MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Phần 1. KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI LÔ LÔ TẠI ĐỒNG VĂN, HÀ
GIANG
3
1.1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên ,dân cư và đời sống kinh tế của người Lô
Lô tại Đồng Văn, Hà Giang. 3
1.1.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 3
1.1.2. Dân cư,địa bàn cư trú .
4
1.1.3. Đời sống kinh tế 5
1.2. Khái quát về tộc người và nguồn gốc lịch sử của người Lô Lô tại Đồng
Văn, Hà Giang
5
1.2.1. Về tộc người và ngôn ngữ
1.2.2. Nguồn gốc lịch sử
5
6
14
2.2. Giá trị văn nghệ dân gian của người Lô Lô 21
2.2.1.Giá trị lịch sử
21
2.2.2. Giá trị nhân văn 22
2.2.3. Giá trị nghệ thuật
23
2.2.4.Giá trị có kết nối cộng đồng
23
0
PHẦN 3. ĐÁNH GIÁ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP ĐỂ QUẢN LÝ, BẢO
TỒN, PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ CỦA VĂN NGHỆ DÂN GIAN NGƯỜI
LÔ LÔ TẠI ĐỒNG VĂN, HÀ GIANG
24
3.1. Đánh giá các giá trị văn nghệ dân gian của dân tộc Lô Lô tại Đồng Văn,
Hà Giang
24
sắc văn hóa tộc người, làm thành những chuẩn mực để phân biệt tộc người này
với tộc người kia.
Trong các tộc người thiểu số ở nước ta,dân tộc Lô Lô có dân số 4.541
người,cư trú tại 30 trên tổng số 6 tỉnh,thành phố vào năm 2009, cư trú chủ yếu ở
các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc (tỉnh Hà Giang), Bảo Lạc (tỉnh Cao
Bằng,Mường Khương (Lào Cai) là một trong những tập xã đông người Lô Lô.
Cũng như nhiều dân tộc khác,dân tộc Lô Lô có bề dày truyền thống văn
hóa và rất giàu về vốn văn hóa dân gian.Với văn hóa dân gian ấy ra đời cùng với
sự hình thành của dân tộc,được nuôi dưỡng trong môi trường sinh thái tự
nhiên,môi trường kinh tế xã hội.
Một trong những nét tiêu biểu về văn hóa nghệ thuật của người Lô Lô là
văn nghệ dân gian.Người Lô Lô coi dân ca của dân tộc mình như một món ăn
tinh thần khong thể thiếu trong cuộc sống.Văn nghệ dân gian của người Lô Lô
đã tạo nên sự gắn kết cộng đồng,có mặt trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của
người dân nơi đây.
Tôi là sinh viên chuyên nghành quản lý văn hóa , tự nhận thấy cần phải
có trách nhiệm và nghĩa vụ giúp nền văn hóa Việt Nam được bảo tồn, phát
triển,bản thân cần phải tìm hiểu về lịch sử nguồn gốc văn hóa dân tộc,đặc biệt là
những dân tộc ít người thường ít được nhận sự quan tâm của xã hội,từ đó bảo
tồn giữ gìn và phát huy các truyền thống của dân tộc.
1
Và sau học phần văn hóa dân tộc thiểu số,tôi đã được giảng viên Trần Thị
Phương Thúy trang bị cho những kiến thức,kĩ năng cơ bản để tôi có thề hoàn
thành việc tìm hiểu văn nghệ dân gian của dân tộc Lô Lô.
Từ những lí do trên tôi quyết định “Tìm hiểu về văn nghệ dân gian của
dân tộc Lô Lô tại Đồng Văn,Ha Giang” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình.
2
3
mưa, khô lạnh, địa hình kiến tạo núi đá vôi, rừng nguyên sinh cạn kiệt, khí hậu
thuỷ văn khắc nghiệt làm cho khan hiếm nguồn nước sinh hoạt và sản xuất, gây
khó khăn cho cuộc sống của con người.
Đồng Văn có con sông lớn nhất là sông Nho Quế, bắt nguồn từ các dẫy núi
phía Tây Bắc của huyện, chảy qua Malé. Đồng Văn sang Mèo Vạc và Bắc Mê
rồi đổ vào sông Gâm. Sông Nho Quế là nguồn sinh thuỷ quốc tế trong phát triển
thuỷ điện và tưới tiêu cũng như nước sinh hoạt và điều hoà khí hậu, mùa đông
dòng sông đầy ắp sương mù. Ngoài ra còn có các dòng suối nhỏ như Lũng Táo
chảy về Yên Minh, suối Đồng Văn, suối ở Phó Bảng, Phố Là mùa mưa mới có
nước. Quá trình tạo sơn tự nhiên lâu đời trên địa bàn hình núi đá vôi để lại
những thắng cảnh đẹp cho Đồng Văn. Địa hình đá vôi cũng làm cho Đồng Văn
thiếu nước sinh hoạt và tưới tiêu nghiêm trọng. Thời tiết khí hậu Đồng Văn
mang tính ôn đới, thích hợp trồng các loại cây ăn quả và cây thuốc như: đỗ
trọng, huyền sâm, xuyên khung, ý dĩ, thảo quả Đồng Văn có giống chè ngon nổi
tiếng phù hợp với vùng đất Lũng Phìn.
Rừng Đồng Văn có thảm thực vật phong phú, thích hợp cho sự phát triển
nhiều loại như: cây dẻ, sồi, thông đá, pơmu nhưng do bị khai thác bữa bài nên đã
cạn kiệt. Động vật có các loại như: sóc, gà lôi, nhím, trăn, rắn, tê tê Do không
còn rừng và nạn săn bắn nên nhiều loài gần như tuyệt chủng. Tài nguyên khoáng
sản đến nay chưa phát hiện ra loại nào có trữ lượng lớn và giá trị cao. Tuy nhiên
đây cũng là vùng đất ấn tượng với những địa danh như Cột cờ, Lũng Cú, những
phong tục tập quán riêng của người dân, với những dãy núi đá tai mèo, với di
tích lịch sử nhà Vương... Tất cả được hội tụ tạo nên cao nguyên đá Đồng Văn
mang những giá trị địa lý, môi trường đặc sắc nơi cực Bắc Tổ quốc.
1.1.2. Dân cư,địa bàn cư trú .
Người Lô Lô có nhiều dòng họ.Người trong họ thường cộng cư với nhau
thành một làng.Có hai nhóm:Lô Lô hoa hay Di trắng (bình dân) và Lô Lô đen
ở Việt Nam và Thái Lan.
Ngôn ngữ
5
Người Lô Lô nói tiếng Lô Lô (hay tiếng Di), là một ngôn ngữ thuộc ngữ
tộc Tạng-Miến trong ngữ hệ Hán-Tạng. Tiếng Lô Lô có chữ viết riêng theo vần
(âm tiết). Chữ viết của người Lô Lô trước kia là chữ tượng hình, nhưng hiện nay
không dùng nữa. Theo Ethnologue, nhóm các ngôn ngữ Di tại Trung Quốc bao
gồm 29 ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với nhau.
Khoảng thế kỷ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ.
Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên
các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia
đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.
1.2.2. Nguồn gốc lịch sử
Dân tộc Lô Lô có tên tự gọi là Lô Lô, đây cũng là tộc danh chính thức
dùng trong các văn bản Nhà nước. Người Lô Lô có 2 nhóm đại phương, do trang
phục mà gọi để phân biệt là Lô Lô hoa, Lô Lô đen còn chính Người Lô Lô gọi
theo tiếng dân tộc mình có khác nhau chút ít là do từ ngữ âm vùng địa phương
cư trú, nên tên tự gọi thường thấy là: Mùn Dì, Màn Dì, Màn Chỉ (có nghĩa là
người Di, có nguồn gốc từ Trung Hoa). Còn có tên gọi do dân tộc khác gọi: La
La, Qua La, Lu Lộc Màn, Ô Man.
Nguồn gốc Người Lô Lô từ phương Bắc xuống (do những điều kiện xã
hội), nhưng họ có mặt từ rất sớm ở vùng biên giới VIệt Trung, cực Bắc của Việt
Nam, trên các vùng núi. Họ sống tụ cư thành bản địa và định cư suốt dọc các
tỉnh cực Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Tuyên Quang, Lai Châu. Trong gần
100 năm lại đây, Người Lô Lô cũng đã sống quần cư cùng các dân tộc anh em
trên núi cao thành thôn bản với người Mông, Dao, Giáy, Tày…
Người Lô Lô thuộc ngữ hệ Hán – Tạng, nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến.
Trong các dân tộc ngữ hệ Hán – Tạng ở nước ta, người ta còn tìm thấy vết tích
ruộng, chở người.
Phương tiện vận chuyển và đi lại chủ yếu của Người Lô Lô là dùng gùi
đeo qua vai để chuyên chở hàng, địu con. Dùng ngựa chở những nơi đường có
thể đi được. Ngày nay họ đã dùng xe máy.
7
Người Lô Lô đã biết làm kinh tế hàng hóa hoặc trao đổi vật phẩm tại các
chợ. Họ mua muối, dụng cụ sản xuất, vải vóc, thuốc…và đem bán các sản vật
nông nghiệp, gia súc, dược liệu.
1.3.2. Văn hóa vật chất
Nhà ở
Lô Lô là một trong những dân tộc có mặt sớm và có công khai khẩn
mảnh đất Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Người Lô Lô ở Hà Giang có hai nhánh là
Lô Lô Đen và Lô Lô Hoa. Đồng bào Lô Lô Đen tập trung ở xã Lũng Cú, còn
nhóm đồng bào Lô Lô Hoa đông hơn sống tại các xã Lũng Táo, Sủng Là, huyện
Đồng Văn và huyện Mèo Vạc. Tuy có tên gọi khác nhưng đồng bào dân tộc Lô
Lô Đen và Lô Lô Hoa chỉ khác nhau về trang phục, còn tiếng nói, phong tục tập
quán thì không có gì khác biệt.
Đồng bào dân tộc Lô Lô cư trú thành xóm riêng với những ngôi nhà dựa
lưng vào vách núi, nhìn ra thung lũng hoặc cánh đồng. Cũng như nhiều dân tộc
sinh sống trên cao nguyên đá Đồng Văn, người Lô Lô cũng làm nhà trình tường
hoặc nhà sàn, với tường rào được xếp bằng đá cao hơn một mét: Nhìn từ ngoài
vào, ngôi nhà của người Lô Lô không khác mấy so với nhà trình tường của các
dân tộc khác nhưng khi quan sát cách thức bố trí, sử dụng không gian trong nhà
thì mới thấy sự khác biệt: "Nhà phải có 3 gian. Một gian ở giữa với hai gian hai
bên. Gian bên phải là chỗ ở của ông bà, bố mẹ, gian giữa dành cho tiếp khách và
đám cưới, đám ma. Gian trái là chỗ ở của con trai, con dâu, con rể. Trên gác thì
dành cho khách khi ở lại và để ngô, sắn".[xem hình 1 ở phụ lục]
Gian giữa trong ngôi nhà của đồng bào Lô Lô là gian rộng nhất và bàn thờ
Người Lô Lô ăn cơm là "Mèn mén - bột ngô đồ", ngoài ra người Lô Lô
còn nấu cơm bằng gạo như người Kinh.
Người Lô Lô cũng giống các dân tộc khác sinh sống trên cao nguyên đá
Đồng Văn, món ăn chủ yếu của họ là các loại rau và các loại đậu: Rau cải, Đậu
Hà lan, đậu cô ve, đậu răng ngựa...
9
Thịt: Gồm thịt lợn, thịt gà, thịt dê và đặc biệt trong các phiên chợ hay
trong các lễ hội đồng bào có món ăn truyền thống đó là: Thắng cố Cho các phần
nội tạng đã làm sạch của gia súc vào nấu trong một cái chảo lớn, được bỏ thêm
các gia vị như: Sả, gừng, hạt tiêu, hạt dổi, thảo quả, ớt... Đặc biệt người Lô Lô
có món thịt lợn, đó là: Thịt lợn ướp muối treo trên gác bếp, phơi khô dùng để ăn
quanh năm. Vì kinh tế người Lô Lô là "Tự cung, tự cấp", đồng bào mổ lợn vào
cuối năm, rồi làm món thịt treo để ăn dần. Khách đến nhà đồng bào cũng lấy
món thịt treo ra đãi khách. Ăn chưa quen cảm thấy món thịt treo có mùi vị khói,
nhưng khi quen rồi lại thấy món ăn có một hương vị riêng, không thể quên được.
Thường thường người Lô Lô chỉ ăn hai bữa trong một ngày: Bữa sáng bữa chính khoảng 9h và bữa chiều tối khoảng 18 h - 19h.
Hôn nhân
Theo truyền thống từ xa xưa, trong ngày lễ cưới nhà trai phải nhờ bốn
người làm mai mối. Nếu là hai cặp vợ chồng thì càng tốt bởi họ quan niệm như
thế sẽ mang lại nhiều may mắn và hạnh phúc. Nhà trai sau khi chọn ngày lành
tháng tốt sẽ nhờ người mai mối mang hai chai rượu và lễ vật đến nhà gái. Khi
được phép của nhà gái thì nhà trai sẽ ấn định ngày cưới. Đồ thách cưới của dân
tộc Lô Lô thường là gạo, nếp, thịt lợn, rượu hay nhà gái có thể thách cưới thêm
váy, quần áo, vòng tay, vòng cổ cả bạc trắng hồi môn.
Dân tộc Lô Lô đặc biệt coi trọng vai trò của người cậu cô dâu. Người Lô
Lô bên nhà trai không mang lễ vật trực tiếp sang nhà gái mà thông qua ông cậu
của cô dâu. Ông cậu có vai trò quyết định việc hôn nhân và cả việc phân chia tài
không được cưỡi ngựa, con gái không mang đồ trang sức. Sau khi chồng chết
một năm người vợ được tái giá. Bố mẹ qua đời sau một năm con cái mới được
lấy vợ, lấy chồng.
1.3.3. Văn hóa tinh thần
Tín Ngưỡng thờ cúng
Người Lô Lô thờ tổ tiên là chính. Họ theo tín ngưỡng coi mọi vật đều có
linh hồn. Đứng đầu dòng họ là Thầu chú (Bimaw). Ông này phụ trách việc cúng
bái và duy trì tục lệ của dòng họ. Họ vẫn còn giữ được một vài văn bản tôn giáo
cổ viết bằng một thứ chữ tượng hình của họ. Tôn giáo của họ cũng mang nhiều
yếu tố của Đạo giáo và đạo Phật.
11
Tang ma có nhiều lễ thức độc đáo như hoá trang, nhảy múa, đánh lộn...
Dấu vết của tục săn đầu còn thể hiện khá rõ ở hiện tượng một người luôn đeo
chiếc túi vải có đựng khúc gỗ hay quả bầu có vẽ mặt người trong tang lễ.
Văn hóa,Văn nghệ dân gian
Văn hóa, văn nghệ. người Lô Lô đã từ trăm năm không nhận biết thứ chữ
tượng hình cũ của dân tộc xưa, nên việc để lại một kho tàng lớn văn hóa, nghệ
thuật là từ truyền miệng. Truyện về Sự tích trống đồng, sự tích nguồn gốc người
Lô Lô (qua đại hồng thủy, còn sót 2 anh em ruột chui vào trống). Nước rút hết,
chẳng còn ai. Họ lấy nhau và trở thành thầy tổ của người Lô Lô bây giờ).Chuyện
ông Sáng bằng thơ là một thần thoại hay của người Lô Lô. người Lô Lô còn có
những điệu hát, ca dao, tục ngữ còn truyền lại. Ngày nay, người Lô Lô học tiếng
phổ thông, tiến bộ rất nhanh trong chế độ mới, nhiều người học hết cấp 2, cấp 3
(phổ thông trung học ngày nay), đại học, có người đỗ Tiến sĩ, người làm công
tác kinh tế, khoa học.
Một nét riêng, độc đáo vẫn còn duy trì hiện nay của người Lô Lô là trống
đồng dùng trong các ngày lễ trọng, trong đón giao thừa năm mới và tiễn đưa
tâm nguyện, cầu khấn, ước ao năm nay có nhiều hạt mưa rơi xuống tưới cho
nương rẫy ngày càng xanh tốt, cho dân bản được mùa, đời đời no ấm. Đồ để tế
lễ bao gồm gà trống, chó, thanh kiếm bằng gỗ hoặc sắt, bát nước, chén rượu;
ống hương bằng tre tượng trưng cho 4 phương trời, cùng với hương, giấy vàng,
bạc. Một vật tế lễ không thể thiếu được trong lễ hội cầu mưa của đồng bào Lô
Lô đó là trống đồng và đàn nhị. Thông qua việc tổ chức lễ hội, bà con dân tộc
Lô Lô còn truyền dạy cho con cháu của mình niềm tự hào và giữ gìn những giá
trị văn hóa truyền thống, đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra, đồng bào Lô Lô còn
có vốn văn hoá dân gian phong phú, thể hiện qua những điệu múa, làn điệu dân
ca, truyện cổ tích..[ xem hình 2 trong phụ lục]
Những hoạt động văn hóa cộng đồng luôn được người Lô Lô coi trọng,nó
thể hiện qua các phong tục.tín ngưỡng ,lễ hội…Đây cũng là nét đặc sắc văn hóa
riêng rất đáng quý trọng cần được bảo tồn và phát huy.
13
PHẦN 2
VĂN NGHỆ DÂN GIAN CỦA NGƯỜI LÔ LÔ
TẠI ĐỒNG VĂN, HÀ GIANG
2.1. Các loại hình văn nghệ dân gian của người Lô Lô
2.1.1. Truyền thuyết
Đến nay các cụ cao niên trong làng vẫn thường kể cho con cháu về truyền
thuyết rồng thiêng. nơi rồng thiêng xuất hiện được gọi là núi Rồng (chính là nơi
có cột cờ Lũng Cú ngày nay) hai hồ nước hai bên chính là “Long nhãn rồng”,
tức là mắt của rồng. Người làng Lô Lô được núi Rồng che trở, được hồ nước là
mắt rồng cung cấp, từ vài ba hộ nay đã trở thành ngôi làng trù phú với gần 100
nóc nhà.
Ngược dòng lịch sử ngày xưa Thái úy Lý Thường Kiệt đã cho treo một lá
cờ khi ông hội quân trấn ải biên thùy và cho chôn một hòn đá tảng để đánh dấu
Lô Lô ở Lũng Cú mà Trung tâm Văn hóa, thể thao và du lịch Hà Giang đang
đưa vào việc bảo tồn phát triển khu làng văn hóa du lịch trong quần thể khu du
lịch cột cờ quốc gia Lũng Cú.
“Cách đây vài thập kỷ, địa phương đã cho xây dựng hệ thống thủy lợi để
dẫn nước từ 2 hồ lớn về khu ruộng. Tuy nhiên, khi xây dựng xong hệ thống cũng
là lúc mực nước ở 2 hồ xuống mức thấp kỷ lục, có nguy cơ cạn kiệt. Người dân
cho rằng việc xây dựng đã vô tình động chạm vào hồ thiêng nên đã phá bỏ hệ
thống này và cũng thật lạ là ngay sau đó 2 hồ nước lại trở lại mực nước như
trước. Từ đó không ai có ý định động chạm đến vùng đất thiêng này nữa”.
Đúng vậy, từ trên đỉnh núi nhìn xuống hai hồ nước trong veo, xanh biếc
như điểm cho núi rừng Lũng Cú thêm thơ mộng. Còn người dân thì lại vui mừng
vì kinh nghiệm cho thấy năm đó sẽ được mùa, lúa ngô sẽ đầy nhà. Nhiều người
đã thử đi tìm nước chảy vào hồ bắt nguồn từ đâu, nhưng cũng đành bó tay chịu
thua. Họ chỉ nghe kể lại là phía góc hồ bên phải (mắt phải của rồng) có một
hang động nhỏ, thông nhau với hồ bên trái. Vì vậy, mực nước hai hồ lúc nào
cũng bằng nhau, hồ bên này cạn nước thi hồ bên kia cũng cạn và ngược lại hồ
bên này đầy thi bên kia cũng đầy.
15
“Lô Lô là một trong những dân tộc ít người tại Việt Nam, từ nhiều đời
nay vốn định cư và sinh sống trên Cao nguyên đá Đồng Văn. Mùa xuân đến
người Lô Lô cố gắng hoàn thành những công việc cuối cùng của năm cũ, chuẩn
bị đón một mùa xuân mới. Không quá ồn ào, khoa trương, những phong tục tập
quán trong ngày Tết của người Lô Lô mộc mạc nhưng rất hấp dẫn và đầy sức
sống”.
2.1.2. Âm nhạc
Âm nhạc dân gian Lô Lô gồm hai loại: Thanh nhạc và khí nhạc.
Thanh nhạc có các làn điệu dân ca, thể hiện các đề tài nghi lễ (đám cưới),
thần thoại, lao động, sinh hoạt, hát ru Đây là loại hát trữ tình mà ai cũng biết và
có sáo Ca - lế (là loại sáo độc đáo, hiếm thấy, bé như chiếc đũa), luôn luôn sử
dụng nét nhạc hồn nhiên, tươi sáng, nghe vui, phản ánh tâm tư trong sáng của
các cô gái lao động, mới lớn, yêu đời. Chắc chắn rằng, những điệu múa với
nhiều động tác đẹp và sử dụng được toàn thân với những cử động tinh tế (cổ tay,
ngón tay, thân, chân, đầu gối) mà phụ nữ bộc lộ khả năng đặc sắc đã có ảnh
hưởng tới tâm hồn và nét giai điệu nhẹ nhõm của sáo Ca - lế. [xem hình 3 trong
phụ lục]
Là một trong số ít các dân tộc ở nước ta hiện nay còn sử dụng trống đồng
trong sinh hoạt. Trống đồng là loại nhạc cụ truyền thống nổi tiếng của người Lô
Lô, tồn tại không phải bằng sự tích mà bằng hiện vật hiển nhiên, đầy sinh khí,
nghĩa là vẫn được diễn tấu trong cuộc sống, bằng nghi lễ quy định.
[ xem hình 4 trong phụ lục]
Quan niệm về âm dương, phồn thực, sự sinh sôi của người thời cổ có lẽ
còn được bảo tồn rõ ràng với lối hoà tấu hai trống đực, cái một lúc. Trống đồng
chỉ được dùng trong đám tang, giữ nhịp cho các điệu múa dân gian rộng rãi
(không quy định giới tính, lứa tuổi, số người) mang nội dung sinh hoạt lành
mạnh. Tuỳ theo đề tài điệu múa mà tiết tấu trống thay đổi: nhanh, chậm hoặc rộn
rã, biểu diễn trống đồng bao giờ cũng tạo ra ba tiết tấu một lúc, do một người
ngồi đánh: Hai tiết tấu ở hai mặt trống cái (trống A, tiết tấu A, bản nhạc), trống
đực (trống B, tiết tấu B ở bản nhạc) dùng chung dùi a, cầm bằng tay phải. Còn
thanh tre gõ vào tang trống A (tiết tấu C ở bản nhạc) bằng tay trái. Tấm lòng
17
chân trọng của người xưa trước âm thanh gợi cảm như chức năng của trống đã
được hát lên trong bài Tâm sự với trống đồng, kết thúc bằng những lời thơ đẹp
mà giản dị.
"Nàng trống xinh thật xinh
Chàng trống đẹp thật đẹp".
Phụ hoạ kích thích thêm người múa là giai điệu của cây nhị (hoặc hồ) hoà
cố về với tổ tiên. Đó là triết lý Lô Lô và trở thành tập quán.[ xem hình 6 trong
phụ lục]
Dân ca Lô Lô có một đặc điểm chung là đều được sáng tác theo thể thơ
năm chữ và từng cặp hai câu bổ sung nhau. Ví dụ:
"Sắp đến lúc làm nương
Sắp đến lúc làm ruộng"
Lời ca nhìn chung là mộc mạc, gần gùi với ngôn ngữ hàng ngày. Cái gây
xúc động cho người nghe chính là nội dung bài ca. Tuy nhiên, nhiều đoạn cũng
đã đạt tới trình độ nghệ thuật khá cao. Ví dụ trong bài "Đón khách":
"Tối nay là tối gì?
Mà thoang thoảng hương bay
Đêm nay là đêm gì?
Mà ấm áp cỏ cây"
Quan sát lối hát đối đáp trong dân ca của dân tộc Lô Lô ta sẽ thấy có rất
nhiều biểu hiện của tính diễn xướng ở trong đó. Phần nhiều khi người ta hát dân
ca là người ta không lệ thuộc vào sự ngăn cách tuổi tác, cho nên nhiều người cao
tuổi vẫn xưng mình còn "Thanh tân" còn "Đợi chờ" Vì vậy trong dân ca dân tộc
Lô Lô mới có những bài, những câu:
" Gặp anh em muốn chào
Nhưng lời ca có hạn
Lời ca anh thật lòng
19
Sao anh không cất giọng
Chưa ca đã thấy thương
Chưa nhìn đã thấy mến
Tiếng ca anh đến đâu
Lời chứa chan đến đó"
Hoặc
dân gian giúp con người gần gũi với nguồn gốc quê hương,và tìm hiểu làm sáng
tỏ nhiều vấn đề lịch sử.
Nhìn ra được những tinh hoa của văn hóa đặc sắc không chỉ ở đời sống
tinh thần như thị hiếu, tín ngưỡng mà còn cả đời sống vật chất từ văn hóa cộng
đồng đến những hoạt động đời thường như ăn, mặc, ở,... dễ dàng nhận ra nét văn
hóa được lưu lại nằm trong khoảng thời gian nào, bối cảnh ra sao để có thêm
hiểu biết quý giá về văn hóa tộc người.
2.2.2. Giá trị nhân văn
Con đường mà loài người đã đang và sẽ đi chính là hành trình hướng tới
các giá trị nhân văn và thực hiện nó trong thực tiễn.Do vậy ,giá trị nhân luôn có
ý nghĩa vĩnh cửu và phổ quát đối với mọi nền văn hóa.
Truyền thuyết là thể loại lưu lại những bài học để đời nhất cho đời con
cháu được phổ biến theo hình thức truyền miệng.Những câu chuyện truyền
thuyết,cổ tích không chỉ kể lại câu chuyện lịch sử lâu đời mà còn lưu lại nhiều
bài học qúy giá như răn dạy tinh yêu làng quê,nhớ công ơn gây dưng sự nghiệp
và nuôi dạy những đi trước.
Người Lô Lô là dân tộc thiểu số nhưng giá trị nhân văn đã xuất hiện từ rất
lâu trong lịch sử phát triển của con người.Nó là hệ thống quan điểm thể hiện tình
yêu con người ,coi trọng nhân phẩm,coi trọng quyền được phát triển của con
người,coi lợi ích con người là tiêu chuẩn đánh giá các mối quan hệ xã hội nên
không thể thiếu trong quá trình phát triển các bản sắc văn hóa dân tộc
22
Khi nhắc đến dân ca của người Lô Lô là nhắc đến những tinh thần lao
động cần cù và tình yêu thương sâu sắc với những ca từ được lấy từ cuộc sống
bình dị của đồng bào dân tộc.
2.2.3. Giá trị nghệ thuật
Nghệ thuật của một dân tộc là yếu tố đặc trưng nhất và tiếp cận nhanh