Tìm hiểu về văn nghệ dân gian của dân tộc cống - Pdf 48

MỤC LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
Nước ta là một quốc gia đa dân tộc có tất cả 54 dân tộc anh em, mỗi dân
tộc có những nét văn hóa truyền thống đặc trưng riêng biệt đã góp phần tạo nên
một nền văn hóa dân tộc đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc. Với các dân tộc
thiểu số nước ta thì người Cống là dân tộc khá đặc sắc với kho tàng văn nghệ
dân gian vô cùng phong phú. Dân tộc Cống là dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn
ngữ Tạng-Miến cư trú chủ yếu tại huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu và khu vực
ven sông Đà. Nền văn nghệ dân gian Cống khá phong phú với các làn điệu dân
ca sâu lắng được hát vào những dịp lễ hội vui chung. Người Cống thường hát
múa vào dịp lễ tết, nhất là trong đám cưới. Hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái
hôm đón dâu ở chân cầu thang trước khi lên nhà thực sự là một cuộc thi hát dân
gian. Trai gái, già trẻ đều vui múa trong ngày cưới, đặc biệt là điệu múa đầu tiên
do các em gái của chàng rể trình diễn để bắt đầu cuộc vui. Tuy nhiên, đến nay
trải qua bao giai đoạn thăng trầm của lịch sử văn nghệ dân gian của người Cống
đã bị mai một thiếu sót đi rất nhiều. Chính vì vậy mà việc nghiên cứu văn nghệ
dân gian một cách khoa học là một việc làm hết sức cần thiết. Những nghiên cứu
này không chỉ mang tính thiết thực gắn liền với địa phương mà còn góp phần
bảo tồn nền văn hóa vùng dân tộc thiểu số. Sản phẩm, tác phẩm của văn nghệ
dân gian đã thể hiện rõ tâm lí, tình cảm, ước vọng, mong muôn, phong tục tập
quán,…của dân tộc Cống. Tuy nhiên, họ sinh sống gần gũi với các dân tộc khác
nhưng vẫn luôn giữ được những nét riêng độc đáo của mình trong từng câu ca
dao, dân ca, tục ngữ.
Chính vì vậy việc nghiên cứu văn nghệ dân gian không chỉ tái hiện lại mà
còn đặt ra những vấn đề cấp bách cho mỗi dân tộc. Từ những lý do trên tôi đã
chọn đề tài “Tìm hiểu về văn nghệ dân gian của dân tộc Cống” để làm đề tài
tiểu luận của mình.

2

mua thuyền của người Thái và tổ chức các đội thuyền.
3


Người Cống sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, canh tác theo lối
phát rừng, đốt, chọc lỗ tra hạt giống. Gần đây, đồng bào đã làm nương bằng
cuốc và sử dụng trâu bò làm sức kéo. Nhiều thức ăn của đồng bào là tìm kiếm ở
trong rừng, kiếm cá dưới suối chủ yếu bắt bằng tay hoặc bả thuốc độc lá
cây. Phụ nữ Cống không biết nghề dệt, chỉ trồng bông đem đổi lấy vải.
1.1.3.2. Nghề thủ công
Nghề đan lát của Người Cống khá phát triển.Song nam nữ đều đan lát
giỏi, có nghề đan chiếu mây nhuộm đỏ.Cả nam lẫn nữ đều biết đan các loại đồ
đựng bằng mây, giang như: gùi, giỏ đựng cơm, rương, hòm, đặc biệt là sản phẩm
chiếu mây đan hồi văn liên hoàn màu trắng đỏ rất đẹp (vì thế thành tên gọi là Cô
ống sát dánh - Cống chiếu mây đỏ). Nghề thủ công đã làm cho đồ gia dụng
Người Cống thêm phong phú, tinh xảo.
1.1.4. Quan hệ cộng đồng của dân tộc Cống
Người Cống ở khá tập trung trong các làng bản có quy mô vừa và lớn.
Tính cộng đồng làng bản cao. Phụ nữ có vai trò quan trọng trong gia đình cũng
như xã hội. Trong xã hội cổ truyền, chưa có sự phân hoá giai cấp, chịu sự chi
phối chặt chẽ của hệ thống chức dịch người Thái.
Dân số ít song người Cống có tới 13 dòng họ khác nhau. Ða số các dòng
họ mang tên Thái như: Lò, Quang, Kha... dấu vết tô tem giáo còn rõ nét với tục
kiêng và thờ các loại chim muông, thú vật. Mỗi dòng họ thường có người đứng
đầu với chức năng chủ trì các công việc liên quan tới đời sống tinh thần.
Mỗi họ của người Cống có một trưởng họ, có chung một kiêng cữ, có
chung quy định về chỗ đặt bàn thờ tổ tiên và cách cúng bái. Trong từng gia đình,
người chồng, người cha giữ vai trò đứng đầu, khi người cha chết thì con trai cả
thay thế.
1.2. Phong tục tập quán

họ mà đặt bàn thờ ơt các vị trí khác nhau. Đối với các họ Lò, Chang, Chảo bàn
thờ tổ tiên thường đặt trong buồng của bố mẹ, ở phên vách phía trước, giữa hai
hàng cột trong buồng. Bàn thờ của họ Ly lại để gần cột cạnh bếp, phía ngoài
phên vách ngăn buồng bố mẹ. Bàn thờ được làm đơn giản. Nó có thể là một
miếng phên nhỏ (rộng 40cm) được buộc vào áp vách cùng với một cọc gỗ dài.
Nếu vách đan phên kép thì không cần miếng phên nhỏ mà chỉ cần một cọc gỗ là
đủ.
5


1.2.2. Trang phục truyền thống
Y phục của người Cống giống người Thái. Một ít gia đình còn giữ lại vài
bộ y phục truyền thống bằng vải dệt của người Lào.
Chủ yếu biểu hiện qua trang phục nữ. Ống tay áo trang trí giống người Hà
Nhì. Cổ trong giống cư dân Việt Mường, cúc giống phong cách Môn - Khmer.
Váy đen, khăn đen không trang trí.
1.2.3. Hôn nhân
Hôn nhân một vợ một chồng chặt chẽ. Không có đa thê, ly dị trong xã hội
truyền thống.
Tục ở rể được thực hiện nghiêm ngặt, trước kia khoảng 8 - 12 năm. Lễ vật
truyền thống trong lễ xin con trai tới ở rể thường vào buổi tối là gói muối, gói
chè, cuộn dây gai đan chài, hay một ống rượu cần... Ngay sáng hôm sau, người
con trai mang chăn, gối, con dao tới nhà gái ở rể, cũng từ đó người con gái búi
tóc ngược đỉnh đầu, dấu hiệu của người đã có chồng.
Lễ đón dâu về nhà trai khi hạn ở rể đã hết, lúc đó đôi vợ chồng đã con cái
đầy nhà. Của hồi môn bố mẹ cho con cái mang về nhà chồng. Nếu nhà trai
người cùng bản phải cõng cô dâu về tận nhà. Trong ngày cưới, người ta không
mặc quần áo mới vì có tục vẩy nước tro lên đoàn đón dâu trước khi ra về để cầu
may.
Trước kia chỉ trai gái người Cống mới lấy nhau, nay đã có một số dâu rể

sẽ mở cửa cho vào nhà. Sau khi nhận được tín hiệu chấp thuận, chàng trai mới
được vào nhà trò chuyện cùng gia đình cô gái.
Nếu thuận thì một thời gian sau sẽ làm lễ đặt rể (mì tạp xái). Đây là lễ để
chàng trai đi ở rể nhà người yêu. Lễ này thường được tổ chức vào tháng 1 âm
lịch. Khi tổ chức lễ đặt rể, bên nhà trai gồm: bố, mẹ, anh em họ hàng (cũng có
khi cả bản) đến nhà gái. Trong lễ này nhất thiết bố, mẹ chàng trai phải cùng đi,
nếu một trong hai người đã mất thì phải mượn vợ chồng bác hoặc vợ chồng chú
hoặc cô ruột (những người ngang hàng với cha mẹ chàng trai) đi thay và phải đi
cả đôi, không được đi lẻ bởi đồng bào Cống quan niệm rằng đi lẻ là không hạnh
phúc, không may mắn.
Trong thành phần nhà trai đi lễ đặt rể hay bất cứ lễ nào liên quan đến hôn
nhân của dân tộc Cống đều có ông mối (po xứ) hoặc bà mối (me lam) đi cùng.
Điều kiện chọn người làm ông mối, bà mối phải là người khỏe mạnh, hiền lành,
7


tốt bụng, con đàn cháu đống càng tốt, đặc biệt phải là những người không chết
vợ hay không chết chồng. Trong lễ đặt tên này nhà trai cũng thường chọn những
người hát hay, hát giỏi đi theo để khi đến nhà gái có thể phải hát đối đáp.
1.2.4. Ma chay
Khi nhà có người chết, phải mời thầy mo tới làm lễ cúng đưa hồn về với
tổ tiên. Việc chọn ngày chôn được coi trọng. Trong những ngày trước hôm chôn,
thường phải cúng cơm cho người chết, buổi tối có các nghi thức nhảy múa
truyền thống. Sau khi táng có làm nhà mồ đơn giản. Mười hai ngày sau khi chôn
người chết, con cháu mới lập bàn thờ trong nhà. Con cái để tang cha mẹ bằng
cách cạo trọc đầu (con trai), cắt tóc mai (con gái) và đội khăn tang cho tới khi
cúng cơm mới, mới được bỏ.
1.2.5. Thờ cúng
Người Cống cúng tổ tiên hai đến ba đời. Người chồng đảm nhiệm việc
cúng tổ tiên. Khi người chồng chết, người vợ đảm nhiệm, dù con trai cả đã lớn

cưới. Hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái ở chân cầu thang nhà gái, hát múa khi
đón dâu về tới nhà trai của các em chú rể, các cô vừa múa hát vừa giơ cao tặng
phẩm truyền thống do anh trai tặng (như con gà, con sóc, cá khô…). Trẻ em
Người Cống thường chơi những trò chơi tập thể như đuổi bắt, đánh khăng, cà
kheo, bắn nỏ.
Người Cống có lễ cúng tập thể mở đầu vụ gieo trồng lúa và một số lễ thức
khác nữa nhằm cầu mong mùa màng tươi tốt, nhà nhà no đủ. Ví dụ: Tết Ngô của
dân tộc Cống ở Lai Châu…
Tết ngô là ngày Tết cổ truyền của dân tộc Cống sinh sống ở Lai Châu.
Đây là ngày tết lớn, tết cả của người Cống nên quy mô tổ chức to nhất so với các
lễ tết khác trong năm. Tết Ngô là tết lớn nhất trong năm của người Cống được tổ
chức vào ngày 1/6 âm lịch hằng năm nhằm mục đích trình báo với tổ tiên về
những việc đã làm được trong năm. Cảm ơn tổ tiên đã phù hộ cho con cháu khỏe
mạnh, chăn nuôi, sản xuất gặp nhiều thuận lợi, mùa màng tươi tốt, thóc, ngô đầy
nhà. Tết Ngô được gắn liền với những sinh hoạt của tộc người, mang tính cộng
đồng cao, là một kho tàng văn hóa dân gian với nhiều loại hình nghệ thuật, xứng
đáng được quan tâm đầu tư, bảo tồn và phát huy góp phần vào việc xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
9


PHẦN THỨ HAI
TÌM HIỂU VỀ MỘT SỐ LOẠI HÌNH VĂN NGHỆ DÂN GIAN TRONG
ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC CỐNG
2.1. Các loại hình văn nghệ dân gian dân tộc Cống
2.1.1. Truyện cổ
Được đồng bào kể vào những buổi tối, bên bếp lửa, dịp tết , lễ của dân
tộc hay những đêm trăng, những lúc đi đường, trong khi lao động sản xuất,… Ở
đâu có người tụ họp là đồng bào lại kể chuyện cho nhau nghe, đời này truyền lại
cho đời kia. Nội dung truyện phản ánh hiện thực đời sống, tâm tư tình cảm, ước

thì chỉ đi ăn cỏ” (Chuyện Pằng Ná), hoặc do có công dẫn người Cống đến vùng
đất trù phú, giàu có mà chim được người thưởng cho việc ăn thóc (Chuyện Si
Là). Vì sao mào gà trống đỏ và được gọi là mặt trời (Chuyện Kha Pả)… Trước
những hiện tượng thiên nhiên khó hiểu, do trình độ tư duy còn chưa cao, người
Cống có cách giải quyết riêng của mình. Những cách giải thích đó một mặt cho
thấy sự ngây thơ, hồn nhiên đến đáng yêu của họ, mặt khác cũng cho thấy tâm
hôn lãng mạn, trí tưởng tượng của dân gian. Đồng thời, những truyện cổ ấy cũng
phản ánh sự quan sát của người Cống đối với thiên nhiên xung quanh. Thiên
nhiên đối với họ vừa hãi hùng vừa bí hiểm, song cũng thật thân thuộc, gần gũi.
Chỉ khi con người có thái độ xấu, ác ý, phá hủy thiên nhiên thì mới bị trừng
phạt, còn nếu con người có sự ân cần, có tình yêu tha thiết với thiên nhiên thì sẽ
được thiên nhiên đền đáp một cách thỏa đáng.
Thiên nhiên luôn bên cạnh, bao dung, che chở và nuôi sống con người nếu
con người biết sử dụng nó vì mục đích đúng đắn. Những nhỡ nhàng, sai lầm,
thiếu thận trọng trong hành động đối với thiên nhiên ắt sẽ dẫn đến những hậu
quả đáng tiếc như chuyện chàng Khun vì muốn lấp sông Đà nên đã nhặt hết đá
sỏi mọi nơi dồn về đổ vào sông Đà, bao nhiêu đá, sỏi chàng đổ vào đều bị sông
Đà lấy hết vì sông Đà đã khỏe hơn chàng nên chẳng lấp được sông mà chỉ có thể
để lại nhiều bãi đá sỏi bên bờ cũng như lòng sông. Và cuối cùng chàng bị sông
Đà biến thành một vách đá sừng sững, thẳng đứng còn đến ngày nay (Chuyện
hàng Khun). (Hình 1)

11


2.1.1.3. Truyện cổ tích thế sự
Là loại truyện liên quan đến đời sống hàng ngày của con người, như tình
cảm gia đình, tình vợ chồng, con cái, tình yêu nam nữ… Những câu chuyện mộc
mạc, chân thận mà chứa chan tình cảm như chuyện nàng Hó Lúm. Là tiên nữ
trên trời thương chàng Thủi nhà nghèo, lại bị người giàu hắt hủi, đã xin cha cho

những bài hát này do hoàn cảnh ứng tác và người tự hát quyết định. Thông
thường trai gái người Cống hễ thấy mặt nhau lần đầu, dù là ở ngoài đường,
ngoài chợ hay chỉ nhìn thấy bóng dáng nhau đi trong bản, trên nương hoặc ngoài
đồng ruộng, họ đều chào hỏi nhau bằng những câu dân tộc miền núi. Khi hát tự
phát đơn lẻ không phụ thuộc vào thời gian, không gian và người hát không có ý
nghĩ rằng mình đang làm văn nghệ. Đây là lối hát tự phát. Không gian thích hợp
cho lối hát tốp là vào những ngày hội, ngày chợ phiên, ngày tết và vào dịp làng
bản có tiệc vui như sau nghi lễ đám cưới, sau lễ mừng nhà mới hay vào những
lúc công việc ngày mùa đã nhàn rỗi. Lối hát này không quy định nam hát trước
hay nữ hát trước, mà phụ thuộc vào tốp nào nhìn thấy nhau trước, nhiều khi chỉ
cần nghe phong thanh có tốp nào đó vào bản hay đang ngồi đâu đó, chưa cần
nhìn thấy mặt là tốp kia đã cất tiếng hát giao duyên. Mối đầu là những câu ướm
hỏi gọi mời tốp kia hát lại, nếu hát một lần chưa thấy bên kia đáp lại thì hát lần
thứ hai, thứ ba… Nếu tốp kia vẫn chưa hát đáp lại thì tốp trước phải trổ tài trêu
chọc, mỉa mai cho đến khí đối phương hát đáp, lúc đó cuộc hát mới chính thức
bắt đầu. Cuộc hát có thể chỉ là một lúc, cũng có thể kéo dài suốt đêm, suốt ngày
với nội dung ứng tác của những người tham gia hát. Có khi bắt đầu là những
cảm xúc của đám trai bản vớ một tốp nữ bản bên. Đám trai bản cất lời hát ướm:
Bao cô gái xinh đẹp
Ở nơi nào đến đây
Thăm ông bà cha mẹ
Hay thăm nhà người yêu
Đáp lại, một cô trong tốp nữa ấy cũng hát:
Em từ bản xa đến đây
Không thăm cha thăm mẹ
Muốn tìm người trai tài
Dẫn về thăm cha mẹ của em

13


Cống từ trẻ đến già hầu hết đều biết hát và sáng tạo thơ ca. Họ có thể hát vào bất
14


kì thời gian nào như nhân dịp trai gái đến chơi làng, hát sau nghi lễ cưới, vào
nhà mới, trong ngày hội hay ngày chợ phiên…
Kho tàng dân ca Cống là một di sản văn hóa quý báu mang đậm bản sắc
dân tộc mà chúng ta chưa thể nắm bắt hết được cả về số lượng và nội dung.
Công tác phân loại ca dao, dân ca Cống cũng chưa được đề cập nhiều nên chưa
thực sự rõ ràng và thống nhất. Tuy vậy, căn cứ vào cách phân loại dân ca của các
nhà nghiên cứu văn học dân gian và dựa vào nội dung các bài ca dao, dân ca bao
gồm: dân ca

lao động, dân ca nghi lễ phong tục, dân ca sinh hoạt.

2.1.2.2.1. Dân ca về lao động sản xuất
Người Cống vốn cần cù cày cấy, tằn tiện, tiết kiệm. Cuộc sống của họ gắn
chặt với núi rừng, ruộng nương. Đến với bản người Cống, ta sẽ nhận thấy suốt
ngày họ chỉ cặm cụi trên nương rẫy bên cái mênh mông của đất trời, trập trùng
quanh co của đồi núi. Họ lao động quần quật cả năm, chỉ lúc lễ, tết dân tộc, hay
lúc bản có công to việc lớn mới dừng tay tham gia việc của làng, bản. Bởi vậy,
truyền thống văn hóa nông nghiệp luôn in đậm trong đời sống tinh thần họ. Họ
luôn đề cao lao động và lấy lao động làm thước đo con người. Điều này được
phản ánh đậm nét trong văn học dân gian Cống. Trong ca dao, dân ca có những
lời ca thể hiện tâm tình của chàng trai với người con gái chăm chỉ lao động:
Mờ sương em lên nương làm cỏ
Gà lên chuồng em từ ruộng về
Trên lưng thêm địu củi
Áo em thẫm màu, anh thương
Trong những câu hát giao duyên, trai gái người Cống thể hiện sự

Không có tay em không nên bếp ấm
Không có tay anh không thành cửa nhà
Mong trời nắng, mưa thuận
Lúa ruộng, nương bội thu
Vật nuôi sinh sôi nhiều
Cho lòng người vui vẻ
Hôn nhân, tình yêu gắn liền với vấn đề lao động, xây dựng gia đình hạnh
phúc ấm no, bản làng giàu có thực chất là quan niệm thẩm mỹ của đồng bào
Cống đó là: sinh ra là con người phải biết yêu thương, biết lao động mới có thể

16


đem hạnh phúc lại cho mình. Đó là những phẩm chất đáng quý, rất cần đối với
những con người sống ở nơi khó khăn và hẻo lánh nhất này.
2.1.2.2.2. Dân ca nghi lễ phong tục
Người Cống quan niệm chu kỳ đời người trải qua sinh ra, lấy chồng, cưới
vợ, làm nhà, lên lão. Trong cuộc đời con người ứng với mỗi giai đoạn của cuộc
đời lại có nhiều nghi lễ phong tục khác nhau. Trong các nghi lễ ấy đều có dấu ấn
của thơ ca, đặc biệt là dân ca như: hát cúng bản, hát kể sự tích các thần, hát phù
phép...
* Dân ca trong lễ cúng trẻ sơ sinh: Khi đứa trẻ sinh ra được ba ngày (với
người Cống chọn ngày tốt mời thầy cúng hoặc ông bà đến cúng cảm ơn bà mụ
đã cho gia đình đứa bé. Trong nghi lễ ấy, người cha đứa trẻ phải vái lạy bàn thờ
tổ tiên hát ý:
“Bà mụ cho gia đình đứa con,
Đủ chân tay mặt mũi, nhưng còn bé bỏng,
Che chở cho cháu bé.”
* Dân ca lễ cưới: Gồm hai loại: hát nghi thức và hát vui chơi. Hát nghi
thức phải do các nghệ nhân thông thuộc các bài hát ướm hỏi, những người này

tiếp hát để cầu mong tổ tiên, thần thánh phù hộ cho gia đình, để cảm ơn sự giúp
đỡ của anh em họ hàng và bà con thôn bản. Người Cống lên nhà mới vừa múa
vừa hát. Các cuộc hát, múa có thể diễn ra từ sáng đến khuya, diễn ra ngay bên
mâm rượu, có người tự ứng tác lời hát để chúc mừng, dặn dò rất được bà con tán
thưởng.
Khi mọi người đã ngấm hơi men đồng bào thường tổ chức vui văn nghệ
trong ngày lên nhà mới. Người ta quan niệm rằng việc tổ chức múa hát trong
ngày này là cầu may cho gia chú, khi gia đình nào tổ chức lên nhà mới càng có
nhiểu người tham gia múa hát, uống rượu nhiều, té nước lắm thì gia đình có
trong tương lai càng gặp được nhiều.
* Dân ca trong lễ tang: Cũng giống các dân tộc thuộc khối Tạng Miến khi
có người thân quá khố, con cháu phải biết hát khóc, ngoài ra bà con trong bản
cũng sẽ đến hát khóc. Thầy cúng trong một số nghi lễ cũng trở thành thầy hát.
Trong các nghi lễ chính của đám tang, các thầy cúng thầy hát phải hát các bài ca
nghi lễ để phụ họa các hoạt động diễn xướng nghỉ lễ. Các bài ca trong đám tang

18


còn phản ánh tình cảm xót thương của người thân, bà con dân bản với người quá
cố.
2.1.2.2.3. Dân ca sinh hoạt
Khác với dân ca nghi lễ phong tục, dân ca sinh hoạt của người Cống là
những bài hát phản ánh tình cảm của người hát với những đối tượng thân thiết,
gần gũi như người mẹ với đứa con trong các điệu hát ru, những đứa trẻ trong hát
đồng dao, nam giới hát với nữ giới trong các bài hát giao duyên. Vì vậy, dân ca
sinh hoạt của người Cống chủ yếu là do người hát tự đặt lời truyền khẩu, nên ít
bị gò bó như hát theo nghi lễ.
* Hát ru: Bài ca ru con của người Cống khá phong phú với những bài hát
ru buổi sáng, buổi trưa, buổi tối và tùy từng đối tượng hát mà có hát ru của bà ru

Nương bên nhà đầy lúa
Quả trên rừng sai trĩu
Hàng xóm người người vui đến thăm
Thăm cái má hồng như hoa gạo
Thăm tiếng cười vui nhà vui cửa.
Lời ru êm ả, tiếng bà, mẹ và chị dịu dàng nâng giấc ngủ tuổi thơ. Có giấc
ngủ tốt, sức khỏe tăng đều, có hơi thở điều hòa, tâm hồn tuổi thơ thanh thản.
Nhưng đôi khi người mẹ cũng ca những lời ca về nỗi đau một thời về thân phận
người phụ nữ Cống thủa xưa:
Gà chưa gọi, em lên rừng lấy củi
Sao chưa lặn em đã đi suối xúc cá
Anh ở nhà uống mãi vẵn không thôi
Anh buồn anh uống rượu rồi
Em mệt mà tay không được nghỉ, vì ai?
Nhưng có lẽ nhiều nhất trong những bài hát ru con vẫn là niềm khát vọng
về một ngày mai con trưởng thành, khôn lớn, là tình mẹ thương con không gì so
sánh nổi:
Mai chân con lên núi cao
Sẽ biết núi không cao bằng tính mẹ
Mài kia đóng thuyền to ra sông dài
Con sẽ hiểu sông không dài bằng lòng mẹ thương con
Mai kia con di khắp mười phương
20


Mười phương ấy mặt trời vẫn ấm
Con sẽ hiểu hơi ấm từ mặt trời không ấm bằng lòng mẹ đâu con.
Hoặc:
Con là hạt cái giống
Con là hạt dưa mẹ để giành

duyên” (vì người hát đã có vợ có chồng) mà đề thăm hỏi sức khỏe, trao đổi công
việc đồng áng, ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên, kể chuyện lao động sản xuất và chủ
yếu là để thi giọng hát, thưởng thức tài năng nghệ thuật của nhau.
Bên nam:
Ô người từ nơi nào đến
Phải xưa kia từ bản mình ra đi
Nay thành người bản xa
Chồng con thế nào
Cho chúng tôi cùng biết với.
Nếu là nữ bản đó ra đi sẽ hát:
Vâng đã nhiều mùa trăng
Quay trở về bản mình xem hội
Chồng con mạnh khỏe
Gia đình chồng vừa quý vừa thương.
Nếu là người bản khác đến sẽ hát:
Nghe tin bản này nhiều người hát giỏi
Tiếng dài như họa mi
Tiếng ngắn như khiếu
Ngân nga vui khắp bản mường
Chúng tôi đến đây thăm tiếng hát
Để cháu con sau này có đường đến thăm nhau…
Các cuộc hát này thường cũng rất sôi nổi, có thể kéo dài từ tối đến sáng,
nhưng thường là hát đến nửa đêm rồi ai về nhà nấy.
Ca dao, dân ca giao duyên là một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần
không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của đồng bào Cống. Nếu các cụ
già, thầy cúng dùng lời ca nghi lễ để bày tỏ niềm tôn kính đối với các vị tổ tiên,
thần linh,các em nhỏ mượn bài hát đồng dao để vui chơi, giải trí thì các chàng

22


câu ngắn gọn, súc tích, tục ngữ diễn đạt rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời
23


sống, kinh nghiệm xã hội - lịch sử của nhân dân lao động. Những kinh nghiệm
ấy được rút ra trong quá trình đấu tranh thiên nhiên và đấu tranh xã hội, được
thể hiện nhiều lần trong thực tiễn, đã trở thành những chân lý có tính chất phổ
biến, được toàn thể nhân dân lao động công nhận và sử dụng. Tục ngữ cung cấp
cho ngôn ngữ bình dân cũng như ngôn ngữ bác học một hình thức biểu hiện giàu
hình ảnh và do đó có tác dụng truyền cảm và thuyết phục mạnh mẽ, để nói lên
những tư tưởng thăng trầm, những khái quát rộng rãi. Những câu tục ngữ ngắn
gọn ấy sẽ thay thế một cách có kết quả những thuyết lý dài dòng và dễ quên.
Tục ngữ là tri thức thông thường của nhân dân lao động về tự nhiên và xã
hội, biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới, xã hội và con
người, nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú
và đa dạng, được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng
đồng và xã hội như lời ăn tiếng nói và khuyên răn, bộc lộ một cách sâu sắc kinh
nghiệm sống, lối sống, tư tưởng đạo đức, qua đó thể hiện thái độ ứng xử và tình
cảm của nhân dân đối với những vấn đề của cuộc sống. Tục ngữ diễn đạt rất
hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân dân
lao động.
Về nội dung thì tục ngữ là những nhận định sau kinh nghiệm của con
người về cuộc sống trong gia đình, cuộc sống trong xã hội, phản ánh quá trình
lao động sản xuất, nói về các kinh nghiệm và kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi,
đánh bắt, làm ruộng. Nội dung ấy vừa phong phú, vừa vững chắc và khá sâu sắc
vì nó được đúc kết qua nhiều thế hệ con người.
Chẳng hạn, trong lao động sản xuất, người Cống vừa phải làm nương vừa
phải làm ruộng họ có những câu tục ngữ nêu lên nhận thức của mình về kinh
nghiệm cày ruộng và nương: “Cày to mang cày ruộng, cày nhỏ để cày nương”.
Kinh ngiệm chăn bón:

văn hoc dân gian (ca dao, truyện cổ tích, câu đố). Và một bộ phận những câu tục
ngữ hình thành từ các tác phẩm văn học, các sáng tác của các nhà văn, nhà thơ,
những lời phát biểu, phán đoán của các nhà triết gia.
Trong ba nguồn hình thành nói trên, nguồn chủ yếu là từ thực tiễn đời
sống của nhân dân, vì vậy tục ngữ là “tấm gương phản ánh đời sống xã hội và tự
nhiên”.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status