văn nghệ dân gian của tộc người khơ mú - Pdf 48

1.Khái quát về tinh Nghệ An và dân tộc Khơ-Mú
1.1 Khái quát về tỉnh Nghệ An
1.1.1 Về diện tích:
Tỉnh Nghệ An nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ, đất rộng, người
đông. Với diện tích 16.490,25 km2, lớn nhất cả nước. Phía bắc giáp Thanh Hóa,
tỉnh Hà Tĩnh ở phía Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ở phía Tây với
419 km đường biên giới trên bộ; bờ biển ở phía Đông dài 82 km.
Nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức
tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối. Về tổng thể,
địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõ rệt:
miền núi, trung du, đồng bằng ven biển. Trong đó, miền núi chiếm tới 83% diện
tích lãnh thổ. Địa hình có độ dốc lớn, đất có độ dốc lớn hơn 8% chiếm gần 80%
diện tích tự nhiên toàn tỉnh, đặc biệt có trên 38% diện tích đất có độ dốc lớn hơn
25%. Nơi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là
vùng đồng bằng các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành, Thị xã Hoàng
Mai có nơi chỉ cao 0,2 m so với mặt nước biển (xã Quỳnh Thanh, Quỳnh Lưu).
1.1.2 Về dân số
Nghệ An có dân số trên 3.022.300 người, là địa phương có dân số đứng
thứ tư cả nước (sau Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Thanh Hóa). Dân số thành thị
15,5%; nông thôn 84,5%; Mật độ dân số trung bình 178 người/km2. Trong đó
dân tộc thái (303.882 người chiếm 69,39%), dân tộc thổ(67.819 người chiếm
15,49%), dân tộc Khơ-Mú(35,6868 chiếm 8,15%), dân tộc Mông (29,412 người
chiếm 6,72%), dân tộc Ơ đu (613 người chiếm 0,006%)c còn lại là dân tộc
Kinh.
1.1.3 Về kinh tế
-Tiềm năng du lịch
Nghệ An có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, trong đó nổi bật là
vườn quốc gia Pù Mát, khu bảo tồn rừng nguyên sinh Pù Huống là những kho
tàng bảo tồn đa dạng sinh học hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước; bãi
tắm Cửa Lò có nền phẳng, cát mịn, nước trong, sóng không lớn, cảnh quan và
môi trường hấp dẫn ngày càng thu hút được nhiều khách du lịch.

đất nước ta.
Người Khơ-Mú nói ngôn ngữ Môn–Khơ Me, thuộc ngữ hệ Nam Á. Số
dân ước tính khoảng 80.000 người, sống chủ yếu và lâu đời nhất ở vùng Tây
Bắc Việt Nam. Có một số nhóm Khơ-Mú sống ở Tây Thanh Hóa và Nghệ An có
lẽ do chuyển cư từ nước bạn Lào láng giềng sang.
Người Khơ-Mú sống chủ yếu bằng kinh tế làm nương rẫy với cây lương
thực chủ yếu là ngô, khoai, sắn với lối dùng gậy chọc lỗ, tra hạt hoặc dao, rìu để
đào hố trồng khoai, sắn. Người Khơ-Mú cũng tồn tại một nền kinh tế săn bắt,
hái lượm trong quá khứ. Đó là một nguồn cung cấp lương thực và thực phẩm
quan trọng vào thời kỳ giáp hạt hàng năm. Cũng như nhiều dân tộc thiểu số
khác ở Việt Nam, người Khơ-Mú cũng có một bộ phận du canh, du cư và một


bộ phận định cư, canh tác trên nương rẫy theo quy trình khép kín, theo phong
tục cổ xưa.
Ngoài nông nghiệp, săn bắt hái lượm, dân tộc này còn có những nghề thủ
công mang tính chất tự túc, tự cấp, đó là nghề đan lát. Một số nơi còn biết thêm
nghề rèn, mộc, dệt vải. Việc mua bán, trao đổi chủ yếu là hàng đổi hàng. Trước
kia, vỏ ốc “Kxoong” được coi là tiền. Đó là hình thức Tiền đầu tiên của người
nguyên thủy thường sử dụng.
Chăn nuôi của người Khơ-Mú là tiểu gia súc, theo hộ gia đình, chủ yếu
phục vụ cho sức kéo (trâu, bò) và phục vụ cho lễ tết, tiếp khách và các tín
ngưỡng (lợn, gà…).
Người Khơ-Mú có Totem, theo đó, dòng họ mang tên các loại cây, loài
thú, loài chim. Những loại cây, thú, chim mang họ của người Khơ-Mú không
được giết và ăn thịt hoặc chặt phá để sử dụng vào những mục đích khác. Mỗi
dòng họ đều có những chuyện kể về dòng họ mình và coi nhau như anh em
cùng mẹ, cùng cha. Người Khơ-Mú định cư, cứ trú thành những bản. Ở đó có
nhiều dòng họ khác nhau cùng sinh sống và đều có Trưởng họ. Họ của người
Khơ-Mú có thể phân thành 3 nhóm sau: Nhóm họ mang tên thú gồm hổ, chồn,

trọt thuở sơ khai.
Trang phục của người Khơ-Mú không có đặc trưng riêng biệt, do họ
không phát triển nghề dệt. Trang phục chủ yếu mua của người Thái – một cộng
đồng sống liền kề và có nghề dệt phát triển. Điểm nổi bật nhất là trang sức phụ
nữ Khơ-Mú là trên thân áo có tiền bạc và vỏ ốc (cũng chỉnh là tiền). Tuy nhiên,
giờ đây cũng mai một, chỉ còn ở một số người cao tuổi. Nam giới Khơ-Mú ngày
nay ăn mặc theo người Kinh.
Trong kho tàng văn nghệ dân gian của người Khơ-Mú, làn điệu ưu thích
nhất của họ là Tơm. Đây là làn điệu dân ca mang đậm chất sử thi, trữ tình, theo
cách hát đối đáp. Ngoài ra, họ còn tiếp thu điệu múa Xòe của người Thái và thổi
các loại sáo bằng nứa, tre tự tạo. Đặc biệt, kèn môi là một nhạc cụ rẩt phổ biến
trong cư dân Khơ-Mú.
Người Khơ-Mú không có chữ viết riêng, nên chữ Thái là một phần trong
số ít trí thức Khơ-Mú. Họ cũng theo lịch Thái, tính ngày giờ theo bảng Cà La để
dựng nhà, cưới xin.
Trên đây là một số đặc điểm khái quát về người Khơ-Mú. Dẫu còn sơ
lược và chưa đi sâu vào những đặc điểm nổi trội của dân tộc này, nhưng người
đọc cũng có thể thấy được bản sắc của họ và nếu quan tâm hơn sẽ được tìm hiểu
trong những chuyên khảo hoặc trải nghiệm với họ trong những chuyến du lịch
về với làng bản của người Khơ-Mú, chắc chắn sẽ còn nhiều điều thú vị hơn.
1.2.1 Dân số, nguồn gốc lịch sử, phân bổ dân cư (trên cả nước và địa
bàn nghiên cứu)
Dân số :


Tại Việt Nam, họ sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc và Bắc
Trung Bộ như Nghệ An, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái với số dân theo
điều tra dân số năm 1999 khoảng 56.542 người.
Lịch sử :
Người Khơ-Mú mới vào miền núi Nghệ An trong vòng vài ba trăm năm


1.2.2 Khái quát về đặc điểm văn hóa
A Đặc điểm văn hóa vật chất
Nhà ở
Đến nay ở nhiều vùng người Khơ-Mú vẫn còn du canh du cư. Làng bản
của họ thường cách xa nhau, nhỏ bé, ít dân. Nhà cửa phần lớn làm sơ sài, đồ
dùng trong nhà cũng ít ỏi. Ngôi nhà truyền thống của người Khơ-Mú cao từ 1 –
1,2m. Nhà khá giả làm từ 1,2 – 1,6m, nhà nghèo chỉ làm cao 0,8 – 1m. Nhà
thường từ 3 gian trở nên. Nguyên liệu làm nhà thường là gỗ trong rừng, thường
khá nhiều cột. Khi làm nhà, bao giờ người Khơ Mú cũng chọn hướng đông nam
hoặc tây bắc. Và bao giờ cũng phải tránh hướng có quả đồi nhìn xuống thẳng
ngôi nhà.
Trang phục
Trang phục của nữ
Dân tộc Khơ-Mú không phát triển nghề dệt vải mà thường mua quần áo
và váy có sẵn của người Thái về để mặc, do vậy trang phục của dân tộc Khơ-Mú
có nhiều điểm tương đồng với dân tộc Thái. Một bộ trang phục thường ngày của
đồng bào Khơ-Mú gồm có khăn đội đầu, áo, yếm, thắt lưng, váy, xà cạp. Khăn
đội đầu (hưm pông) thường ngày gần giống như chiếc khăn Piêu của người Thái
được may bằng vải mộc hoặc nhuộm chàm, không trang trí hoa văn. Khăn dài
khoảng 2m, rộng 38- 40cm tuỳ theo khổ vải dệt. Khăn quấn đi lễ hội là loại
khăn có thêu hoa văn một mặt rất đẹp. Người ta khéo léo quấn vòng quanh đầu
để phô phần hoa văn ra ngoài. Một loại khăn khác là khăn nối (một nửa là vải
thô nhuộm chàm, một nửa là dệt hoa văn) cũng thường được phụ nữ dùng trong
dịp lễ hội.
Áo của người Khơ-Mú mặc thường ngày chủ yếu là áo ngắn màu chàm,
xanh thẫm hoặc xanh lá mạ... Nẹp cổ liền với nẹp ngực nhưng chỉ dài ngang
ngực. Phía dưới hai nẹp ngực nối thêm những băng vải nhỏ có màu đỏ, xanh,
vàng... Áo thường có hai lớp vải, lớp trong thường là vải chéo xanh hoặc phin,
lớp ngoài là vải dệt thô nhuộm chàm. Còn áo mặc trong những dịp lễ hội, cưới

xoá đói giảm nghèo. Và cũng từ đó, trang phục truyền thống của dân tộc đagn
dần bị mai một, thậm chí một bộ phận người trẻ đã có xu hướng ăn mặc giống
người Kinh
Trang phục của nam
Trang phục nam giới người Khơ-Mú giống y phục nam giới một số dân
tộc như Thái, Mông, ơ Đu trong vùng. Bộ y phục thường ngày của họ gồm có
áo, quần may bằng vải nhuộm chàm. Tuy nhiên trong những dịp lễ tết, cưới xin
người đàn ông khá giả còn có một chiếc khăn dài và chiếc áo dài bằng vải sa
tanh. Người Khơ Mú ở Nghệ An tuy không trổng bông dệt vải, nhưng trang
phục nam giới cũng có những nét khá riêng. Bộ trang phục của họ có: khăn, áo,
quần, túi đeo. Khăn (bông) làm bằng vải sợi bông, đài 130cm, rộng 50cm. Khăn
được dệt bằng chỉ các màu, tạo các mô tip hoa văn trang trí khác nhau. Mảng
hoa vẫn thứ nhất là các dòng kẻ ngang chạy song song. Mảng hoa văn thứ hai là
hình núi, hình móc câu và các vạch đọc, Mảng hoa ván thứ ba là hình các ô quả
trám nối tiếp nhau bao lấy các hình móc câu và hình các quả trám nhỏ hơn.
Mảng hoa văn thứ tư là hình các chữ s nối tiếp nhau và các hình tam giác sắp


xếp thành bông hoa sáu cánh. Hai đầu khăn là hai dải tua được kết lại theo kiểu
mắt võng, mỗi dải tua dài 26cm.
Ẩm thực của người Khơ-Mú
Các món ăn gồm có: món luộc (thịt lợn, thịt gà, thịt trâu luộc, lòng lợn,
lòng trâu, lòng bò), món nướng: cá nướng, thịt lượn, thịt trâu, thịt bò... Ngoài ra
còn có món xương lam, người Khơ-Mú lấy xương sụn băm nhỏ lẫn với các loại
gia vị mắc khẻn, ớt cay, muối... rồi nhồi vào ống nứa, nướng trên than hồng;
Món mọc có thể là mọc thịt gà, mọc thịt lớn hay là mọc nấm rừng. Người ta lấy
thịt gà, hay thịt lợn hoặc nấm rừng làm sạch, cắt nhỏ trộn gia vị rồi dùng lá
chuối rừng để gói, sau đó đem hông chín.
Các mọc canh bao gồm: Canh pịa (grong bria), đây là món ăn độc đáo
nhất, người ta lấy phụ tạng của trâu, bò hay lợn, thịt thăn băm nhỏ đem trộn gia

tổ tiên, lễ đón mẹ lúa,cúng cầu mùa, lễ hội mừng măng mọc. Trong đó, lễ cúng
tổ tiên và cúng cầu mùa được coi là những phong tục mang đậm nét sinh hoạt
văn hóa hấp dẫn trong tín ngưỡng của người Khơ-Mú. Cũng như nhiều dân tộc
khác, việc thờ cúng tổ tiên của người Khơ-Mú là phong tục không thể thiếu.
Trong đó, các nghi lễ thờ cúng tổ tiên trong dịp lễ Tết thể hiện nét văn hóa độc
đáo của đồng bào. Do những điều kiện giao thoa với các nền văn hóa các dân
tộc khác, nhà sàn của người Khơ-Mú gần giống với nhà sàn của người dân tộc
Thái. Tuy nhiên vẫn có nét khác biệt, đó là nơi thờ phụng trong ngôi nhà. Dù là
nhà có 3 hay 5 gian thì gian đầu hồi luôn dùng để dành riêng để thờ tổ tiên ông
bà, gọi là nơi thờ ma nhà. Khu vực thứ hai là bếp để thờ ma bếp. Nơi thờ ma
bếp cũng là nơi nấu ăn, nấu cỗ cúng, nấu thức ăn hàng ngày, nơi gia đình ăn
uống, tiếp anh em, khách mỗi khi có sự kiện quan trọng. Nhìn chung, việc thờ
cúng của người Khơ-Mú là nhằm cầu mong cho mọi điều lành, nhưng theo
quan niệm tín ngưỡng của đồng bào đôi khi các ma, các thần giận giữ cũng có
thể gây tại họa, vì thế người Khơ-Mú tổ chức nghi lễ cúng còn để bày tỏ sự tôn
kính và thể hiện mong ước của mình. Ông Lương Văn Bình dân tộc Khơ-Mú
cho biết: Việc thờ cúng để cầu cho con cháu, gia đình mạnh khỏe không gặp
hoạn nạn, rủi ro, gặp những cái đáng lo, đáng ngại. Thường thường năm mới
cúng 2 con gà để kinh báo tổ tiên để sang năm mới ông bà phù hộ cho
Theo tập quán của người Khơ-Mú, để làm lễ cúng cho ngày Tết, nhà nào
cũng phải có 2 con gà , một con để cúng tiễn năm cũ, kính cáo với tổ tiên về
tình hình nhà cửa, con cái của gia chủ trong năm qua. Một con gà khác dùng để
cúng đón năm mới, cầu một năm mạnh khỏe, làm ăn phát đạt.. Khi làm lễ tất cả
mọi người trong gia đình phải có mặt đầy đủ. Theo phong tục, người ta bôi một
chút máu gà lên đầu gối mỗi người với ý nghĩa cầu xin cho mọi người được
bình an mạnh khỏe, học hành, làm ăn phát đạt. Trong lễ cúng dịp cuối năm,
người Khơ-Mú cũng chuẩn bị hai vò rượu cần để tiễn năm cũ, đón năm mới.
Trong quan niện của người Khơ-Mú, ngày Tết là ngày gặp gỡ. Khu vực thờ
phụng trong nhà chính là nơi các vị tiên tổ nối tới con cháu bằng tâm linh giao
cảm. Phong tục thờ cúng của người Khơ-Mú là dịp con cháu bày tỏ sự hiếu

Dòng họ
Người Khơ-Mú ở Kỳ Sơn, Nghệ An gọi dòng họ là Tak. Đó là cộng đồng
bao gồm những người có chung quan hệ huyết thống theo trực hệ dòng cha và
tất cả những người cùng chung một vật tổ (tô tem), có chung kiêng kỵ về tô tem
nên không được phép kết hôn với nhau. Hiện nay, người Khơ-Mú ở Kỳ Sơn có
hơn 10 dòng họ; trong đó, bản Bình Sơn 1 có 4 dòng họ; Moong Lữ, Cụt, Vi,
Họ Moong chiếm 46/48 hộ dân Khơ-Mú, họ Lữ có 25 hộ, còn lại là họ Cụt và
họ Vi. Đáng chú ý, khác với người Khơ-Mú ở Tây Bắc thường mang họ tiếng
Thái (Đặng Nghiêm Vạn, 1971), người Khơ-Mú ở Nghệ An gọi dòng họ theo
tiếng dân tộc của mình như: Tmoong, Rvaikrlư, Hung, Oốc…Riêng họ Vi ở bản
Bình Sơn 1 vốn là một gốc người Thái bởi ông tổ ba đời là người Thái đã kết
hôn và ở rể tại bản Khơ-Mú.


Các dòng họ người Khơ-Mú không được tổ chức chặt chẽ như ở người
Hmông, không có trưởng họ và các sinh hoạt tín ngưỡng chung. Tín ngưỡng
dòng họ nổi bật ở người Khơ-Mú thể hiện qua hai hình thức: những kiêng kỵ và
huyền thoại liên quan đến vật mang tên dòng họ; lễ thức thờ cũng ma nhà –
hrôigang. Các tín ngưỡng này mang dấu hiệu để cố kết dòng họ và mức độ hẹp
hơn là chỉ họ và duy trì ngoại hôn dòng họ.
Gia đình người Khơ-Mú là gia đình phụ quyền với hia loại hình hạt nhân và mở
rộng song song tồn tại. Tuy tục ở rể là vẫn tồn tại ở cả hai cộng đồng được
nguyên cứu, nhưng không đậm nét. Ở gia đình truyền thống trước giải
phóng(1945), thậm chí đến những năm trước định canh định cư(1986), một số
gia đình ở bản Co Chai không tồn tại tình trạng khi chung sống với nhà vợ và tổ
tiên vợ sẽ phù hộ không ốm đau, tai nạn. Khi gia đình nhà trai tổ chức cưới đón
dâu về nhà chồng thì sau 10 ngày nhà trai cũng là lễ nhập vía cho cô dâu vào
dòng họ nhà chồng và tập tục này tồn tại đến ngày nay. Con cái sinh ra mặc dù
khi thời gian bố còn ở rể vẫn lấy theo họ bố. Gia đình hỗn hợp dân tộc, con cái
cũng luôn lấy theo họ bố.

tưới nước lên hòn đá, hòn đá cứ to dần. Một hôm đôi vợ chồng đi làm về nghe
thấy tiếng lục cục trong hòn đá, người chồng liền nung cái dùi và khoan thủng
hòn đá, dân tộc Khơ-Mú chui ra trước sau đó đến dân tộc Thái, dân tộc Mông,
dân tộc Kinh…
Sự tích quả bầu:
Xưa có hai anh em, một trai một gái, nhà nghèo, mồ côi cha mẹ. Một
hôm nọ vào rừng kiếm ăn, gặp một con Dúi, bèn đuổi bắt. Dúi chui vào hang.
Hai anh em đào bắt được. Dúi xin tha và nói sở dĩ phải chui vào hang sâu vì trời
sắp sập, sẽ có mưa ngập tất cả. Dúi khuyên hai anh em lấy một khúc gỗ to đẽo
rỗng, chuẩn bị thức ăn đầy đủ bảy ngày bảy đêm rồi chui vào trong đó. Miệng
khúc gỗ được bịt sáp ong như bưng thành mặt trống. Khi hết hạn, hai anh em
lấy lông nhím chọc thủng sáp ong, nếu thấy không có nước rỉ vào thì phá mặt
trống mà ra. Hai anh em tha cho Dúi và làm theo lời Dúi bảo. Mưa lớn, nước
ngập mênh mông. Đúng hạn, hai anh em chui ra, trống mắc trên cây Nhót, vì thế
cây Nhót không bao giờ thẳng. Hai người leo xuống, tặng nhau nắp trầu làm tin
rồi chia tay nhau đi tìm đồng bào. Hai người đi hai ngã nhưng lại gặp nhau, vì
những người khác đã chết hết. Và họ cứ đi tìm như thế nhiều lần mà vẫn thất
vọng vì mọi người khác đã chết hết.Lần cuối cùng, chim Tgoóc khuyên hai anh
em nên lấy nhau để có con nối dõi, loài người được sinh sôi nảy nở. Ít lâu sau,
người em có mang, được bảy năm, bảy tháng, bảy ngày thì sinh ra một quả bầu.
Người chồng muốn đập vỡ ra, người vợ tiếc đem gác lên gác bếp. Một lần đi
làm nương về, hai người cứ thấy tiếng cười đùa trong nhà, nhưng đến khi vào
nhà lại thấy im bặt. Lấy làm lạ, người chồng leo lên gác bếp ghé tai vào quả
bầu, nghe có tiếng ầm ĩ, mang xuống định lấy dao chặt. Sợ như vậy chạm vào
con, người vợ bảo lấy que đốt nhọn đầu và dùi lỗ. Bỗng có người Xá chui ra
trước. Người chồng mừng quá, khoét lỗ rộng thêm, thì người Khơ-Mú (người
Xá) chui ra, người Thái, người Lào, người Lự lại ra theo. Người vợ sốt ruột lấy
củi phang vỡ quả bầu. Người Kinh, người Hán ra nốt, người Xá dính nhọ nên
đen, người Kinh người Hán ra sau nên trắng.


rượu, người con trai nhỏ nghịch ngợm uống rượu này thì bị rụng hết răng,
những người con sau này của cậu con trai này liền lấy tên cây làm họ của mình.
Như vậy, người Khơ-Mú có 3 dòng họ chính là họ Rvai, họ Ríc, họ TVạ
tức họ mang tên loài chim hoặc cây cối. Trong quá trình các tạo phìa cai quản
thì đổi họ cho người Khơ-Mú để thuận lợi cho việc cai quản. Họ họ RVai


chuyển thành họ Quàng, họ Ric chuyển thành họ Lò, họ TVạ chuyển thành họ
Lường.
-Truyện cổ
Thế giới bầu trời và truyện cổ về loài ma trời
Trời là một biểu tượng gần như phổ quát mà qua đó con người thể hiện
niềm tin vào một sinh linh thần thánh ở trên cao, người sáng tạo vũ trụ và bảo
đảm cho sự phì nhiêu của đất bằng những cơn mưa đổ xuống...Trời là một biểu
tượng trực tiếp của cái siêu tại, của uy quyền, của cái vĩnh hằng, cái thiêng
liêng: cái mà không một sinh vật nào trên mặt đất này có thể đoạt được. Chỉ
riêng sự được cất lên cao, ở trên cao cũng đã ngang bằng với uy quyền và sự
tràn trề linh thiêng...Với tư cách là người điều tiết trật tự vũ trụ, trời được xem
là cha của các đế vương là lãnh chúa nơi trần thế. Xuất phát từ ý niệm ấy, cho
nên trời là một thực thể tự nhiên vừa gần gũi, lại vừa bí ẩn và linh thiêng.
Người Khơ-Mú quan niệm, ở thế giới bầu trời có loài ma trời, đó là loại
ma to lớn và là trung tâm của bầu trời có tên là Hrôi lvang. Ma trời được người
dân đang sống và cả các ma khác tôn kính bởi sức mạnh vô đối, nó có thể sai
khiến được cả vị ma Sét (tức Hrôi Chưnđrai) vốn là một vị ma có sức mạnh
khủng khiếp, có thể điều khiển được cả các hiện tượng tự nhiên. Truyện xưa kể
rằng, Hrôi Chưnđrai là một loại ma rất oai phong và mạnh mẽ. Trên mình Hrôi
Chưnđrai luôn mặc bộ áo xanh óng ả, đôi khi lại mặc áo chàm tím, trên tay
mang một lưỡi tầm sét trông như một hung khí. Hrôi Chưnđrai được Hrôi lvang
giao cho làm mưa và làm các điều tốt cho dân bản, trừng trị tất cả những ai dám
làm trái luật lệ của người Khơ Mú. Hrôi Chưnđrai điều khiển cả một đội quân

Người Khơ-Mú có truyện kể về loài ma đất là hrôi ptê. Ma đất được coi
là một tinh linh của một hòn đất, một hòn đá hay một lực lượng siêu nhiên trú
ngụ trong đó. Dưới quyền ma đất còn có ma nương (hrôi hrê), ma rừng (hrôi
bri), ma bản (hrôi cung)... Người Khơ Mú quan niệm trời và đất là một khối
thống nhất nhưng lại là hai lực lượng đối lập giống như âm – dương ở người
Việt. Ma đất vừa được hiểu là loại ma chung chung, vừa được hiểu là ma cụ thể
cai quản từng địa phương cũng như khái niệm thổ thần ở người Việt “Chúng
được coi là tinh linh của một hòn đá hay một lực lượng siêu nhiên trú ngụ trong
một hòn đá. Hòn đá được đặt dưới một gốc cây to và đôi khi người ta vẽ lên hòn
đá một hình người đơn giản. Tục lệ thờ hòn đá này thể hiện ở nhiều mức độ
khác nhau, rõ ràng là rất phổ biến ở vùng Đông Nam Châu Á trước khi đạo Phật
truyền lan đến vùng này. Dưới quyền hrôi ptê còn các loại ma rẫy (hrôi hrê), ma
rừng (hrôi bri), ma bản (hrô cung)....”. Như vậy, ở tộc người Khơ Mú, hiện
tượng sùng bái ma đất gắn liền với tín ngưỡng thờ đá. Ma đất có quyền uy lớn
của mình dưới mặt đất, ma đất có thể điều khiển một số các loài ma khác. Đó là
minh chứng cho niềm tin thần thánh của cộng đồng cư dân đối với thế giới mặt
đất – một thế giới gần gũi và chi phối đến sự sinh tồn của con người.
Trong quan niệm của người Khơ-Mú, trời và đất là một khối thống nhất,
không tách rời nhau. Tuy nhiên, trời và đất là hai lực lượng khác nhau, thậm chí
đối lập. Vì thế, ma đất khác ma trời là nó cai quản các lực lượng hoặc các loại
ma khác ở dưới đất, còn ma trời cai quản các lực lượng siêu nhiên và các loại
ma trên trời. Tuy nhiên, quyền uy của ma trời là vô tận, ma trời cũng có thể điều
khiển được ma đất và các loài ma khắp thế gian.
- Thế giới nước và truyện cổ về loài loài ma thuồng luồng


Nước tượng trưng cho nguồn sống, phương tiện thanh tẩy và sự tái sinh
muôn loài. Nước chứa đựng cái tiềm tàng, vô hình, mầm mống của sự phát triển
và là mối đe dọa muôn loài do có thể đem đến sự tiêu tan. Vì vậy, một mặt nước
là nguồn gốc sự sống và sự tái sinh liên tục đối với con người; một mặt nước

tiếng động mạnh. Tất cả cùng nhau hò reo, trong khi ấy bà góa tay cầm lá cau
kéo, tượng trưng cho việc kéo đuôi thuồng luồng. Khi bà góa rút cái lá cau khỏi
hố thì sẽ chạy ra suối, vừa chạy vừa reo lên cùng đám trẻ con, cả bọn trẻ cùng
chạy theo xuống suối té nước vào người nhau làm cho nước bắn tung tóe khắp
cả, rồi chúng lại cùng nhau hô to lên: “mưa rồi!, mưa rồi!”. Chúng hô to một hồi


rồi mặc quần áo vẫn còn ướt chạy về nhà, trông chúng như những người đang đi
đường gặp mưa chạy về để trú cho khỏi ướt. Đây chính là hình thức ma thuật
theo nguyên lý bắt chước. Các loài vật giống nhau sẽ mang lại cảm ứng cho
nhau. Hình thức ma thuật này biểu hiện khát vọng và niềm tin cổ xưa của loài
người về loài ma cai trị thế giới nước. Ở người Khơ-Mú, hình thức ma thuật ấy
mang ý nghĩa hết sức thực tế, đó là mong muốn về nguồn nước đầy đủ và sự
phồn thịnh của muôn loài (động vật và thực vật).
-Thế giới đại ngàn linh thiêng và truyện cổ về loài ma hổ
Trong trạng thái tự nhiên, đại ngàn núi rừng tồn tại với địa hình uốn lượn,
cây cối bạt ngàn, muôn loài thú vật sinh tồn, nó thực sự mang trong mình sự
xanh tươi, u tối và huyền bí. Rừng mang biểu hiện mạnh mẽ của sự sống. Do
vậy, trong thế giới kỳ vĩ của nó con người luôn dành cho rừng một không gian
trú ngụ của các lực lượng siêu nhiên có ảnh hưởng đến đời sống con người.
Trong ý niệm của người Khơ-Mú, thế giới đại ngàn linh thiêng có hình
tượng loài ma hổ (rvai) ngự trị. Theo truyện kể, ma hổ là “tinh” của loài hổ, nó
sống trên rừng, làm chúa tể của rừng và cai quản muông thú. Ma hổ là loại ma
khá hung hãn, nó có thể mang đến tai họa cho con người trong những chuyến đi
rừng hiểm trở, nó cũng có thể hiện về quấy phá, gây hại cho con người. Ma hổ
có quyền lực chủ yếu trong phạm vi các khu rừng, nó ngự trị trong rừng sâu
thẳm, nhưng ánh mắt nó nhìn thấu bốn phía. Tất cả các hoạt động của muông
thú và của con người nó đều nhận biết được. Địa hạt linh thiêng của ma hổ là
núi rừng đại ngàn, trong tâm thức cộng đồng, ma hổ đã được linh thiêng hoá và
trở thành một loài ma hung dữ, nó luôn mang lại hiểm hoạ cho con người.

Sự đa dạng trong các điệu Tơm cho thấy tâm hồn của người Khơ-Mú hết
sức phóng khoáng. Người hát có thể hát đơn, hát đối đáp cũng có khi hát tập
thể, hát lúc rảnh rỗi, hát khi lên nương để bớt mệt nhọc, hát Tơm để giãi bày
tâm tình.
Trong đời thường người Khơ-Mú thường hát mộc ( không có nhạc đệm)
hoặc hát có tiếng đệm của sáo Pí Tơm (loại sáo dọc bằng tre), đó cũng là loại
nhạc cụ đặc trưng của người Khơ-Mú. Chị Hoàng Thảo, nhà nghiên cứu về âm
nhạc dân tộc dân tộc thiểu số, cho biết: “Nét độc đáo của hát Tơm chính là làn
điệu và ca từ trong câu hát đều không do nhạc sỹ sáng tác, mà do chính người
hát tự ứng tác theo hoàn cảnh để bộc lộ cảm xúc, bộc lộ tâm trạng, thể hiện
niềm vui, nỗi buồn, ước mơ, hy vọng của riêng cho mình. Thậm chi khi buồn,
khi gặp khó khăn người hát vẫn có thể thốt lên nỗi buồn để giải tỏa tâm trạng
của mình”.
Hát Tơm của đồng bào Khơ-Mú là loại hình dân ca tương đối khó, đòi hỏi
nhiều yếu tố. Để có thể hát hay, người hát không chỉ có giọng truyền cảm, mà
còn phải biểu hiện được sắc thái sao cho duyên dáng. Nội dung của các bài hát
Tơm thường gắn với câu chuyện về lịch sử, về cuộc sống hạnh phúc hay khổ
đau trong lịch sử của dân tộc Khơ-Mú. Hát Tơm còn để ca ngợi tình yêu với bản
làng, ca ngợi tình cảm anh em, họ hàng, ca ngợi tình yêu đôi lứa. Khi chàng trai
chiếm được cảm tình của một cô gái, chàng trai có thể hát ứng tác để bày tỏ nỗi
lòng của mình. Trong các dịp cưới xin, dựng nhà mới hay lễ mừng đầy tháng
con trẻ thì các chàng trai cô gái đều có thể hát ứng khẩu với nhau. Cái hay của
lối ứng đáp trong hát Tơm, chính là sự phong phú của ca từ. Tuy nhiên, trong
các làn điệu hát Tơm vẫn có trật tự, quy định nhất định. Tiến sỹ Vi Văn An ở


Bảo tàng dân tộc học Việt Nam, cho biết: “ Những bài hát Tơm mang tính cổ
điển ngày xưa thường vẫn có công thức. Công thức tùy theo từng người, tùy
theo tài ứng khẩu, kinh nghiệm cũng như sự hiểu biết của từng người mà có thể
bài hát Tơm đó được kéo dài, có vần, có điệu, có nội dung và có ý nghĩa. Phần

những lúc đi nương, đi rẫy và hát Kơ Le, được ví như hát đồng dao của người
Kinh. Người Khơ-Mú rất thích xòe, múa và thổi các loại sáo, các nhạc cụ bằng


tre, nứa tự tạo. Họ đặc biệt yêu thích thổi kèn môi và dân vũ (hay gọi là múa).
Bởi vậy nếu dân ca là những câu hát trữ tình sâu lắng, ý nhị thì dân vũ là những
động tác mô phỏng lao động, sinh hoạt. Với người Khơ-Mú, dân vũ được coi là
một công cụ giáo dục đạo đức, lối sống cho các thế hệ con cháu. Bởi khi múa
người Khơ-Mú thấy được sự tự tin, yêu đời và qua đó, chúng ta thấy được cách
thức họ đối diện với cuộc sống.
Những điệu hát Tơm của người Khơ-Mú được truyền lại cho con cháu
sau này bằng hình thức truyền khẩu miệng từ đời này sang đời khác. Song hiện
nay, ở các bản làng của người Khơ-Mú, thường chỉ còn những người có tuổi là
biết hát. Tơm dần vắng bóng trong các ngày vui của bản, của làng nên thế hệ trẻ
không còn có nhiều cơ hội được tiếp xúc với những điệu Tơm truyền thống.
-Múa
+Múa Viêng ver guông
Với múa, người Khơ-Mú ở Mường Phăng còn duy trì những điệu cơ bản
như múa nắm tay vòng tròn, múa nắm khuỷu tay... Đặc biệt, nói đến múa của
người Khơ-Mú không thể không nói đến điệu múa Viêng ver guông. Múa Viêng
ver guông là điệu múa khó, đòi hỏi phải kết hợp nhuần nhuyễn, uyển chuyển,
linh hoạt của nhiều động tác trên cơ thể như: lên, xuống, uốn lượn, lắc ngang từ
chân đến tay, bụng...
Sở dĩ có những động tác như vậy theo lý giải là vì người Khơ-Mú yêu lao
động, múa cũng mô phỏng các động tác, cử chỉ lao động hàng ngày như: gặt
lúa, xúc tép, làm cỏ... Múa Viêng ver guông đa dạng về nội dung: múa mừng
xuân, múa Viêng ver guông tăng bu, múa xòe vòng. Nói về điệu múa này, chị
Minh Châu cho biết: “Điệu múa Viêng ver guông ở Điện Biên thường nói là
múa vui ngày hội hay múa mừng được mùa của nhân dân được thể hiện trong
các hoạt động sinh hoạt đời thường. Động tác múa như là đang đi lợp mái nhà

biểu diễn bất cứ lúc nào, nhất là vào những đêm rằm chơi trăng, hò hẹn.
Múa Ong eo đa dạng về nội dung: múa mừng xuân, múa Viêng ver guông
tăng bu, múa xòe vòng. Mỗi khi trống, chiêng nổi lên, điệu múa Ong eo bắt đầu.
Tốp múa nam nữ ở lẫn trong đám đông bước ra. Khi múa Ong eo, người nam
thường đeo chiếc khoong khăn vừa là nhạc khí, vừa là đạo cụ, trong khi các cô
gái với bộ váy thổ cẩm sặc sỡ, nụ cười duyên dáng, nhịp gót nhún rộn ràng, uốn
lượn lưng eo khiến người xem ngẩn ngơ say đắm. Khi Ong eo mới bắt đầu,
khoảng cách giữa khán giả và "diễn viên" còn đƣợc duy trì. Càng say sưa múa,
người vòng ngoài, vòng trong càng đắm chìm cùng tiết tấu, nhịp điệu múa và
khoảng cách mất dần. Khi ấy người múa tự khoe mình là chính,đội hình bị phá
vỡ và tất cả hòa vào làm một, ai cũng múa, đắm đuối uốn lượn...
Các động tác của múa Ong eo là:
Động tác 1: Lắc hông tại chỗ.
Động tác 2: Lắc hông ngồi
Động tác 3: Lắc hông bước sang ngang.
Động tác 4: Lắc hông di động.


Tình cảm của động tác: vui vẻ, sảng khoái, nhịp nhàng, yêu lao động
+

Múa mừng nhà mới

Người Khơ-Mú xưa kia sống rất nghèo khổ, chỉ làm được những căn nhà
nửa sàn, nửa đất đứng chênh vênh bên sƣờn núi. Nhà khá thì làm được 5 gian,
một chái. Nhà nào có cụ ông, cụ bà già cả thì mới được phép làm bàn thờ (ma
nhà) gồm 3 bếp: một bếp chính ở cửa đi vào chuyên nấu thức ăn, sưởi lửa, tiếp
theo là gian bếp bàn thờ, gian trong cùng là bếp chuyên xôi cơm, xôi rau. Nhà
làm xong, phải theo đúng tục “Lên nhà mới” (Khươn gang mệ) thì mọi ngƣời
mới được bước lên sàn nhà ở. Sau khi làm xong các thủ tục lên nhà mới, mọi


tra hạt, những âm thanh như đánh thức đất trời, khích lệ những người tham gia
lao động. Phía nữ cũng dàn hàng, đối diện. Nam vừa húng lỗ vừa lùi. Nữ vừa tra
hạt giống vừa tiến, chân gạt nhẹ lấp đất. Cả tốp người, bên nam, bên nữ, cùng
làm cùng nhịp nhàng uyển chuyển, hài hòa nhảy múa trong tiếng nhạc rộn ràng
và trong khúc dân ca của chính người Khơ-Mú: “Mưa rơi”
“Mưa rơi cho cây tốt tươi.Búp chen lá trên cành.
Trên nương hương thơm nếp vàng.
Măng cười hé lên cùng.
Ngạt ngào hương thơm bay theo gió.
Những chim nướng cùng nếp thơm. Nhìn mà no!”.
Các động tác múa chọc lỗ tra hạt
Động tác của nam
Động tác 1: Nhún nhẹ bước tiến
Động tác 2: Chọc lỗ
Động tác của nữ
Động tác 1: Nhún nhẹ bước tiến
Động tác 2: Gieo hạt
Động tác 3: Lấp đất
Tình cảm động tác: Dẻo dai, uyển chuyển, thể hiện nét đẹp trong lao
động
2.2.3 Nhạc cụ dân gian
Các nhạc cụ tự tạo cũng khá phong phú như:
– Kèn môi
+Th’roông (kèn môi) của người Khơ-Mú được làm từ một thanh tre hoặc
nứa già để khô. Chiều dài của chiếc đàn này khoẳng 14cm, phần rộng nhất của
thân đàn khoảng 1,5cm. hình dáng chiếc đàn này cơ bản giống với những chiếc
đàn môi bằng kim loại đồng của nhiều dân tộc thiểu số khác. Do đó, hình dáng
khi chế tác và phương pháp diễn tấu giữa chúng là giống nhau. Khi biểu diễn,
âm thanh của chiếc đàn môi này không vang sâu như những chiếc làm từ kim

bình khoảng 60cm, đường kính từ 2 đến 2,5cm. Sáo chỉ có một lỗ duy nhất nằm
cách cuối thân sáo khoảng 2cm, lúc thổi cho ra hai cao độ khác nhau. Khi nghe,
ta sẽ được nghe một cuộc “đối đáp” giữa hai loại âm thanh: một phát ra từ cây
sao và một là những lời hát phát ra từ miệng người biểu diễn. Người ta thổi tót
mu theo giai điệu của những bài ru con, hoặc giai điệu của bài Tơm. Tót mu sử
dụng trong sinh hoạt giải trí, không dùng trong các nghi lễ tín ngưỡng.
Ngoài những nhạc cụ trên, đồng bào Khơ-Mú còn có:
– Trống
– Chiêng
– Não bạt


2.1.3 Trò chơi dân gian
Một số trò chơi thể thao dân gian gắn liền với Lễ cầu mưa như: Kéo co
(rù chi mớ), Đẩy gậy (nhút dọ), Múa sạp (tẹ khiệp), Múa tầm đao (tăm đao),
Múa tăng bu (tăm rờ bang - múa theo tiếng chiêng), Ném còn (tọt còn),…
-Trò đẩy gậy
Đẩy gậy vừa là trò chơi dân gian, vừa là môn thể thao truyền thống,
thường được tổ chức vào dịp đầu Xuân, trong những ngày Tết, dịp lễ hội, các
ngày hội văn hóa, thể thao.
Môn thể thao này đã góp phần đẩy mạnh phong trào TDTT, làm phong
phú thêm đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào Khơ-Mú
Không chỉ những thanh niên cường tráng, khỏe mạnh tìm đến môn thể
thao này, mà những người lớn tuổi, người già cũng háo hức tham gia. Những ai
không đủ khả năng thi đấu thì làm cổ động viên, cổ vũ hết mình để tăng thêm
tinh thần cho những vận động viên khi có các trận đấu.
Chỉ với một cây gậy thi đấu làm bằng loại gỗ tốt, thẳng hoặc tre già có
chiều dài 2m, được sơn 2 màu khác biệt (thường sơn màu đỏ - vàng hoặc đỏ trắng); thân gậy được làm nhẵn và có đường kính bằng nhau (khoảng 5cm) là đã
đủ dụng cụ để bắt đầu trò chơi đẩy gậy.
Đẩy gậy là môn thể thao dân tộc cần đến sức khoẻ và sự khéo léo của mỗi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status