Văn nghệ dân gian của tộc NGƯỜI NGÁI ở xã hóa Thượng, Đồng Hỷ, Thái Nguyên - Pdf 48

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................1


MỞ ĐẦU

Việt Nam một quốc gia đa dân tộc, với một nền văn hóa đa dạng mà thống nhất.
Văn hóa là dòng chảy xuyên suốt của quá khứ, hiện tại và tương lai của mỗi dân tộc.
Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, mỗi dân tộc tạo dựng cho mình một
kho tàng văn hóa đồ sộ, một truyền thống văn hóa riêng khác biệt so với các dân tộc
khác. Những giá trị văn hóa đó tạo nên bản sắc văn hóa tộc người, là những chuẩn
mực để phân biệt dân tộc này với dân tộc kia.
Là sinh viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, đòi hỏi tôi năm chắc những kiến
thức về phong tục, tập quán và tín ngưỡng của 54 dân tộc anh em. Chính vì vậy, học
phần Văn hóa các dân tộc thiểu số - môn học chuyên ngành không thể thiếu đối với
sinh viên ngành quản lý văn hóa, đã trang bị cho chúng tôi những kiến thức chuyên
sâu, hiểu biết về các yếu tố của các dân tộc thiểu số như : Kinh tế, trang phục, nhà
cửa, ẩm thực, hôn nhân, ma chay, tín ngưỡng, văn nghệ dân gian, lễ hội, thiết chế xã
hội. Đây cũng là nền tảng kiến thức để tôi tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về giá trị
văn hóa dân gian của dân tộc Ngái.
Dân tộc Ngái là một trong những dân tộc ít người ở Việt Nam, họ có nhiều gốc
khác nhau và thiên di tới Việt Nam làm nhiều đợt. Quá trình này diễn ra suốt thời kỳ
Trung và Cận đại. Người Ngái sống phân tán trong các tỉnh Bắc Giang, Cao Bằng,
Lạng Sơn, Quảng Ninh...
Dưới góc chiếu của nhà quản lý văn hóa việc thực hiện đề tài là một việc làm
thiết thực để góp phần khai thác, khẳng định, bổ sung cho văn nghệ dân gian Việt
Nam thêm phong phú, đa dạng. Văn nghệ dân gian của người Ngái là di sản văn hoá
quý báu của dân tộc nói chung và dân tộc Ngái nói riêng còn ít người biết tới. Do vậy,
việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị của văn hoá dân
tộc Ngái là sự trăn trở của nhiều người đặc biệt là đối với sinh viên ngành quản lý
2

Mông, Hoa (Theo số liệu điều tra dân số nhà ở năm 2009).Trong khi đó 38 dân tộc
thiểu số còn lại có 3.755 người, gồm nhiều dân tộc khác nhau mới nhập cư đến từ các
tỉnh khác vào thời kỳ của những năm 60 thế kỷ 20 trở lại đây từ bằng những con đường
như đến học tập, công tác, hoặc lấy vợ, lấy chồng về Thái Nguyên sinh sống rồi định
cư tại đây. Trong các dân tộc khác đáng chú ý là Dân tộc Ngái người Ngái ở Thái
Nguyên theo Tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999 tỉnh Thái Nguyên chỉ có 422 nhân
khẩu, sinh sống phân tán ở các huyện Đại Từ (110 người, nam: 60, nữ: 50),thành phố
Thái Nguyên (86 nhân khẩu, nam: 42, nữ: 44), Phổ Yên (31 nhân khẩu, nam: 21, nữ:
4


10), đặt biệt không thể không nói đến người Ngái ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên. Tại xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, huyện Đổng Hỷ, tình Thái Nguyên là nơi
được ghi nhận người Ngái tập trung đông nhất, còn ở các địa phương khác, bà con
sống xen kẽ với các dân tộc anh em xung quanh là người Kinh, Tày, Hoa và Sán Dìu.
Hóa Thượng là một xã thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Trụ
sở Quân khu 1 đóng trên địa bàn xã, có diện tích 13,66 km², dân số năm 1999 là 8881
người, mật độ dân số đạt 650 người/km². Xã nằm cửa ngõ phía bắc của huyện lị Chùa
Hang và có tuyến quốc lộ 1B cũ và mới cùng tuyến tỉnh lộ 259 chạy trên địa bàn. Hóa
Thượng cũng Giáp với sông Cầu ở phần ranh giới tây bắc.
Ở Xã Hóa Thượng, cộng đồng người Ngái lập xóm, sống quần tụ yên bình dưới
chân núi Cái và núi Hột, xóm Tam Thái đã hơn 80 năm nay. Khi mới đến vùng này,
thấy đất đai màu mỡ, địa thế thuận lợi nên người Ngái quyết định ở lại sinh cơ lập
nghiệp. Họ phát cây, phá núi làm nhà, khai hoang ruộng đất, rồi kết hôn với người Sán
Dìu và các dân tộc khác, sinh con và phát triển kinh tế, xây dựng xóm làng.
Người Ngái sinh sống trong nội địa lấy việc trồng lúa nước làm nguồn sống
chính. Ngoài ra họ còn trồng ngô, khoai, sắn, chăn nuôi... Bộ phận ở ven biển và hải
đảo sống bằng nghề đánh cá là chủ yếu. Thủ công nghiệp với các nghề như làm mành
trúc, dệt chiếu, mộc, nề, rèn, gạch ngói, nung vôi... cũng đóng vai trò đáng kể trong đời
sống của người Ngái.

Phòng Thành (Quảng Tây, Trung Quốc) rồi từ đây di cư vào khu vực Móng Cái, Đầm
Hà, Hà Cối thuộc tỉnh Hải Ninh (cũ), nay thuộc tỉnh Quảng Ninh. Thời điểm các
dòng họ di cư đến khu vực này tính đến nay đã 7-8 đời, tức khoảng hơn 100 năm. Từ
đây, các gia đình dần dần di cư vào sâu hơn trong đất liền, lên các tỉnh Thái
Nguyên , Bắc Giang, Lạng Sơn. Một bộ phận lớn người Ngái đã di cư vào Nam
năm 1954.
Trước năm 1979, người Ngái và các nhóm nói tiếng Ngái như Khách, Khách
gia, Hắc Cá, Sín và Đản đều được xem là một bộ phận của dân tộc Hoa.
Năm 1979, người Ngái lần đầu tiên được tách ra khỏi dân tộc Hoa để trở thành
một tộc người riêng, khác Hoa. Có ý kiến cho rằng việc tách nhóm Ngái khỏi người
6


Hán là chính sách phân hóa của Việt Nam để làm giảm cố kết của họ với các nhóm
gốc Hán. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng việc tách người
Ngái khỏi dân tộc Hoa là có cơ sở khoa học và là một cách để chống lại chủ nghĩa
bá quyền Trung Quốc. Kể từ khi người Ngái được công nhận là một tộc người riêng
biệt đến nay vẫn chưa được giới dân tộc học và nhân học quan tâm đúng mức. Chính
vì vậy các công trình nghiên cứu về người Ngái ở Việt Nam còn rất hạn chế. Ngoài
nghiên cứu ít ỏi và sơ lược có nhắc đến các nhóm nói tiếng Ngái và Hắc cá/Khách
giakhông thấy có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về người Ngái. Các công
trình chuyên khảo mang tính học thuật vô cùng ít ỏi và mờ nhạt.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ngái ở Việt Nam chỉ còn
1.035 người, có mặt ở 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ngái cư trú tập trung
tại các tỉnh: Thái Nguyên (495 người, chiếm 47,8% tổng số người Ngái tại Việt
Nam), Bình Thuận (157 người, chiếm 15,2% tổng số người Ngái tại Việt Nam), Đồng
Nai (53 người), Bắc Kạn (48 người), Tuyên Quang (43 người), Đắk Lắk (37
người), Cao Bằng (30 người)...Họ có các nhóm địa phương, như: Ngái Hắc Cá, Sín,
Đàn, Lê… Các nhóm này tương ứng với các cộng đồng người Ngái từ các địa phương
khác nhau của Trung Quốc, di cư đến Việt Nam vào các thời điểm khác nhau. Các

món ăn mang đậm tính dân tộc: Miến, mì, xíu mại được chế biến từ gạo hoặc dong
quá trình chế biến thức ăn, các loại gia vị như hành, tỏi, ớt, gừng, rau thơm hầu như
không thể thiếu.Người Ngái rất cần trọng trong việc ăn uống. Theo quan niệm của họ
trong quá trình chế biến thức ăn việc sử dụng gia vị một cách tương hợp không chỉ
gắn với khẩu vị mà đó còn là một trong những cách phòng, chữa bệnh. Hơn thế nữa
theo người Ngái một số món ăn ngoài việc bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể còn
thể hiện vốn tri thức dân gian phong phú [A4,tr 33].
1.3.2. Văn hóa tinh thần
-

Người Ngái tin vào đa thần, vạn vật hữu linh, mọi vật đề có xác và hồn.
Thông thường các gia đinh người Ngái đều lập bàn thờ để thờ cúng tổ tiên, ông

-

bà, cha mẹ mình. Bàn thờ là nơi trang trọng nhất trong nhà.
Người Ngái cũng tin vào các vị thần: thần song, thần núi, thần cây, các bị thần
bảo hộ gia súc, gia cầm. Gặp năm mùa màng thất bại, đồng bào cũng tổ chức

8


cúng các vị thần trên, cầu mong các thần cho mưa thuận gió hòa, mùa manngf
-

bội thu.
Người Ngái có một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú với loại hình nghệ
thuật như dân ca, dân vũ và đặc biệt là loại văn học truyền miệng. Họ có nhiều
truyền thuyết, truyện cổ tích, thành ngữ, tục ngữ... thể hiện quan niệm của họ


-

đông anh em...) mới có hiện tượng ở rể.
Đối với người Ngái, phụ nữ có mang và sinh nở bắt buộc phải kiêng khem
nhiều thứ trong cả ăn uống và hành vi. Trẻ sơ sinh sau 2-3 ngày đã được mẹ

-

cho ăn bột.
Người Ngái quan niệm chết tức là linh hồn chuyển sang sống trong một thế giới
khác. Vì thế họ thường chôn theo người chết những đồ tuỳ táng mà khi sống
9


người ta vẫn dùng. Tang lễ có nhiều công đoạn phức tạp: báo tang, nhập quan,
chôn cất, mở mả...

Chương 2
MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
TRONG KHO TÀNG VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI NGÁI.
2.1.

Một số loại hình văn nghệ dân gian
2.1.1. Truyền thuyết

10


Truyền thuyết là một loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc, là tên gọi dùng để
chỉ một nhóm những sáng tác dân gian truyền miệng nhằm lý giải một số hiện tượng

ngốc nghếch và cả những câu chuyện kể về các con vật nói năng và hoạt động như
con người.
Truyện kể dân gian của dân tộc Ngái có những tương đồng cơ bản với truyện
kể dân gian dân tộc Việt và các dân tộc thiểu số khác. Sự tương đồng thể hiện trên
nhiều phương diện như cơ cấu thể loại, đặc trưng nội dung và hình thức của các thể
loại, các nhóm truyện và kiểu truyện tiêu biểu trong mỗi thể loại, thậm chí là hệ
thống cấu trúc chính trong các kiểu truyện. Tuy nhiên, những nhân vật mà dân tộc
Ngái sáng tạo có nét riêng nhất định so với các nhân vật truyện của dân tộc khác, do
ảnh hưởng bởi đời sống tín ngưỡng, bản sắc văn hóa, phong tục tập quán ở nơi đây.
Các nhân vật chính trong nhóm truyện của người Ngái được các tác giả đặc
biệt nhấn mạnh đến trí thông minh và coi trí thông minh là phương tiện quan trọng để
đấu tranh chống lại các thế lực gian ác trong xã hội, mang lại hạnh phúc cho nhân vật
và giành lại công bằng cho những con người lương thiện. Những nhân vật này có thể
chia về hai loại: chàng mồ côi (nghèo khổ) thông minh, và người chồng thông minh.
Mồ côi vốn là loại nhân vật điển hình được quan tâm và miêu tả trong nhiều
kiểu truyện của cổ tích thần kỳ. Ở đó, mồ côi xuất hiện với một số phận bất hạnh,
nghèo khổ và phải nhờ đến những phép màu kỳ diệu thì cuộc đời họ mới được an ủi
và trở nên hạnh phúc. Đến đây, mối quan tâm của đồng bào các dân tộc vẫn còn dành
phần lớn cho những nhân vật mồ côi ấy nhưng cách nhìn, cách kể đã có nhiều biến
đổi. Không còn là những mồ côi bất hạnh, bế tắc, trông chờ vào lực lượng thần kỳ mà
đã là những nhân vật mồ côi giàu trí thông minh, sự khôn ngoan và chút láu lỉnh, hài

12


hước. Kết cấu chung cho kiểu truyện về người mồ côi bất hạnh mà người Ngái xây
dựng đã được định hình dựa trên hai kiểu chủ yếu:
Một là kiểu kết cấu ba phần:
- Nhân vật mồ côi, cô đơn nghèo khổ
- Những chuyển biến thần kì

Theo tiếng Ngái thì Sường có nghĩa là hát, còn cô có nghĩa là ca. Đây không
chỉ gồm các bài hát ghẹo, hát ví đối đáp gắn liền với đời sống sinh hoạt văn hóa dân
gian của người Ngái, ca ngợi tình yêu nam, nữ trong buổi đầu thẹn thùng giao duyên
mà còn ca ngợi quê hương giàu đẹp. Sường cô được xuyên được hát trong các dịp lễ
hội, lễ tết, trong cưới xin. Vào mùa Xuân, trong các buổi giao duyên giữa trai làng
này với gái làng khác thường kéo dài thâu đêm. Nội dung các bài hát giao duyên đều
ca ngợi tình yêu đôi lứa, ca ngợi các loài hoa như : hoa đào, hoa hồng, hoa chè, hoa
chuối, hoa mẫu đơn...
Lời hát được ghi chép thành sách hay truyền miêng lưu từ đời nọ đến đời kia,
hoặc có khi được ứng khẩu tại chỗ trong những lúc lao động mệt nhọc để động viên
nhau. Lời ca và giai điệu của Sường cô không hề khô cứng mà mềm dẻo đầy sức lan
tỏa, diễn đạt tâm tư tình cảm của người hát, làm mê đắm lòng người.
Những câu hát sường cô không bị giới hạn bởi không gian, thời gian , hoàn
cảnh cũng như mội trường diễn xướng, người Ngái có hát đối với nhau 5 đến 7 ngày
đêm liền mà không bị trùng lặp ý. Những câu ca Sường cô có thể được cất lên ở bất
kì chỗ nào, ở bờ suối, khi đi làm, trong khi ru con, hoặc trong các lễ hội của người
Ngái.
Môi trường diễn xướng của hát Sường cô khá tự do. Có lẽ vì thế mà nó có
sức sống kỳ diệu trong sinh hoạt văn nghệ của người Ngái. Người hát có thể hát ở
những môi trường như:
1. Hát giao duyên bên bờ suối: Là những bài hát được thể hiện trong lúc thanh
niên nam nữ của hai/nhiều làng đứng ở bờ suối - nơi được coi là ranh giới phân định
giữa các làng vào những đêm sáng trăng, đối đáp với nhau, qua đó thể hiện tình cảm
của mình qua những lời hát.

14


2. Hát Sường cô trong lao động sản xuất: Thường là những bài hát được cất
lên trong những lúc lao động, thể hiện những tâm hồn đầy lãng mạn. Giúp giảm bớt

một đêm hát giao duyên. Hai người hát giao duyên bằng những cuộc đối đáp với lời
lẽ như thách đố đối phương bên kia. Người nam hát một câu , sau đó đến lượt nữ đáp
trả, cứ như vậy cho tới khi cả hai bên có sự hài lòng nhất điịnh về đối phương.
Hát giao duyên của người Ngái không giống như trong hát Quan Họ là các liền
anh, liền chị, mặc dù hát với nhau tình cảm đến mấy, khi hát có thể liếc mắt đưa tình
trông đầy tình tứ là vậy nhưng họ không bao giờ được lấy nhau, Còn với hát Sường
cô, các chàng trai, cô gái, có thể mặc sức thông qua lời hát để ngỏ lời, chọn bạn tình,
chọn bạn đời cho mình. Nếu hai bên hát giao duyên thực sự ăn ý và hợp nhau thì họ
có thể ngẫu hứng sáng tác thêm vào Sường cô để đối đáp mãi tới 5 hoặc 7 ngày, bởi
những ca từ phong phú của lối Sường cô.
Hát giao duyên không chỉ là phương tiện thể hiện tài năng của các đôi nam
nữ mà còn là nơi gửi gắm và thể hiện ước mơ, quan niệm về người bạn tình cũng như
tình cảm của những người đang tìm hiểu nhau. Do vậy, nội dung của hát giao duyên
rất phong phú và đa dạng, thể hiện sự tinh túy và sâu lắng trong đời sống tình cảm
của người Ngái.
Ca dao, thành ngữ, tục ngữ của người Ngái ở Thái Nguyên đa dạng và phong
phú , chủ yếu để khuyên răn con người phải làm điều thiện, không được làm việc sai
trái, không đúng với đạo lý. Thể hiện quan niệm của họ về thế giới quan, nhân sinh
quan đến nay còn giàu ý nghĩa nhân bản. Mượn những hình ảnh gần gữi với đời sống
của sinh hoạt , lao động của đồng bào, cây lúa, con chim, con suối,... nhằm ca ngợi về
vẻ đẹp của thiên nhiên thiên nhiên, về các hoạt động trong lao động sản xuất của
người dân, ngoài ra còn ca ca ngợi về các thần linh đã ban vụ mùa tốt tươi cho đồng
bào.
Nết đặc biệt của văn hóa người Ngái đó là tính truyền miệng. Văn học truyền
miệng có nhiều thể loại, được nhiều người quan tâm ca ngợi là loại thơ văn trữ tình
16


được sử dụng trong hát giao duyên. Trên làn điệu chung, một đặc điểm nổi bật là
người tham gia hát thường xuyên phải suy nghĩ, đặt lời phù hợp với tình huống. Mặt

một mảnh gỗ tròn chưa bằng miệng chén, đường kính 7 cm, cao 4 cm, được xẻ miệng
sâu vào thân khoảng 1/3 để thoát âm. Có một cần gõ bằng sừng trâu uốn mỏng hoặc
lá thép có độ đàn hồi cao, trên đầu cần có gắn miếng gỗ nhỏ để gõ xuống thân của nó,
tạo ra âm thanh đều đặn "Cốp ! Cốp !". Âm thanh Song Loan nghe đanh gọn, có cao
độ lớn nhất và âm vực rộng vang rất xa. Khi sử dụng Song loan người ta dùng tay
hoặc chân đập vào dùi gõ, dùi gõ đập vào song loan tạo ra âm thanh... Nếu người Việt
sử dụng Song loan cầm nhịp trong nhạc tài tử Nam Bộ, trong dàn nhạc sân khấu Cải
lương và trong Ca Huế, thì người Ngái sử dụng Song Loan trong các ngày lễ của
mình.
Nhạc cụ Chũm chọe là một nhạc cụ bộ gõ cực kỳ phổ biến trên thế giới [A8,tr
35]. Chũm chọe là những tấm hợp kim mỏng, hình tròn. Kích thước của Chũm chọe
không xác định (có nhiều loại khác nhau phân biệt dựa vào kích thước), tuy nhiên
cũng có loại chũm chọe có hình dạng những đĩa nhỏ, kích thước xác định để tạo ra
những nốt nhạc cố định.
Cấu tạo của các chũm choẹ là yếu tố chính quyết định âm thanh nó tạo ra.
Chũm chọe là những tấm hợp kim hình tròn. Có một lỗ khoan ở trung tâm của chũm
choẹ được sử dụng để treo chũm choẹ trên một giá đỡ hoặc buộc dây đai (cho người
chơi xỏ tay vào). Xung quanh lỗ khoan là một phần nhô lên thường gọi là
núm hay chuông (vì nó có tác dụng tương tự như Chuông). Kích thước của chũm
choẹ (thường đo theo inch hoặc cm) ảnh hưởng đến âm thanh của nó, chũm choẹ lớn
hơn thường có âm to hơn và kéo dài. Trọng lương cũng quan trọng đối với âm thanh.

18


Chũm chọe nặng hơn phát âm thanh tốt hơn (khi sử dụng dùi trống). Chũm chọe
mỏng có âm thanh tròn hơn, độ vang thấp hơn và rung nhanh hơn.
Tù và là một loại dung cụ dùng để báo hiệu, là lệnh bắt đầu của một vấn đề
nào đó, hoặc có chức năng của một nhạc cụ dân tộc [A9,tr 35]. Nguyên liệu chính để
làm nên chiếc Tù và dó là được từ sừng trâu, sừng bò, ngà voi hoặc các loại vỏ ốc,

khỏe, tổ chức cộng đồng, của một tộc người hoặc một cộng đồng tại một khu vực địa
lý cụ thể. Nó được hình thành trong quá trình sống và lao động của cả cộng đồng, từ
đàn ông, đàn bà, người lớn tuổi đến trẻ em. Nó được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu
truyền bằng miệng.
Ở mỗi cộng đồng, TTBĐ cũng biến đổi theo thời gian và qua các thế hệ.
Trong quá trình giao lưu với các dân tộc khác và với sự tiến bộ của khoa học và kỹ
thuật, nhiều tập quán có khi cũng bị thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của đời sống
hiện tại. Cũng giống như vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn nghệ dân gian của
người Ngái ở Thái Nguyên không chỉ còn là hình thức truyền miệng như ngày xưa
nữa. Giờ đây đồng bào biết tận dụng truyền thống đại chúng, xây dựng những
chương trình chính sách phù hợp. Sự thay đổi này là cần thiết, nó không mâu thuẫn
và làm mất bản sắc của từng dân tộc. Ngược lại, nếp sống mới sẽ bổ sung và làm
phong phú thêm cho những tập quán truyền thống, giữ gìn được bản sắc dân tộc và sự
phát triển của cộng đồng được bền vững hơn.
Điều này cho thấy TTBĐ có tầm quan trọng lớn trong việc thực hiện các dự
án phát triển mang tính bền vững cho nên không những chỉ các nước đang phát triển
mà các nước có nền khoa học phát triển cao cũng rất chú ý sưu tầm, phân tích và ứng
dụng tri thức bản địa, nhằm tìm kiếm những giải pháp quản lý bền vững cổ truyền
cũng như giá trị của các tài nguyên mà khoa học hiện đại chưa biết tới.
Trong số các dân tộc thiểu số sống trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc,
dân tộc Ngái là một trong những dân tộc ít người nhất, mà quá trình di cư đến Thái
nguyên cũng chưa lâu. Tuy nhiên thì người Ngái đã có quan niệm rất đúng đắn rằng:
20


Văn nghệ dân gian là yếu tố quyết quan trọng, góp phần khẳng định bản sắc dân tộc,
cũng như thể hiện sự đoàn kết dân tộc.
Qua quá trình trải nghiệm và sống hài hòa với môi trường tự nhiên, người Ngái
đã đúc kết lại kho tàng tri thức bản địa của mình như: Sống hài hòa với thiên nhiên
nên coi thiên nhiên là bạn họ tôn thờ các vị thần như thần núi, thần sông, thần rừng,

truyền lại từ đời này sang đời khác.
2.2.2. Giá trị văn hóa, nghệ thuật
Có thể nói văn nghệ dân gian là một di sản văn hoá quý báu có giá trị nghệ
thuật độc đáo của tộc người Ngái. Trong các lễ hội có nhiều loại hình văn hoá nghệ
thuật được trình diễn. Những bài hát, điệu múa trong lễ Kỳ Yên của người Ngái nhằm
báo cáo với thần linh về kết quả sản xuất của một năm qua của bà con dân tộc, cũng
như mong cho một năm mới mọi nhà mọi vật đều hưng thịnh.
Các loại nhạc cụ dân tộc như cảnh, thanh la, song loan… được sử dụng
trong các dịp lễ, tết. Mỗi loại nhạc cụ đều có những thanh âm riêng tạo sự độc đáo
khi kết hợp với nhau. Âm nhạc trong lễ hát dao duyên cũng rất đa dạng tuỳ thuộc vào
mỗi lễ thức cụ thể, có khi rất tĩnh nghiêm, trầm lắng, có khi lại sôi động, vui nhộn tùy
thuộc vào từng lễ.
Đây có thể coi là những giá trị văn hóa truyền thống quý báu được kết tinh
trong quá trình lao động sản xuất và sinh hoạt của đồng bào Ngái. Đó là cơ sở, làm
nền tảng cho việc sáng tạo những giá trị văn hóa mới vừa tiên tiến, vừa đậm đà bản
sắc dân tộc, đặc biệt có vai trò quan trọng trong việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ
sở phong phú, lành mạnh trong giai đoạn hiện nay.
2.2.3. Giá trị nhân văn
Giá trị nhân văn trong văn nghệ dân gian của người Ngái được thể hiện ở
chỗ giáo dục con người qua hệ thống quan điểm thể hiện tình thương yêu bản làng,
coi trọng nhân phẩm, coi trọng quyền được phát triển của con người. Qua những câu
truyện, truyền thuyết đồng báo người Ngái hiểu và nắm rõ lịch sử hình thành và phát
triển của dân tộc mình từ đó biết ơn, chân trọng cha mẹ và những người có công với
bản làng quê hương.
22


Văn nghệ dân gian giúp xây dựng nhân cách con người qua những câu
chuyện cổ tích, và các làn điệu giao duyên. Chuyện cổ tích dạy người ta thấy rằng kẻ
ác làm việc xấu nhất định chịu chừng phạt, còn người tốt thì sẽ luôn giành chiến

3 âm lịch), Ðoan ngọ (5/5), Vu lan (15/7), cơm mới (10/10), người Ngái thường được
tổ chức với sự tham gia của nhiều người. Những gia đình sống gần nhau thường gộp
chung lại cùng nhau làm lễ linh đình, cùng chung tay giúp đỡ nhau mọi việc. Qua đó
có thể thấy, người Ngái ở xã Hóa Thượng, Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên có
tinh thần cộng đồng cao.

Chương 3
MỘT SỐ GẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN NGHỆ
DÂN GIAN CỦA NGƯỜI NGÁI.
3.1. Thực trạng bảo tồn những giá trị văn nghệ dân gian của người Ngái.
24


3.1.1. Ưu điểm
Hiện nay, bà con ở xóm Tam Thái, xã Hóa Thượng, Đồng Hỷ, Thái Nguyên vẫn
còn sử dụng được tiếng Ngái trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày cũng như trong
các làn điệu dân ca, hát giao duyên ( lối hát Sường cô). Đây là một tín hiệu đáng
mừng trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn nghệ dân gian của người
Ngái ở Tam Thái nói riêng và đồng bào Ngái trên cả nước nói chung.
Vấn đề bảo tồn giá trị văn nghệ dân gian người Ngái được sự quan tâm không ít
từ Đảng và nhà nước thông qua các hội thảo- hội nghị về bảo tồn văn hóa. Ngày
6/8/2015, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức Hội nghị - Hội thảo
Giải pháp bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của 16 dân tộc thiểu số có số dân dưới
10.000 người,trong đó có dân tộc Ngái. Chương trình tổ chức nhằm tạo điều kiện cho
các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín của 16 dân được giao lưu, trao
đổi và học tập kinh nghiệm; qua đó đề xuất các giải pháp mang tính cấp bách, thiết
thực, phù hợp với dân tộc mình nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống
dân tộc ngày càng hiệu quả.
3.1.2.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status