nhờ tiếng sáo, tiếng đàn và con trai, con gái của bản tìm đến và ăn đời
ở kiếp với nhau.Đáp lại tiếng đàn trơ bon réo rắt của cô gái, tiếng kèn môi là lời
thủ thỉ tâm tình của chàng trai. Sống bao đời trên những đỉnh núi cao, cách xa
các dân tộc khác, người Chứt làm bạn với tiếng đàn, tiếng kèn, tiếng sáo.
Những âm thanh rủ rỉ như vọng về từ một miền kí ức xa thẳm, như tiếng nước
chảy róc rách trên những rục nước, tiếng gió thì thào xuyên những tán rừng.
Đó là tiếng đàn tình yêu, tiếng đàn khiến những chàng trai ưng cái bụng,
nghe bùi. Tiếng nhạc vang khắp núi rừng, khiến người đi qua không kiềm lòng
được mà ghé thăm, dừng chân lại.Đêm đêm, dưới ánh trăng mờ tỏ, những chàng
trai dùng thứ âm thanh mộc mạc của cây đàn Trơ bon để gọi bạn gái. Những âm
thanh đó ngân vang dưới chân núi Ka Đay khiến đại ngàn Trường Sơn vốn trầm
mặc trở nên huyền diệu.
Thiếu tá Dương Thanh Tịnh - Đội trưởng Tổ công tác thuộc Đồn Biên
Phòng 575 cho biết: “Trong nét văn hóa của tộc người Chứt trước đây, có sáo
Pi, đàn Muôi (đàn môi), đàn Trơ bon (đàn nứa), từ con trai đến con gái đều biết
cách làm và sử dụng. Nhất là đối với những đôi trai gái yêu nhau dùng sáo, đàn
thay cho lời nói để hiểu nhau và trở thành vợ chồng. Bên cạnh đó đàn, sáo được
dùng trong lễ hội như đám cưới, lễ hội xuống giông, lễ cúng hồn lúa...”.
Bà Hồ Thị Sen ở bản Rào Tre (xã Hương Liên, huyện Hương Khê, Hà
Tĩnh) không nhớ năm nay mình bao nhiêu tuổi, cũng không nhớ mình biết kéo
đàn Trơ bon từ bao giờ. Bà chỉ nhớ rằng, từ khi chưa có người yêu, bà đã kéo
13
cũng kém. Dây cước, dây tơ thì âm thanh có vẻ mềm hơn nhưng không thể lớn
như dây kim khí, kim loại được”. Tuy vậy, đối với họ đó cũng là niềm tự hào
khôn xiết về dân tộc mình.
-Đàn môi:
Đàn môi là từ tiếng Việt để chỉ một loại nhạc cụ dân tộc làm bằng tre, phổ biến
hầu hết trong các cộng đồng dân tộc ở Việt Nam với nhiều tên gọi khác nhau.
Gọi đàn môi là do thói quen gọi lâu ngày ở Việt Nam. Thật ra nhạc cụ chưa hẳn
là đàn, bởi vì các nhà nghiên cứu phân tích nó theo nhiều cách khác nhau. Có
14
người cho rằng đàn môi là nhạc cụ dây vì có lưỡi là dây rung, khoang miệng là
bộ phận tăng âm. Người khác bảo đàn môi là nhạc cụ hơi vì chiếc lưỡi làm
nhiệm vụ lưỡi gà như trong khèn. Quan điểm thứ 3 cho rằng nó là nhạc cụ tự
thân vang, nguồn âm thanh xuất phát từ chiếc lưỡi rung toàn thân.
Đàn môi thường làm bằng 1 miếng đồng dát mỏng hay mảnh tre vót
mỏng tạo dáng chiếc lá tre. Người ta cắt một chiếc lưỡi dài theo chiều thân đàn,
phần đầu lưỡi rời ra chỉ còn phần gốc dính vào thân đàn. Chiếc lưỡi này là bộ
phận rung của nhạc cụ. Phần cuối thân đàn có buộc 1 sợi dây hay có 1 tay cầm.
Khi thổi người ta giữ sợi dây hay tay cầm bằng tay trái, đặt đàn cách
đôi môi một chút, đủ để không chạm vào răng. Ngón cái của tay phải bật vào
đầu đàn khiến lưỡi rung lên, chuyển chấn động đến khoang miệng và vang lên
trong khoang miệng. Khi thay đổi khẩu hình âm thanh sẽ phát ra khác nhau, tuy
nhiên số lượng âm không nhiều, cao độ không chuẩn, hơi nhòe và nghe nhỏ.
2.1.2. Dân ca
Tộc người Chứt nổi tiếng với điệu kà tơm - tà lềnh được nhiều người ưa
thích. Với đồng bào Chứt thì sinh hoạt luôn là món ăn tinh thần không thể thiếu.
Làn điệu kà tơm - tà lềnh là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian có từ lâu
đời của các dân tộc. Trong kho tàng văn hóa dân gian của người Mã Liềng,
những làn điệu dân ca với nội dung phong phú, được sử dụng trong nhiều
những câu trêu ghẹo nhau nghịch ngợm, hóm hỉnh và có khi là những lời răn
dạy con người. Ở đây điệu kà tơm - tà lênh có vần điệu rất thô sơ giống như
những điệu cổ sơ của các điệu hát ví và hát dặm nghệ tĩnh.
Điệu hát kà tơm - tà lênh là kết quả của quá trình tư duy của đồng bào xuất phát
từ thực tiễn sinh động của cuộc đấu tranh với thiên nhiên, với sự vận động và
phát triển của xã hội. Nhưng rất tiếc ngày nay do cuộc sống của đồng bào có
nhiều thay đổi, cho nên các làn điệu dân ca đang bị mất mát dần và chưa có
biện pháp nào để khai thác và lưu giữ trong đời sống văn nghệ ngày hôm nay.
-Ca dao cơm Pồi:
1. Trời mưa dác chẳn queng hồi.
Eng khôông lế cấy, ai tâm Pồi cho eng ăn.
Nghĩa là:
Trời mưa nước chảy quanh hồi.
Anh không lấy vợ, ai giã bồi cho anh ăn.
2. Trôông cho mau tếng mùa Pồi
Nhớ con ôốc tực tang ngồi trên vâm.
Nghĩa là:
16
Trông cho mau đến mùa Pồi
Nhớ con ốc vặn đang ngồi trên mâm
Và:
3.Mặt trời tá các tôộng ngồi
Ti nô cúng nhớ cơm Pồi, thâu lang.
Nghĩa là:
Mặt trời đã gác động ngồi
Đi đâu cũng nhó cơm Pồi, rau khoai.
Trong cuộc sống sinh tồn và phát triển của bất cứ cộng đồng dân tộc nào, văn
hóa ẩm thực đóng một vai trò rất quan trọng, nó không chỉ bảo đảm cho con
Trong 3 cách nấu trên, cách nấu thứ nhất là ngon nhất, cơm Pồi có hương vị đặc
biệt. Đồng bào thường ăn cơm Pồi với canh rau rừng nấu với các loại cá, ốc bắt
được dưới khe suối hoặc thịt thú rừng săn bắt được.
-Vốn cổ vùng cao:
Con ngủ đi con
Cho mẹ đi tuốt lúa về làm ăn
Cho bố đi bắn con gấu về làm ăn
Tộc người Chứt, là đồng bào dân tộc thiểu số có số dân không nhiều, lại phân
thành nhiều tộc người, trong đó có những nhóm tộc người chỉ có vài trăm người
như Arem, Rục,...sinh sống chủ yếu ở các xã vùng biên giới, nơi có điều kiện tự
nhiên - xã hội khó khăn. Tuy vậy, trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh
với thiên nhiên để sinh tồn, đồng bào các dân tộc thiểu số Quảng Bình đã cố
gắng sáng tạo và gìn giữ cho riêng mình rất nhiều giá trị văn hoá vật chất, tinh
thần độc đáo, trong đó có vốn văn học dân gian đặc sắc.
Trong kho tàng văn học dân gian của người Chứt nói riêng và của đồng bào
thiểu số tại tỉnh Quảng Bình nói chung, nghệ thuật ngôn từ chiếm vị trí đặc biệt
quan trọng, trong đó, ca dao, dân ca xuất hiện thường xuyên trong đời sống tinh
thần của đồng bào; ngoài ra, còn có tục ngữ, câu đố và một số loại thể khác,
nhưng số lượng không đáng kể.
Ca dao dân tộc thiểu số Quảng Bình (bao gồm cả phần lời trong các làn điệu
dân ca) có nội dung và nghệ thuật khá độc đáo. Nhìn chung, ca dao các dân tộc
thiểu số Quảng bình tập trung phản ánh các nội dung chính sau đây:
18
Thứ nhất: Tình yêu quê hương, làng bản, lòng tự hào với sự giàu có,
trù phú của núi rừng, qua đó động viên nhau quyết giữ lấy “núi rừng quê ta”.
Thứ hai:Tình yêu lao động, dẫu là một thứ lao động cổ truyền vất vả từ
sáng đến chiều, nhưng là tự do, nên vẫn say sưa , vẫn thích thú, vì nó đem lại
Nữ:
Đi tìm con ká tơm, hỡi anh!
Bắt được bỏ vào ca dăng, hỡi anh!
Lấy trầu ăn trầu, hỡi anh!
Đã chờ đợi nhau
Chờ đợi đến gặp nhau
Mang nặng, nắng nóng mấy cũng đi, hỡi anh!
(Pa eo-Tơm tá lêng – Dân tộc Chứt)
Tình cảm gia đình, tình yêu thương cha con, mẹ con cũng được biểu hiện sâu
sắc trong lao động làm ăn hằng ngày bằng những lời ca mộc mạc, chan chứa
tình người: ông bà dạy cháu, cha mẹ dạy con nên người:
Siêng làm ăn, đừng nhác
Muốn được vợ, được chồng
Như thiên hạ,
Như xóm làng
Phải làm bằng xóm làng
Đừng nói huyên thuyên
Chớ ghen tuông thàm thẹ
Mà phải theo anh em
Theo họ hàng làng xóm
(Bố dạy con – Hát ru Dân tộc Chứt)
Với tư cách lời các bài dân ca cũng được sử dụng nhiều trong những lúc
đi phát rừng làm rẫy, đi rừng tìm ong, làm vòng bẫy chim thú rừng, đi khe suối
câu, chài cá, bắt cua đá, xúc tôm hoặc đi nằm chòi canh giữ nương rẫy:
Con ngủ đi con
Cho mẹ đi tuốt lúa về làm ăn
Cho bố đi bắn con gấu về làm ăn…
Ngủ đi con
Để mẹ đi làm
Lấy cây mía, lấy quả chuối
khác giải thích nguồn gốc các dân tộc đi lạc khỏi mô típ quen thuộc của chính
họ. Chẳng hạn truyện “Người Chứt mất chữ, mất họ” kể rằng người Chứt và
người miền xuôi có được là nhờ Pụt (bụt) sinh ra hai cái trứng và nở ra họ như
một tiền định.
Truyện cổ các dân tộc thiểu số Quảng Bình còn thiếu vắng các truyện
kể về những anh hùng chinh phục tự nhiên, sáng tạo văn hóa. Tuy người Chứt
có cho rằng mình từng có chữ viết từ lâu do Pụt (Bụt) ban cho, nhưng vì bảo
quản không tốt nên đã bị thất truyền (truyện: người Mày mất chữ mất họ -Dân
tộc Chứt ). Hoặc như truyện Người Mày và người Nguồn con một nhà mà ra có
21
đề cập đến một cuốn “sách phép” dạy các cách phù phép thổi chữa bách bệnh
do chính tổ tiên họ biên soạn, nhưng đây cũng chỉ là sự “ngụy biện” yếu ớt để
giải thích sự chậm phát triển của mình so với một số dân tộc khác.
Ca dao dân ca của tộc người Chứt nói riêng của đồng bào dân tộc thiểu số
Quảng Bình nói chunglà một sản phẩm tinh thần vô cùng quý giá cần phải được
tiếp tục sưu tầm, nghiên cứu và phát huy.Tuy kho tàng truyện cổ dân tộc ít
người chưa phong phú như nhiều dân tộc thiểu số khác, nhưng nó phần nào nói
lên lịch sử tộc người, khát vọng của con người muốn vươn lên chinh phục tự
nhiên, cải tạo xã hội để giành lấy cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Đồng thời nó
cũng thể hiện quan niệm của đồng bào về những phạm trù mỹ học chân, thiện,
mỹ và tinh thần cao thượng. Truyện cổ dân tộc thiểu số vì thế có tác dụng giáo
dục sâu sắc.
2.2.Gía trị của văn nghệ dân gian của tộc người Chứt đối với kho tàng văn
học Việt Nam
2.2.1. Giá trị cấu kết cộng đồng
Mỗi cá nhân là một tế bào của xã hôi, không ai có thể tách ra khỏi cái vỏ bọc xã
hội. Mỗi cá nhân cũng không thể nào sống mà thiếu đi cộng đồng. Nó là nền
tảng, là sức mạnh để mỗi cá thể nương tựa vào nhau, gắn kết cùng nhau.Từ
mỗi thành viên đều đắm mình trong dòng suối dân ca với những lời răn dạy.
Haynhững lời đúc kết kinh nghiệm, chuẩn mực đạo đức thể hiện qua các hình
thức hát ru, tiếng sáo, tiếng đàn tình yêu mà lớn lên.
Như vậy, nếu được tiếp xúc, học hỏi với vốn văn nghệ dân gian từ sớm sẽ hình
thành những nhân cách tốt đẹp. Bởi nó đều là những thứ quan trọng cần thiết và
ảnh hưởng tới mỗi cá nhân. Văn nghệ dân gian cứ thế thông qua môi trường
cộng đồng (gia đình, dòng họ, làng xóm, tộc người,...) tác động đến việc hình
thành ứng xử của mỗi người. Sự tác động này khá chặt chẽ ở cả 3 công đoạn là
định hướng chuẩn mực, tạo khuôn mẫu ứng xử và tạo ra chế tài thực thi giám
sát. Đây là mô hình hình thành nhân cách, tạo ra nếp sống và quản lý xã hội
chặt chẽ.
2.2.3. Giá trị lịch sử
Văn nghệ dân gian của người Chứt ra đời và phát triển theo thời gian. Từ thuở
khai sinh lập địa cho tới tận ngày nay. Nó là những người con tinh thần mà họ
đã sáng tạo ra lấy cảm hứng từ những công việc đời thường, nhu cầu cần được
đáp ứng. Nó gần gũi, gắn bó với mỗi cá nhân. Chính vì vậy, chúng ta không thể
không chú ý và thấu hiểu văn hóa tộc người của dân tộc Chứt, một tài sản tinh
thần truyền thống do chính đồng bào xây dựng nên từ hàng trăm năm nay. Các
giá trị tinh thần truyền thống quý giá đó, đến lượt mình đã trở thành “môi
trường” sống thân thuộc bên cạnh môi trường tự nhiên, cùng bảo bọc, hỗ trợ đời
sống của biết bao thế hệ đồng bào người Chứt.
23
Phần 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ
VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA TỘC NGƯỜI CHỨT
3.1. Ưu điểm và nhược điểm
3.1.1. Ưu điểm
số ít người nhất ở tỉnh ta thoát đói, giảm nghèo, cải thiện và nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần một cách bền vững.
Bên cạnh các chương trình kế hoạch chuyên môn được xây dựng chu đáo, thiển
nghĩ, chúng ta không thể không chú ý và thấu hiểu văn hóa tộc người của dân
tộc Chứt, một tài sản tinh thần truyền thống do chính đồng bào xây dựng nên từ
hàng trăm năm nay. Các giá trị tinh thần truyền thống quý giá đó, đến lượt mình
đã trở thành “môi trường” sống thân thuộc bên cạnh môi trường tự nhiên, cùng
bảo bọc, hỗ trợ đời sống của biết bao thế hệ đồng bào người Chứt.
Mặt khác, so với sự thuần nhất tộc người của 16 dân tộc rất ít người trong cả
nước được lựa chọn tham gia đề án, chỉ có dân tộc Chứt ở Quảng Bình (cùng
với dân tộc La Hủ) là được hình thành từ nhiều nhóm địa phương, và do vậy,
việc tìm hiểu, lựa chọn nhiều nhất những mặt tích cực, sự tương đồng tộc
người, hạn chế những mặt chưa phù hợp, sự dị biệt từ phong tục tập quán, từ
các tri thức bản địa, các giá trị truyền thống như một yếu tố bổ trợ rất cần thiết
khi triển khai dự án là cách tiếp cận mềm mại và bền vững đối với đồng bào
dân tộc Chứt.
25