TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
TRƯƠNG VĂN GIÀN
KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ
BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI TẠI BỆNH VIỆN THÚ
Y PETCARE, QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ THÚ Y
Cần Thơ 5/2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN THÚ Y
TRƯƠNG VĂN GIÀN
KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ
BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI TẠI BỆNH VIỆN THÚ
Y PETCARE, QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Giáo Viên Hướng Dẫn
Th.S NGUYỄN DƯƠNG BẢO
Th.S HUỲNH THỊ THANH NGỌC
Cần Thơ 05/2009
Xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Dương Bảo, người
Thầy đã tận tâm hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ những kiến thức và lời động
viên tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này.
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Học Cần Thơ, Khoa
Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Bộ môn Thú y cùng toàn thể quý thầy
cô trong Bộ môn Thú y, Bộ môn Chăn nuôi, Trường Đại Học Cần Thơ đã tận
tình chỉ bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong suốt
thời gian trong giảng đường đại học.
Đặc biệt cảm ơn Thạc sĩ Huỳnh Thị Thanh Ngọc, Bác sĩ Thú y Nguyễn
Thị Quỳnh Hoa cùng toàn thể các anh chị tại Bệnh viện Thú y Petcare đã tận
tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập tốt
nghiệp và hoàn thành luận văn.
Và xin cám ơn đến các bạn lớp Thú y K 30 đã giúp đỡ, động viên cùng
tôi vượt qua khó khăn trong suốt thời gian học tập tại giảng đường Trường
Đại Học Cần Thơ.
Ngày 14 tháng 05 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Trương Văn Giàn
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ ............................................................................................ii
MỤC LỤC ............................................................................................... iii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT................................................................vi
DANH SÁCH BẢNG ..............................................................................vii
2.6. MỘT SỐ BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI ................................................... 9
2.6.1. Viêm mủ tử cung (pyometra) .................................................................... 9
2.6.2. Đẻ khó (dystocia).................................................................................... 12
2.6.3. Khối u tuyến vú (Mammary Tumor) ....................................................... 14
2.6.4. Bệnh sốt sữa ........................................................................................... 15
Chương 3: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM .........17
3.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN ............................................... 17
3.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG TIỆN THÍ NGHIỆM ................................... 17
3.2.1. Đối tượng thí nghiệm.............................................................................. 17
3.2.2. Dụng cụ thí nghiệm ................................................................................ 17
3.2.3. Hóa chất và thuốc điều trị ....................................................................... 18
3.3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM..................................... 18
3.3.1. Nội dung đề tài ....................................................................................... 18
3.3.2. Phương pháp khám ................................................................................. 18
3.3.3. Điều trị ................................................................................................... 21
3.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU....................................................................................... 23
Chương 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ................................................24
4.1. XÁC ĐỊNH TỶ LỆ BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI TẠI BỆNH
VIỆN THÚ Y PETCARE.........................................................................24
4.2. XÁC ĐỊNH TỶ LỆ CÁC BỆNH SINH SẢN Ở CHÓ CÁI ....................... 24
4.3. XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN ĐẺ KHÓ VÀ GIẢI PHÁP CAN THIỆP ... 26
4.4. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐẺ KHÓ ..................................................... 27
4.5. KẾT QUẢ CHẨN ĐOÁN PHÂN LOẠI
BỆNH VIÊM MỦ TỬ CUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ ...................... 28
4.6. KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM MỦ TỬ CUNG ................................ 29
iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Các bệnh điều trị bằng thuốc.
Bảng 3.2: Các bệnh điều trị bằng phẫu thuật.
Bảng 4.1: Tỷ lệ bệnh sinh sản ở chó cái đến khám và điều trị tại bệnh viện thú y
Petcare.
Bảng 4.2: Tỷ lệ các bệnh sinh sản ở chó cái.
Bảng 4.3: Tỷ lệ các nguyên nhân gây đẻ khó và phương pháp điều trị.
Bảng 4.4: Tỷ lệ chó khỏi bệnh sau khi điều trị bằng thuốc và phẫu thuật.
Bảng 4.5: Tỷ lệ các dạng viêm mủ tử cung và phương pháp điều trị.
Bảng 4.6: Tỷ lệ chó khỏi bệnh sau khi điều trị bằng thuốc và phẫu thuật.
Bảng 4.7: Phương pháp điều trị và tỷ lệ khỏi bệnh khối u tuyến vú và bệnh sốt sữa.
vii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.2: Ảnh siêu âm tử cung có mủ (F) của chó Corgi 12 tuổi.
Hình 2.4: Ảnh siêu âm của chó Doberman 10 tuổi bị bội triển nội mạc tử cung.
Hình 3.1: Dụng cụ giải phẫu.
Hình 3.2: Máy siêu âm.
viii
TÓM LƯỢC
Bệnh sinh sản xảy ra không chỉ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, thậm chí
nhất là các giống chó quý. Ngoài ra, một số bệnh sinh sản ở chó còn có thể truyền
lây sang người.
Nhằm bảo vệ sức khỏe đàn chó, và cũng góp phần bảo vệ sức khỏe cộng
đồng, được sự đồng ý của Bộ môn Thú Y, Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng
Dụng Trường Đại Học Cần Thơ và Bệnh Viện Thú Y PetCare chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài “Kết Quả Chẩn Đoán Và Điều Trị Một Số Bệnh Sinh Sản Ở
Chó Cái Tại Bệnh Viện Thú Y PetCare, Quận 2, Thành Phố Hồ Chí Minh”.
Mục tiêu đề tài:
Xác định tình hình bệnh sinh sản ở chó cái tại bệnh viện thú y PetCare.
Xác định kết quả phân loại bệnh sinh sản ở chó cái và đề xuất phương pháp điều trị.
Xác định kết quả điều trị các bệnh sinh sản ở chó cái.
1
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1. CẤU TẠO CƠ QUAN SINH DỤC CHÓ CÁI
Cơ quan sinh dục của chó cái gồm có noãn sào, ống dẫn noãn, tử cung, âm
đạo, tiền đình và âm hộ. Ngoài ra, còn có tuyến vú mặc dù là tuyến của da nhưng
cũng được ghép vào cơ quan sinh dục vì nó liên hệ chặt chẽ với cơ quan sinh dục
cái (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007).
Hình 2.1: cấu tạo cơ quan sinh dục chó cái
(Nguồn: http://www.vetmed.wsu.edu/ClientED/anatomy/dog_ug.aspx)
2.1.1. Noãn sào hay buồng trứng (Ovaries)
Buồng trứng của chó cái hình bầu dục, dài và dẹt, dài khoảng 2 cm, gồm một
đôi nằm trong hai túi buồng trứng, ở phía sau thận. Mỗi buồng trứng được dính bởi
dây riêng vào tử cung và dây treo vào cân mạc ngang của bụng, ngay phía trong của
nằm trong xoang chậu). Kích thước của tử cung rất thay đổi, phụ thuộc vào tầm vóc
của thú, số lần mang thai, tình trạng bệnh lý sinh sản, chó cái có mang thai hay
không mang thai (Đỗ Hiếu Liêm, 2006).
Tử cung thông với ống dẫn noãn về phía trước và với âm đạo về phía sau. Tử
cung bao gồm các phần: 2 sừng tử cung, thân tử cung, cổ tử cung.
- Sừng tử cung (Horn): sừng tử cung được treo vào thành bụng bởi dây
chằng rộng tử cung, hai sừng tử cung được nối liền nhau bởi dây chằng liên sừng.
Sừng tử cung của chó cái 12 - 15 cm. Các sừng có đường kính đồng đều và gần
thẳng. Từ thân tử cung chúng rẽ ra thành hình chữ V hướng về mỗi thận.
- Thân tử cung (Body): có hình ống, phía trước thông với đầu sừng tử
cung, phía sau thông với âm đạo qua một eo hẹp gọi là cổ tử cung. Thân tử cung dài
khoảng 2-3 cm.
3
- Cổ tử cung (Cervix): là chỗ co lại ngăn cách cổ tử cung với âm đạo. Có
tính chất cứng rắn hơn các phần khác là do ở trong có các nếp xoắn nhô lên thành
giồng. Cổ tử cung chó rất ngắn, thành cổ tử cung dầy.
Nhiệm vụ cổ tử cung là ngăn cản ngoại vật vào tử cung. Bình thường cổ tử
cung khép chặt, lúc con vật lên giống, cổ tử cung mở ra tạo điều kiện cho tinh trùng
đi vào. Trước khi sinh, cổ tử cung mở ra. Trong thời gian mang thai, các tuyến nhờn
tiết chất nhầy bít cổ tử cung lại để bảo vệ thai (Lăng Ngọc Huỳnh, 2007).
2.1.4. Âm đạo (Vagina)
Âm đạo là phần tiếp nối với tử cung, trước nó là cổ tử cung, sau nó là tiền
đình và âm hộ. Phía trên âm đạo tiếp xúc với trực tràng, phía dưới là bóng đái và
ống thoát tiểu. Ở chó, âm đạo tương đối dài và hẹp ở phần trước (Lăng Ngọc
Huỳnh, 2007).
Âm đạo nằm hoàn toàn trong xoang chậu. Âm đạo đảm nhận các chức năng
như tiếp nhận dương vật của thú đực trong quá trình phối giống và là đường tiếp
kéo dài đến 10 - 12 tháng. Một chu kỳ được chia làm bốn giai đoạn: giai đoạn trước
động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi (Đỗ
Hiếu Liêm, 2006).
Giai đoạn trước động dục: kéo dài từ 6 - 11 ngày, trung bình khoảng 9 ngày.
Nếu quá ngắn (2 - 3 ngày) hay quá dài (hơn 25 ngày) là tình trạng bất thường. Đây
là một phần mở đầu cho một chu kỳ động dục mới của chó cái với lượng estrogen
tăng cao dưới sự kích thích của FSH và một phần hỗ trợ của LH. Kết quả là hàm
lượng estrogen trong máu tăng cao dần và đạt đỉnh vào khoảng 1 - 2 ngày cuối của
giai đoạn trước động dục. Dưới sự ảnh hưởng của estrogen, cơ quan sinh dục có
nhiều biến đổi như vách của ống dẫn trứng phát triển có nhiều nhung mao để chuẩn
bị đón noãn bào, gia tăng mạch máu, tử cung phát triển các nang tuyến và lớp nội
mạc, tăng sinh biểu mô âm đạo. Trong giai đoạn này chó cái có biểu hiện sinh lý
như âm hộ sưng phồng, dịch tiết lẫn máu, pheromone được phân tiết để dẫn dụ chó
đực nhưng không cho chó đực giao phối (Phan Thị Bích, 2004).
Giai đoạn động dục: chó có thời gian động dục là 9 - 18 ngày, trung bình
khoảng 9 ngày. Lượng estrogen bắt đầu giảm dần vào những ngày cuối của giai
đoạn trước động dục, thấp nhất ở giai đoạn 1/3 giai đoạn động dục. Sau 24 - 48 giờ
khi chuyển qua giai đoạn động dục LH đạt đỉnh, sự xuất noãn xảy ra và hình thành
hoàng thể, kết quả gia tăng lượng progesterone. Ở giai đoạn này, những thay đổi
của đường sinh dục chó cái so với giai đoạn trước càng thêm sâu sắc hơn như sự
phân tiết dịch từ nang tuyến của tử cung gia tăng, lớp biểu mô âm đạo tăng sinh để
chuẩn bị đón trứng đã thụ tinh. Thú có những hành vi tính dục như tìm kiếm chó
đực, đứng yên cho chó đực nhảy và chờ phối, âm hộ giảm trương phồng, dịch tiết
trong và keo lại (Phan Thị Bích, 2004).
Giai đoạn sau động dục: kéo dài 70 - 80 ngày, trung bình là 60 ngày. Sau khi
xuất noãn ở giai đoạn động dục, hoàng thể được thành lập. Progesterone huyết
thanh do hoàng thể xuất tiết tăng dần, ngược lại nồng độ estrogen huyết thanh giảm
thấp và sự xuất noãn chấm dứt. Nếu chó cái không có mang thai, hoàng thể thoái
hóa sau 57 ngày và chuẩn bị bước vào giai đoạn nghỉ ngơi. Trong giai đoạn sau
động dục, chó cái từ chối chó đực. Âm hộ teo và không xuất dịch, cổ tử cung thắt
2.3.4. Oestrogen
Oestrogen được hình thành từ noãn bào, là hormone chủ yếu của gia súc cái.
Oestrogen có tác dụng kích thích cơ quan sinh dục cái phát triển làm cho tử cung
tăng sinh, niêm mạc tử cung dày lên hình thành nhiều mạch máu, các tuyến tử cung,
âm đạo phát triển và tăng tiết dịch. Ngoài ra còn kích thích các tế bào tuyến vú, các
ống dẫn sữa phát triển (Trần Tiến Dũng và ctv, 2002).
Cấu tạo là steroid với 18 carbon, gồm có 3 chất chính là: estradiol, estrone và
estriol, được các tế bào hạt tổng hợp, từ tiền chất cholesterol thông qua chất trung
gian androstenedione dưới sự xúc tác của enzyme aromatase. Estradiol là chất có
hoạt tính sinh học cao nhất, có tác động làm thay đổi tổ chức mô bào ở âm đạo và tử
6
cung như là phát triển lớp niêm mạc tử cung và âm đạo, tăng sự tích lũy glycogen,
phát triển các nang tuyến vú, tuyến dịch nhờn, tăng tích lũy mở, nước, protein, tạo
đặc tính sinh dục thứ cấp ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục và hành vi dục tính của
chó cái (Phan Thị Bích, 2004). Estrogen cũng ảnh hưởng sự phân tiết FSH và làm
tử cung cảm ứng đối với tác dụng của progesterone, oxytoxin và relaxin (Trần Thị
Dân, 2001). Đặc biệt ở âm đạo estrogen làm cho biểu mô âm đạo trở nên sừng hóa
xếp tầng, khó bị nhiễm trùng và tổn thương trong lúc giao hợp (Phan Thị Bích,
2004).
2.3.5. Progesterone
Progesterone (Agolutin, Progestin, …) do thể vàng của buồng trứng tiết ra
nhưng khi chưa hình thành thể vàng thì do những tế bào hạt Lutein của noãn bào
sản sinh ra. Progesterone có tác dụng kích thích tăng cường quá trình tăng sinh niêm
mạc tử cung và tăng tiết dịch các tuyến tử cung, làm xuất hiện hàng loạt biến đổi
trong cơ quan sinh dục, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp tử làm tổ và nuôi dưỡng
thai. Mặt khác, progesterone còn có tác dụng ngăn chặn tử cung co bóp, ức chế
noãn bao phát triển, ức chế tuyến yên tiết ra LH. Vì vậy trong thực tế, người ta ứng
dụng progesterone để kích thích tuyến sữa, ức chế động dục và chống hiện tượng
mạc âm đạo, tử cung làm thoái hóa thể vàng và chu kỳ mới lại tiếp tục.
2.5. SỰ SINH ĐẺ
2.5.1. Dấu hiệu chó sắp sanh
Hai hay ba ngày trước ngày dự kiến sanh ta có thể kiểm tra thân nhiệt mỗi
buổi sáng. Khoảng 12 - 18 giờ trước khi sanh thân nhiệt chó mẹ hạ từ nhiệt độ bình
thường (38,50C) xuống còn 37,50C hoặc thấp hơn. Tuy nhiên trong một số trường
hợp thì thân nhiệt chó mẹ vẫn bình thường. Từ 12 - 24 giờ trước khi sanh chó mẹ
trở nên bồn chồn, bứt rứt. Chó mẹ hay cào ổ, có thể bỏ ăn (Trần Đăng Khôi, 2005).
2.5.2. Những giai đoạn của quá trình đẻ
Quá trình đẻ có thể được chia ra làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: thường kéo dài khoảng 6 - 12 giờ. Giai đoạn này có thể kéo dài
đến 36 giờ, đặc biệt ở những thú đẻ lần đầu. Ở giai đoạn này, thân nhiệt thú thường
thấp hơn bình thường, âm đạo và cổ tử cung dãn nở. Thân nhiệt thú giảm do sự
giảm hàm lượng progesterone trong máu. Tử cung co thắt từng cơn nhưng không có
dấu hiệu của sự co thắt thành bụng. Thú trở nên bức rức, khó chịu (Trần Đăng Khôi,
2005).
Giai đoạn 2: thường kéo dài từ 3 - 12 giờ, một số trường hợp có thể kéo dài
đến 24 giờ. Sau khi thân nhiệt thú giảm 24 giờ, thú bắt đầu bước vào giai đoạn 2
của quá trình đẻ. Thân nhiệt của thú trở lại bình thường hoặc đôi khi hơi cao hơn
bình thường. Giai đoạn này, bào thai đã bắt đầu đi vào xoang chậu và xuất hiện
đồng thời cả các cơn co thắt tử cung và các cơn co thắt thành bụng. Trong vòng 4
giờ sau khi các dấu hiệu của giai đoạn 2 xuất hiện, bào thai chó con bọc trong màng
ối sẽ được chó mẹ rặn đưa ra ngoài. Chó mẹ sẽ liếm, chọc thủng màng ối và đưa
chó con ra ngoài. Có ba dấu hiệu để biết chó mẹ đã vào giai đoạn hai của quá trình
đẻ: có sự chảy dịch thai ở âm hộ, thành bụng co thắt, thân nhiệt trở lại bình thường
(Trần Đăng Khôi, 2005).
Giai đoạn 3: đây là giai đoạn tống nhau và sừng tử cung dần thu ngắn lại
(Trần Đăng Khôi, 2005).
8
nhiều, không thèm ăn và ói mửa, thú có thể sốt hoặc không sốt. Khi khám lâm sàng
thì ngoài các triệu chứng trên ta có thể thấy tử cung nở lớn, và có dịch tiết có mủ lẫn
máu từ âm đạo chảy ra (Nguyễn Văn Biện, 2001).
Trường hợp viêm mủ tử cung dạng kín:
Viêm mủ tử cung dạng kín là trường hợp có mủ trong tử cung nhưng mủ
không chảy ra ngoài được do cổ tử cung đóng kín (Phan Thị Kim Chi, 2003).
9
Các triệu chứng bên ngoài có vẻ ít trầm trọng hơn. Tuy nhiên thực tế thì các
trường hợp này khi ta chẩn đoán sẽ thấy chó còn bệnh nặng hơn vì cổ tử cung đóng
không cho phép các dịch bài xuất ra ngoài nên bệnh âm ỉ bên trong, người chủ
không chú ý đến. Ở những trường hợp này chỉ thấy các dấu hiệu như suy nhược, bỏ
ăn, bụng căng, tử cung nở lớn, tiểu nhiều, khát nước, ói mửa, và tiêu chảy. Những
triệu chứng trên có thể diễn biến nhanh làm cho con vật mất nước nghiêm trọng,
sốc, hôn mê và chết (Nguyễn Văn Biện, 2001).
Chẩn đoán
Việc khám bệnh nên bắt đầu bằng cách hỏi bệnh sử, đến khám lâm sàng, rồi
kết hợp với chụp x- quang vùng bụng. Việc chẩn đoán sẽ gặp khó khăn khi không
biết rõ lịch sử bệnh, dịch tiết từ âm đạo không phát hiện, hoặc có sự tiết dịch mà
không thấy hiện tượng nở lớn tử cung. Trong những trường hợp này thì cần thực
hiện những phương pháp khám đặc biệt như siêu âm, nội soi âm đạo, mổ ổ bụng.
Cần chẩn đoán phân biệt với viêm âm đạo và các trường hợp bệnh khác gây ra tiểu
nhiều, khát nước, có dịch tiết từ âm đạo với màu nho chín (Nguyễn Văn Biện,
2001).
Hình ảnh siêu âm tử cung bình thường:
Tử cung bình thường nhỏ, có hồi âm đồng nhất, vách tử cung khó có thể nhìn
thấy. Dựa vào khu vực trung tâm trống hay hồi âm kém mà xác định có dịch chất
hiện diện hay không. Thông thường, khi chó không mang thai thì tử cung có hồi âm
cung mà có cổ tử cung đóng. Nhưng đặc biệt cần thiết cho những trường hợp mà
con vật có đi kèm với một bệnh khác mà phương pháp giải phẫu không cho phép.
Ngoài ra cần phải loại trừ trường hợp chó đang mang thai vì thuốc prostaglandin
F2 sẽ làm con vật bị sẩy thai.
11
PG F2 với liều 0,25 mg/kg thể trọng tiêm dưới da ngày một lần tiêm
trong 5 ngày.
Truyền dịch trong trường hợp con vật bị mất nước hay bị sốc.
Dùng kháng sinh có hoạt phổ rộng trọng 7 - 10 ngày.
Dùng thuốc tăng cường trợ lực, trợ sức, tăng cường sức đề kháng.
Sau khi cho thuốc 2 tuần thì nên kiểm tra lại con vật. Nếu có dịch tiết lẫn
máu và mủ chảy ra từ âm đạo, tăng bạch cầu, sốt, hay tử cung vẫn còn to thì phải trở
lại liệu trình điều trị PG F2 như cũ. Đặc biệt trong trường hợp chứng tích mủ tử
cung với cổ tử cung đóng thì thuốc thường không có hiệu quả.
Thường đối với một con vật bị chứng tích mủ tử cung với các triệu chứng
không trầm trọng lắm mà được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật thì tiên lượng
tốt. Còn đối với phương pháp dùng thuốc mà thấy bước đầu có giảm bệnh trong
trường hợp cổ tử cung mở là tốt, nhưng trong trường hợp không mở cổ tử cung là
xấu (Nguyễn Văn Biện, 2001).
Điều trị bằng phẫu thuật
Cắt bỏ buồng trứng và tử cung là phương pháp trị liệu hiệu quả nhất, trừ
trường hợp muốn tận dụng chó tiếp tục cho đẻ. Tuy nhiên những con có vấn đề về
sức khỏe thì rất nguy hiểm khi thực hiện phương pháp này.
Với những trường hợp nặng thì cần điều trị thật tích cực bằng cách truyền
dịch đường tĩnh mạch và dùng kháng sinh có hoạt phổ rộng. Chờ con vật tạm ổn thì
cắt tử cung, sau đó tiếp tục cho con vật uống thuốc kháng sinh trong 7 - 10 ngày.
Tuy nhiên sự nhiễm trùng huyết xuất phát từ tử cung nhiễm trùng sẽ làm cho
con vật bệnh nặng thêm và bệnh sẽ không trị khỏi nếu không cắt bỏ tử cung đi. Tỉ lệ
thân nhất là khi bắt buộc phải mổ lấy thai ngay. Dịch tiết bình thường của âm đạo
lúc đẻ là màu xanh lá cây xậm, khi có màu hay tính chất gì bất thường thì phải chú
ý ngay. Việc thăm khám một cách vô trùng qua đường âm đạo phải được thực hiện
để đánh giá mức độ của sự dãn nở cổ tử cung, tình trạng của đường thai ra, vị trí,
ngôi của các thai. Có thể dùng phương pháp X - quang hay siêu âm để xác định sự
hiện diện của thai, độ lớn, số lượng, vị trí, và khả năng sống của thai (Nguyễn Văn
Biện, 2001).
Điều trị
Các trường hợp đẻ khó có thể xử lý bằng một vài phương pháp tùy theo thực
tế như sau:
Liệu pháp thúc đẻ
Dùng thuốc oxytoxin khi điều kiện của thai và thú mẹ được ổn định. Đặc biệt
khi xác định được là không có sự tắc nghẽn nào của đường sinh sản, thai không quá
lớn và ngôi thai bình thường thì dùng oxytoxin tiêm bắp thịt (3 - 20 đơn vị), thuốc
oxytoxin dùng không quá ba lần, mỗi lần cách nhau 30 phút. Có thể dùng thêm calci
gluconate 10% (3 - 5 ml), tiêm mạch thật chậm, chỉ tiêm một lần) nhằm thúc đẩy sự
co thắt tử cung (Nguyễn Văn Biện, 2001).
Trong phương pháp này ta dùng thuốc để kích thích tử cung co thắt trong
trường hợp tử cung co thắt kém và thúc đẩy sự hiện diện của thai kế tiếp tại khu vực
xương chậu. Nó cũng thúc đẩy sự tống nhau thai cũng như các dịch hậu sản trong
13
quá trình đẻ. Liệu pháp này tuyệt đối không được sử dụng trong trường hợp đường
sinh dục bị tắc nghẽn và được sử dụng sau khi khám âm đạo (Trần Đăng Khôi,
2005).
Những can thiệp cần thiết
Một số can thiệp khác có thể làm như sửa chữa khi có một vị trí, một ngôi
thai bất thường, hoặc dùng kẹp gấp thai chết ra nhưng phải rất cẩn thận hoặc lấy ra
từng bộ phận của thai. Có thể dùng tay nhưng phải nhẹ nhàng với dầu bôi trơn để