TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ TUYỀN
ẢNH HƯỞNG CỦA BA VÀ TDZ TRÊN SỰ NHÂN
CHỒI, THUẦN DƯỠNG CÂY MAI ĐỊA THẢO
(Impatiens hawkeri Bull.) IN VITRO
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: HOA VIÊN CÂY CẢNH
Cần Thơ, 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngành: HOA VIÊN CÂY CẢNH
Tên đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA BA VÀ TDZ TRÊN SỰ NHÂN
CHỒI, THUẦN DƯỠNG CÂY MAI ĐỊA THẢO
(Impatiens hawkeri Bull.) IN VITRO
Cán bộ hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Hội đồng chấm luận văn đã chấp thuận Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Hoa viên
& Cây cảnh với đề tài: “ẢNH HƯỞNG CỦA BA VÀ TDZ TRÊN SỰ NHÂN
CHỒI, THUẦN DƯỠNG CÂY MAI ĐỊA THẢO (Impatiens hawkeri Bull.) IN
VITRO”, do sinh viên Nguyễn Thị Tuyền thực hiện và bảo vệ trước hội đồng chấm
luận văn tốt nghiệp và đã được thông qua.
Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức:
Ý kiến hội đồng:
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Khoa Duyệt
Cần Thơ, ngày……tháng……năm 2011
Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Thành viên 1
Thành viên 2
Thành viên 3
ii
LỜI CAM ĐOAN
Chân thành cảm ơn!
Cô Lâm Ngọc Phương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình
thực hiện luận văn tốt nghiệp. Cám ơn cô đã có những lời khuyên bổ ích và tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho em nghiên cứu, hoàn thành tốt luận văn này.
Quý thầy cô, chị Lê Minh Lý và các anh chị phòng Nuôi cấy mô, Bộ môn Sinh
lý – Sinh hóa, khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng đã quan tâm, giúp đỡ em
trong quá trình thực hiện đề tài.
Thầy Lê Văn Bé – cố vấn học tập lớp Hoa viên & Cây cảnh khóa 33 cùng tất cả
quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập.
Kính dâng!
Cha mẹ đã sinh ra và nuôi dạy, suốt đời tận tụy vì con.
Thân gửi về!
Cô Lâm Ngọc Phương, thầy Lê Văn Bé, chị Lê Minh Lý và các bạn lớp Hoa
Viên & Cây Cảnh khóa 33 những lời chúc tốt đẹp nhất.
Nguyễn Thị Tuyền
v
MỤC LỤC
Trang
Nội dung
Trang phụ bìa
Trang kính trình hội đồng
I
Xi
Tóm lược
Xii
MỞ ĐẦU
1
Chương LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1
1.1 Sơ lược về cây mai địa thảo
2
2
1.1.1 Nguồn gốc và sự phân bố
2
1.1.2 Phân loại và đặc điểm thực vật
2
1.1.3 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ mai địa thảo
3
2.1 Phương tiện thí nghiệm
14
2.2.1 Vật liệu thí nghiệm
14
2.2.2 Phương tiện thí nghiệm
14
2.2.3 Địa điểm và thời gian tiến hành thí nghiệm
15
2.2 Phương pháp thí nghiệm
15
2.2.1 Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của BA và TDZ trên sự nhân chồi
maidddddddddddddddlfffmamfdmai mai địa thảo
2.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của các loại giá thể đến cây mai địa
thảo trong điều kiện nhà lưới
2.3 Xử lý số liệu
15
Chương KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.2.2 Chiều cao gia tăng
34
3.2.3 Số lá gia tăng
36
3.2.4 Số chồi gia tăng
37
3.2.5 Số rễ, chiều dài rễ (cm), trọng lượng tươi gia tăng (g)
38
3.2.6 Số nụ hoa mai địa thảo
40
Chương KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4
4.1 Kết luận
43
43
4.2 Đề nghị
3.2
Số chồi gia tăng trên môi trường có các nồng độ BA và TDZ khác
nhau ở 2 tuần sau khi cấy
19
3.3
Số chồi gia tăng trên môi trường có các nồng độ BA và TDZ khác
nhau ở 3 tuần sau khi cấy
20
3.4
Số chồi gia tăng trên môi trường có các nồng độ BA và TDZ khác
nhau ở 4 tuần sau khi cấy
20
3.5
Chiều cao gia tăng trên môi trường có các nồng độ BA và TDZ
khác nhau ở 1 tuần sau khi cấy
23
3.6
nhau ở 2 tuần sau khi cấy
27
3.11
Số lá gia tăng trên môi trường có các nồng độ BA và TDZ khác
nhau ở 3 tuần sau khi cấy
28
3.12
Số lá gia tăng trên môi trường có các nồng độ BA và TDZ khác
nhau ở 4 tuần sau khi cấy
29
3.13
Trọng lượng tươi gia tăng (g) trên môi trường có các nồng độ BA
và TDZ khác nhau ở 4 tuần sau khi cấy
30
3.14
Số rễ gia tăng trên môi trường có các nồng độ BA và TDZ khác
nhau ở 1 tuần sau khi cấy
nhau sau 1-6 tuần thuần dưỡng
34
3.20
Số lá gia tăng của cây ở các giá thể thuần dưỡng khác nhau sau 16 tuần thuần dưỡng
37
3.21
Số chồi gia tăng của cây ở các giá thể thuần dưỡng khác nhau sau
1-6 tuần thuần dưỡng
38
3.22
Số rễ, chiều dài rễ (cm), trọng lượng (g) của cây mai địa thảo ở
các giá thể thuần dưỡng khác nhau sau 6 tuần thuần dưỡng
39
3.23
Số nụ hoa của cây mai địa thảo ở các giá thể thuần dưỡng khác
nhau sau 6 tuần thuần dưỡng
41
Chồi mai địa thảo trên môi trường có các nồng độ BA và TDZ
khác nhau ở 4 tuần sau khi cấy
22
3.2
A) Cây mai địa thảo trước khi thuần dưỡng,
33
B) Cây mai địa thảo trồng trong các ly nhựa và được thuần dưỡng
4 tuần nơi nhà lưới
3.3
Sự sinh trưởng và phát triển của cây mai địa thảo sau 6 tuần thuần
dưỡng ở các giá thể khác nhau
36
3.4
Số rễ, chiều dài rễ của cây mai địa thảo sau 6 tuần thuần dưỡng ở
các giá thể khác nhau
40
3.5
Cây mai địa thảo ra nụ hoa 42 ngày sau khi thuần dưỡng ở
2,4-Dichlorophenoxyacetic acid
NAA
1-Naphthalene acetic acid
BA
Benzyl adenine
IBA
Indole-3-butyric acid
Kinetin
6-Furfurylaminopurine
TDZ
Thidiazuron (1-phenyl-3-(1,2,3 thiadiazol-5-yl))
ctv.
Cộng tác viên
TT
Tro trấu
MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nhu cầu mua các loài hoa của con người tăng. Trong
các giống hoa thì hoa mai địa thảo rất thích hợp cho việc trồng trong chậu làm cây
cảnh trang trí hoặc trồng trong các bồn hoa của sân vườn. Cây mai địa thảo
(Impatiens hawkeri Bull.) có nhiều giống với màu sắc hoa đa dạng như: xanh biển,
đỏ sẫm, cam, hồng, trắng, có sọc hoặc đốm… là loài cây được ưa chuộng nhiều
mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đặc điểm của cây này là thích nghi với cường độ ánh
sáng thấp vì vậy rất thích hợp cho cây cảnh trang trí trong sân vườn hoặc công sở.
Mai địa thảo được nhân giống bằng phương pháp truyền thống như: gieo hạt,
giâm cành thì hệ số nhân thấp không đồng đều nên chưa thể đáp ứng nhu cầu khi
cần trồng cây với số lượng lớn, đồng loạt. Các phương pháp này cho giá thành cây
giống thấp và chất lượng giống hoa không cao, dễ bị thoái hóa, làm giảm chất lượng
hoa... Ở Việt Nam chủng loại hoa khá phong phú nhưng thiếu giống hoa đẹp và chất
lượng cao (Nguyễn Văn Tới, 1999). Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước
thì yêu cầu số lượng và chất lượng hoa mai địa thảo ngày càng cao. Do đó, những
năm gần đây việc nhân giống hoa mai địa thảo bằng phương pháp cấy mô là rất cần
thiết. Phương pháp này đã khắc phục được những nhược điểm trên, đồng thời có thể
ứng dụng công nghệ mới để tạo cây giống có chất lượng cao. Trên thế giới, vi nhân
giống cây mai địa thảo đã được nghiên cứu và đưa vào sản xuất do có thể nhân số
lượng lớn cây giống trong thời gian tương đối ngắn, gia tăng năng suất và phẩm
chất cây con (Kyungchul và Loren, 2003). Vi nhân giống cây mai địa thảo đã được
tiến hành bởi Aaron (2005). Kết quả nghiên cứu trên Impatiens walleriana L. cho
thấy hệ số tái sinh lớn và số lượng chồi trên mỗi mẫu cấy bằng cách sử dụng môi
trường MS bổ sung 1 μM thidiazuron.
Trong vi nhân giống cây mai địa thảo nhiều loại mẫu thực vật được sử dụng để
nuôi cấy như chồi, đoạn thân. Cây con được tạo ra có sức sống cao từ kỹ thuật vi
nhân giống đã đóng góp rất lớn cho công tác sản xuất giống và mang lại hiệu quả
kinh tế cao cho những người sản xuất hoa.
Đề tài “Ảnh hưởng của BA và TDZ trên sự nhân chồi, thuần dưỡng cây mai
địa thảo (Impatiens hawkeri Bull.) in vitro” được thực hiện nhằm tìm nồng độ BA
Cây mai địa thảo có tốc độ sinh trưởng nhanh là cây ưa sáng hoặc chịu bóng
râm, tốt nhất nên che nắng vào buổi chiều. Ánh sáng thấp làm chậm ra hoa (Jonn và
ctv., 2004). Mai địa thảo thích hợp với loại giá thể thoát nước tốt và giữ ẩm. pH
trong khoảng 5,8-6,5 nhưng thích hợp nhất ở 5,9-6,1. Nhiệt độ cây sinh trưởng thích
hợp 25-270C (Jonn và ctv., 2004). Trong điều kiện ánh sáng thích hợp thì nhiệt độ
kiểm soát thời gian ra hoa, số lượng hoa và toàn bộ sự sinh trưởng của cây. Mai địa
thảo thoát hơi nước rất nhiều trên bề mặt của lá. Do đó mai địa thảo cần rất nhiều
nước để cây tươi tốt và khỏe mạnh. Ở giai đoạn cây con, tưới nước đầy đủ sẽ giúp
cho bộ rễ phát triển tốt nhưng nếu tưới quá ẩm thì sẽ tạo điều kiện cho nấm bệnh
phát triển (Jonn và ctv., 2004).
1.1.3 Tình hình sản xuất và thị trường tiêu thụ mai địa thảo
Trong những năm gần đây hoa mai địa thảo trở thành một loại hoa rất thích hợp
cho việc trồng trong chậu để trang trí nơi công sở hoặc trồng trong nhà. Ở nước ta
thì mai địa thảo được sản xuất nhiều nhất ở Đà Lạt, ngoài ra mai địa thảo còn trồng
nhiều ở Củ Chi, Sa Đéc và một số vùng khác.
Hiện nay mai địa thảo được trồng phổ biến nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam
đa số hoa mai địa thảo được nhập khẩu vì thế mà giá thành hạt giống nhập nội cao.
Do đó, phương pháp nhân giống mai địa thảo bằng kỹ thuật vi nhân giống đã được
áp dụng. Hiện nay có rất nhiều phòng thí nghiệm nuôi cấy mô ở nước ta. Trong đó
Đà Lạt là nơi có nhiều phòng thí nghiệm nuôi cấy mô của tư nhân phục vụ cho công
tác nhân giống hoa cảnh và rau củ (Nguyễn Bảo Toàn, 2010).
1.2 Sơ lược về vi nhân giống
Vi nhân giống là việc nhân đúng kiểu cây của một kiểu gen được tuyển chọn
bằng kỹ thuật in vitro (Nguyễn Bảo Toàn, 2010).
Vi nhân giống được bắt đầu bằng tách đỉnh chồi hoặc mô phân sinh từ các cây
sau đó khử trùng và đưa vào nuôi cấy ở môi trường phù hợp. Các chồi hình thành
được tách ra và chuyển sang môi trường mới và quy trình cứ thế được lặp lại. Ngoài
ra, vi nhân giống có thể thực hiện thông qua việc tạo phôi hoặc tái sinh cây thẳng từ
bổ sung hàm lượng agar thích hợp (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thuỷ Tiên,
2002).
* Nước
Phẩm chất nước là điều kiện quan trọng trong nuôi cấy mô. Nước sử dụng trong
nuôi cấy mô là nước cất một lần, trong một số trường hợp ta sử dụng nước cất 2 lần
hoặc khử khoáng (Nguyễn Bảo Toàn, 2005).
* Đường
Hầu hết các mô nuôi cấy là dị dưỡng không có khả năng tổng hợp cacbon. Trong
phần lớn các môi trường nguồn cacbon và năng lượng chủ yếu là đường sucrose và
glucose (20-40 g/l) (Nguyễn Đức Lượng, 2004). Khi sử dụng đường sucrose trong
nuôi cấy nó được thuỷ phân hoàn toàn một phần thành monosaccharide (Nguyễn
Bảo Toàn, 2005). Ngoài ra còn có thể sử dụng các loại đường maltose, fructose…và
tuỳ thuộc vào loại mô tế bào và mục đích nuôi cấy.
* Khoáng đa lượng
Theo Lê Trần Bình và ctv. (1997), khoáng đa lượng bao gồm các nguyên tố
khoáng đươc sử dụng với nồng độ trên 30 ppm. Những nguyên tố đó là N, P, K, S,
Mg và Ca. Theo Lê Văn Hoà và ctv. (2004), khoáng đa lượng rất cần thiết cho cây
và chúng ảnh hưởng đế việc hấp thụ dinh dưỡng của mô nuôi cấy và chúng không
4
gây ngộ độc. Đạm (N) là một chất có vai trò quan trọng đời sống của thực vật. Đạm
là một thành phần quan trọng của protein, chiếm 40-50% chất khô của nguyên sinh
chất, đạm còn có trong cấu tạo của diệp lục tố, pyrimidin và purin…(Lê Văn Hoà và
Nguyễn Bảo Toàn, 2004). Mô tế bào nuôi cấy có thể sử dụng các dạng đạm như
amonium (NH4+) và nitrat (NO3–), đồng thời có thể sử dụng các dạng đạm hữu cơ
như acid amin. Tỉ lệ giữa ammonium và nitrat tuỳ theo từng loài và các giai đoạn
phát triển của mô (Nguyễn Văn Uyển, 1984). Lân (P) thường được đưa vào môi
trường với dạng muối phosphate. Kali (K) thường cung cấp cho môi trường dưới
dạng KNO3, KCl, và KH2PO4.
* Agar
Theo Bùi Bá Bổng (1995), agar được bào chế từ rong biển, dùng làm chất nền
cho môi trường nuôi cấy vì nó có nguồn gốc thực vật tự nhiên, agar không độc cho
môi trường, lượng dùng là 0,6-0,8%. Theo Nguyễn Bảo Toàn (2004), nồng độ agar
sử dụng sẽ ảnh hưởng đế thế năng nước trong môi trường, độ cứng của môi trường,
sự sinh trưởng của mẫu cấy, các vấn đề sinh lý của mẫu cấy như sự thừa nước và sự
hoạt động của cytokinin trong môi trường nuôi cấy. Nồng độ agar cao, môi trường
trở nên cứng, sự khuếch tán các chất dinh dưỡng cũng như sự hấp thụ của mô sẽ gặp
khó khăn (Bùi Bá Bổng, 1995).
* pH của môi trường
pH của môi trường là 1 yếu tố quan trọng. Sự ổn định của pH môi trường là yếu
tố duy trì trao đổi chất trong tế bào. Sự hấp thụ chất sắt cũng phụ thuộc vào pH
(Nguyễn Đức Thành, 2002). Giá trị pH thích hợp cho môi trường nuôi cấy mô thực
vât biến đổi từ 5-6 (Vũ Văn Vụ, 1999). Giá trị pH ảnh hưởng đến khả năng hoà tan
các ion trong môi trường khoáng, khả năng đông tụ agar và sự tăng trưởng của tế
bào. Murashige và Skoog (1962) nhận thấy rằng độ pH=5,7-5,8 thích hợp duy trì sự
hoà tan các chất khoáng trong môi trường MS. Nếu môi trường MS được điều chỉnh
ở dạng lỏng thì có thể điều chỉnh pH=5. Thường thì pH được điều chỉnh trước khi
thanh trùng, nhiệt độ cao sẽ làm tăng tính acid của môi trường. Mann và ctv. (1982)
nhận thấy rằng, nếu trước khi thanh trùng mà chỉnh pH=5,7 thì sau khi hấp tiệt
trùng, pH sẽ giảm xuống còn 5 (trích dẫn bởi Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thuỷ
Tiên, 2002).
* Chất điều hoà sinh trưởng
Bên cạnh các chất cung cấp dinh dưỡng cho mô nuôi cấy, việc bổ sung một hoặc
nhiều chất điều hòa sinh trưởng như auxin, cytokinin là rất cần thiết để kích thích sự
sinh trưởng, phát triển và phân hoá cơ quan, cung cấp sức sống tốt cho mô và các tổ
chức. Tuy vậy, nhưng yêu cầu đối với những chất này thay đổi tuỳ theo loại thực
vật, loại mô, hàm lượng chất điều hòa sinh trưởng nội sinh. Chất điều hoà sinh
trưởng thực vật là những chất có hoạt tính sinh học rất lớn, được tạo ra một lượng
cho phân chia tế bào và quá trình phân biệt hoá tế bào. Auxin tự nhiên được tìm
thấy ở thực vật là IAA (3-indolyl-acetic acid) (George, 1993).
Các auxin thường dùng nhất trong nuôi cấy mô là 2,4-D (Dichlophenoxy acetic
acid), NAA (Naphthalene acetic acid), IBA (Indole butyric acid), IAA (Indole
acetic acid). NAA và IBA thường dùng để cho ra rễ và dùng để phối hợp với
cytokinin trong sự nhân chồi. Tuỳ theo mục đích thí nghiệm mà người ta có thể
dùng loại và nồng độ auxin khác nhau. Theo Nguyễn Đức Thành (2000), thì chất
này có tác dụng làm tăng hô hấp của tế bào và mô nuôi cấy, tăng hoạt tính enzym và
ảnh hưởng mạnh đến trao đổi chất của nitơ, tăng khả năng tiếp nhận và sử dụng
đường trong môi trường. NAA là một auxin nhân tạo, hoạt tính mạnh hơn auxin tự
nhiên IAA, NAA có vai trò quan trọng đối với phân chia tế bào. Nồng độ auxin
thường được sử dụng trong môi trường nuôi cấy từ 0,1-2,0 mg/l vì chúng có hiệu
quả ở nồng độ thấp (Vũ Văn Vụ và ctv., 2006).
Cytokinin
Sự phát hiện cytokinin vào năm 1955 khi Miller và ctv. đã tách được một chất từ
việc hấp mẫu ADN của tinh dịch cá thu, có khả năng kích thích sự phân chia tế bào
rất mạnh trong nuôi cấy mô được gọi là kinetin (Vũ Văn Vụ, 1999). Cytokinin là
một trong những chất điều hòa sinh trưởng (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy
Tiên, 2002). Chức năng chính của Cytokinin là kích thích sự phân bào và kích thích
7
pha dãn dài lẫn pha chuyên hóa. Theo Wililam (1996), cytokinin ảnh hưởng lên sự
phát sinh chồi và nhân chồi, trẻ hóa mô cấy cũng như sự kích thích phân chia tế bào
và định hướng phân hóa tế bào. Cytokinin có tác dụng kích thích sự tăng trưởng của
chồi bên và làm giảm hiện tượng ưu thế ngọn. Việc bổ sung cytokinin vào môi
trường nuôi cấy có thể cảm ứng được sự tăng trưởng của một vài chồi nhỏ từ mẫu
cấy sau khoảng 4-6 tuần nhưng nếu nồng độ cytokinin quá cao sẽ kích thích sự hình
thành của nhiều chồi nhưng những chồi này không thể kéo dài, hoặc làm cho lá bị
biến dạng hoặc làm cho chồi chứa nhiều nước (Nguyễn Đức Lượng và Lê Thị Thủy
ngược lại tỷ lệ cao auxin và cytokinin thấp thích hợp cho tạo rễ, còn ở mức độ trung
gian thích hợp cho tạo mô sẹo (Nguyễn Bảo Toàn, 2010).
1.2.3 Các giai đoạn trong vi nhân giống
Debergh và Zimmerman (1991) đã chia vi nhân giống thành những giai đoạn
khác nhau, trong mỗi giai đoạn có một chức năng riêng. Do đó, sự thành công của
vi nhân giống phụ thuộc vào tất cả các giai đoạn.
Giai đoạn 0
Là giai đoạn cải thiện vệ sinh của cây mẹ. Cây dùng để lấy mẫu phải sạch bệnh
và đang ở trong giai đoạn tăng trưởng mạnh thì khi nhân giống mới đạt hiệu quả
cao. Vì vậy cây mẹ cần được bón phân, phun thuốc trừ sâu bệnh chu đáo và mẫu
cấy phải được cấy vào thời điểm tăng trưởng mạnh nhất của cây mẹ.
Giai đoạn 1
Là giai đoạn thực hiện thao tác cấy. Nó là một sự kết hợp giữa một phương pháp
vô trùng đầy đủ và tỉ lệ sống cao. Vị trí lấy mẫu và phương pháp khử trùng quyết
định đến tỉ lệ nhiễm và sống của mẫu cấy là rất lớn. Khử trùng bề mặt mẫu cấy là
cách loại bỏ vi sinh vật bám trên bề mặt mẫu cấy. Ta có thể áp dụng các biện pháp
cơ học hay hóa học hoặc kết hợp các biện pháp đó để diệt mầm bệnh tồn tại trên
mẫu cấy. Thông thường khó đạt thành công 100% trong kĩ thuật vô trùng (Nguyễn
Bảo Toàn, 2010).
Theo Nguyễn Bảo Toàn (2010) các hóa chất thường dùng để khử trùng bề mặt
tốt là các chất rẻ tiền, không độc với người sử dụng và có hiệu quả cao trong việc
loại bỏ các vi sinh vật trong phạm vi rộng. Một số hóa chất được sử dụng như dung
dịch hypochloride (sodium và calci hypochloride), cồn, các ion kim loại nặng như
mercuric chloride… đôi khi còn sử dụng chất kháng sinh.
Giai đoạn 2
Là giai đoạn gia tăng số lượng cây con bằng cách kích thích các mô phân sinh
như: đỉnh sinh trưởng, chồi chính, chồi bên, mẫu lá… Có hai phương pháp nhân
chồi là tái sinh chồi bất định, nhân chồi và còn tùy thuộc vào số lần cấy truyền, hệ
số nhân giống, môi trường... Theo Nguyễn Xuân Linh (1998), toàn bộ quá trình
số loài, rễ chưa phát triển lông hút, một vấn đề thường gặp của cây con cấy mô
chuyển từ nơi nuôi dưỡng ra môi trường tự nhiên là sự khủng hoảng nước liên quan
đến sự thoát hơi nước quá nhiều ở bề mặt lá hoặc sự hấp thu nước quá yếu của rễ
(Debergh và Zimmerman, 1991). Thuần dưỡng là một kỹ thuật cần thiết nhằm hạn
chế sự chết cây con khi chuyển từ giai đoạn in vitro sang điều kiện ngoài tự nhiên
(Nguyễn Bảo Toàn, 2005).
Theo Nguyễn Bảo Toàn (2005), cây in vitro chưa hoàn thiện về cấu trúc rễ, thân,
lá,... Cây con thường có tỉ lệ chết cao do bề mặt lá chưa hình thành lớp cutin, nhằm
làm giảm sự mất nước và phản chiếu bớt ánh sáng chiếu đến bề mặt lá. Lớp cutin
này trên bề mặt lá của cây cấy mô có dạng hạt và que nhám. Trong khi cây trồng
trong nhà lưới thì lớp này nhẵn (Nguyễn Thị Diệu, 2007). Bên cạnh đó, lá cây cấy
mô thường mỏng, khí khẩu cây ở điều kiện in vitro thường mở và chưa hoàn thiện
chức năng. Đây cũng là lý do làm tăng sự thoát hơi nước qua bề mặt lá.
Cây con được chuyển ra từ phòng cấy mô, sau đó trồng trên giá thể thích hợp,
được giữ ẩm độ cao, tránh cường độ ánh sáng cao. Thời gian tối thiểu cho sự thích
nghi khoảng 2-3 tuần, trong thời gian này cần hạn chế tối đa những yếu tố bất lợi
10
như: mất nước nhanh chóng làm cho cây khô héo, những vi khuẩn và nấm làm cho
cây thối nhũn, cháy lá do nắng (George, 1993). Vì vậy để tăng khả năng sống sót
của cây con ngoài nhà lưới thì cây phải trải qua giai đoạn huấn luyện thích nghi với
sự thay đổi của nhiệt độ, sự mất nước, sâu bệnh và chuyển từ trạng thái dị dưỡng
sang trạng thái tự dưỡng hoàn toàn (Lê Trần Bình và ctv., 1997). Phương pháp được
nhiều tác giả đề nghị là phủ kín bằng plastic trong để giữ ẩm độ cao và đặt cây con
trong điều kiện ánh sáng thấp (Đặng Phương Trâm, 2001).
1.2.4 Kỹ thuật thuần dưỡng
Theo Nguyễn Bảo Toàn (2010), cây con cấy mô cần có thời gian hoàn thiện cấu
trúc và chức năng sinh lý để thích nghi với điều kiện môi trường tự nhiên. Quá trình