1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, với mục tiêu cơ bản đưa nước ta trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa, Đảng và Nhà nước đã rất chú
trọng vào công tác giáo dục. Giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ có vai
trò quyết định. Phát triển giáo dục là một trong những động lực quan trọng
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Một trong những nguồn tài lực quan trọng cho giáo dục là nguồn
NSNN, trong đó hơn 80% là các khoản chi thường xuyên. Để đảm bảo các
khoản chi thường xuyên dành cho giáo dục được chi đúng, chi đủ, chi hợp lý
để từ đó nâng cao chất lượng giáo dục thì quản lý chi thường xuyên NSNN
cho giáo dục của tỉnh thời gian qua được đặt lên hàng đầu. Tuy nhiên, do khả
năng hạn hẹp của NSNN cũng như các phương thức quản lý dần bộc lộ các
bất cập đã làm giảm đáng kể hiệu quả chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp
giáo dục. Do đó, việc quản lý chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục; đặc biệt là
cơ chế kiểm soát, cấp phát, thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN
cho sự nghiệp giáo dục phải được tăng cường và hoàn thiện hơn nữa cho phù
hợp với tình hình mới.
Nhận thức được tầm quan trọng của kiểm soát chi NSNN cho giáo dục, tôi
đã lựa chọn đề tài: “Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự
nghiệp giáo dục qua KBNN Ba Đình”, để nghiên cứu và làm luận văn Thạc sĩ Tài
chính - Ngân hàng.
2. Tổng quan nghiên cứu
Đây là một đề tài mang tính thực tiễn cao, phù hợp với yêu cầu của công
cuộc cải cách hành chính và định hướng phát triển ngành Kho bạc. Đã có một
số công trình khoa học nghiên cứu về đề tài trên trong hệ thống KBNN. Như
2
- Đánh giá thực trạng kiểm soát chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp
giáo dục THCS qua KBNN Ba Đình giai đoạn 2012 - 2016 với những thành
tựu đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế cần khắc phục để nâng cao hơn
nữa hiệu quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN cho hoạt động này.
- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên
NSNN cho giáo dục THCS qua KBNN Ba Đình.
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn
về chi thường xuyên và kiểm soát chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp
giáo dục qua KBNN.
- Phạm vi nghiên cứu:
+Về nội dung: Nghiên cứu kiểm soát chi thường xuyên NSNN cho giáo
dục Trung học cơ sở.
+ Về không gian: Nghiên cứu kiểm soát chi thường xuyên NSNN cho
sự nghiệp giáo dục qua KBNN Ba Đình và cũng chỉ giới hạn ở bậc: Trung học
cơ sở (THCS)
+ Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng kiểm soát chi
thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS qua KBNN Ba Đình trong khoảng
thời gian từ năm 2012 đến năm 2016.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn lấy phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng, đồng thời sử dụng các phương pháp
như: phân tích, so sánh, đối chiếu, thống kê, bảng biểu,… để giải quyết tốt
những vấn đề đặt ra trong đề tài.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
luận văn gồm 3 chương:
4
được kiểm soát, điều khiển) và các tác động có mục đích, có tổ chức (kiểm
soát được, điều khiển được).
Có thể hiểu giáo dục theo nhiều khía cạnh, trên nhiều phương diện
nhưng phải hiểu rằng, giáo dục không phải là sự áp đặt các khuôn mẫu,
càng không phải là sự ngăn chặn các nhu cầu hay cái khả năng tự phát mà
giáo dục chính là quá trình bồi dưỡng, nâng đỡ sự trưởng thành về nhận
thức của con người, tạo ra những con người có đầy đủ kiến thức, năng lực
hành vi, có khả năng sáng tạo, nhằm định hướng cho con người đi theo con
đường chính nghĩa.
6
1.1.1.2. Giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục Việt Nam
Theo Luật giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14/06/2005 và Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục số 44/2009/QH12 ngày
25/11/2009, hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam bao gồm bốn cấp. Thời
gian đào tạo và sự liên thông giữa bốn cấp học này được thể hiện chi tiết
trong sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục phổ thông (GDPT) là một cấp học trong hệ thống giáo dục
quốc dân của Việt Nam, được cấu thành bởi ba bậc học: tiểu học, trung học cơ
sở và trung học phổ thông. GDPT có vai trò cực kỳ quan trọng, là nền tảng
của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc gia. GDPT giúp học sinh phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển
năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách.
7
1.1.2. Vai trò của sự nghiệp giáo dục đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
tế. Chính vì vậy một sự nghiệp giáo dục phát triển toàn diện sẽ góp phần tạo ra
một đội ngũ lao động có đủ phẩm chất, trình độ, kỹ năng, có năng lực để tiếp
thu những khoa học công nghệ của nền sản xuất hiện đại phục vụ cho phát triển
kinh tế.
*) Giáo dục góp phần ổn định chính trị, tác động đến cấu trúc xã hội:
Sự phát triển xã hội cũng được thể hiện ở sự ổn định của hệ thống chính
trị của mỗi quốc gia. Giáo dục góp phần đắc lực và làm ổn định hệ thống chính
trị thông qua việc thực hiện chức năng tuyên truyền; làm cho những đường lối,
chính sách, chiến lược, hệ thống luật pháp của nhà nước, … đến được với mọi
tầng lớp của nhân dân; làm thay đổi ý thức, hình thành niềm tin lý tưởng, …
Đó là điều kiện cơ bản để tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn đảm bảo cho sự
thành công của sự nghiệp cách mạng của giai cấp.
Trong các xã hội có giai cấp, giáo dục sẽ trực tiếp tác động đến cấu trúc
xã hội, tác động đến việc hình thành các tầng lớp, các nhóm xã hội. Bởi vì
giáo dục ở đây chính là quyền lợi của tầng lớp thống trị, và trong xã hội này
thường tồn tại hệ thống hai nhà trường. Ví dụ, trong xã hội có giai cấp đầu
tiên, xã hội chiếm hữu nô lệ, giáo dục nhằm mục đích đào tạo cho con em
tầng lớp chủ nô trở thành những quan chức, chủ nô nên trường học là dành
cho con em tầng lớp chủ nô, con em của nô lệ thì không được đến trường, chỉ
có thể được bố mẹ chúng dạy ở nhà.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, giáo dục luôn có những tác động đến
chính trị - xã hội theo chiều hướng tích cực. Giáo dục có thể nâng cao đến
trình độ văn hóa, vị trí xã hội giữa các thành viên, giúp cho các thành viên
trong xã hội thay đổi nghề nghiệp, tạo ra thế hệ trẻ những người trung thành
với chế độ, có ý thức giác ngộ chính trị cao, có năng lực bảo vệ chế độ chính
9
trị - xã hội. Giúp cho các thành viên trong xã hội nắm vững được các chính
sách, đường lối của đảng và nhà nước; giúp cho công dân nắm vững, ý thức
cấp. Đặc biệt ở nước ta trong giai đoạn hiện nay thì công tác giáo dục tư tưởng
càng trở nên quan trọng.
Như vậy ta có thể khẳng định rằng giáo dục có vai trò rất quan trọng.
Nó là nền tảng, là động lực đối với sự phát triển kinh tế xã hội là yếu tố cơ
bản để đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục đối với phát triển
kinh tế của đất nước, Đảng và nhà nước ta đã rất chú trọng đến sự phát triển
của giáo dục và đã có những biện pháp quan tâm nhiều hơn đến sự phát triển
giáo dục, đặc biệt là vấn đề tài chính. Số chi thường xuyên NSNN cho giáo dục
ngày càng tăng cao trong những năm gần đây. Sự đầu tư thích đáng của NSNN
cho sự nghiệp giáo dục trong tương lai ngày càng tăng lên nhưng nếu không có
chính sách đầu tư và quản lý đúng đắn sẽ dẫn đến đầu tư không đúng trọng
điểm, thất thoát NSNN. Vì vậy, vấn đề quản lý và kiểm soát chi thường xuyên
NSNN cho lĩnh vực giáo dục đang là vấn đề quan trọng được Đảng và Nhà
nước, các cấp các ngành đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục
1.2.1. Khái niệm, nội dung chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho
sự nghiệp giáo dục
1.2.1.1. Khái niệm chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự
nghiệp giáo dục
Các đơn vị sự nghiệp giáo dục muốn tồn tại và hoạt động thì phải chi trả
cho các phí tổn phát sinh. Tùy theo tính chất có thể chia các loại chi phí thành
hai nhóm: Nhóm các chi phí phát sinh liên tục, đều đặn, có sự ổn định tương
đối, ví dụ như: chi trả lương cho giáo viên, chi điện, nước, dọn dẹp vệ sinh,
v.v…; Nhóm các chi phí phát sinh không đều đặn, ví dụ như: chi trả xây trường
11
lớp, nâng cấp trang thiết bị, v.v… Trong quản lý NSNN, người ta sử dụng thuật
ngữ “chi thường xuyên” để chỉ các khoản chi phát sinh đều đặn và ổn định.
nhân cho sự nghiệp giáo dục được phản ánh theo các mục từ 6000 đến 6400, bổ
sung thêm các tiểu mục 6405, 6406 thuộc tiểu nhóm 0129: Chi thanh toán cá nhân.
+ Các khoản chi về nghiệp vụ chuyên môn:
Được tính vào chi nghiệp vụ chuyên môn của các đơn vị bao gồm nhiều
nội dung chi khác nhau. Song ta cũng có thể nhóm các nội dung chi của nhóm
mục này theo hai tiêu chí gắn liền với mục đích của các khoản chi: Chi nhằm
để đảm bảo cho hoạt động chung của mỗi đơn vị và các khoản chi nghiệp vụ
chuyên môn đặc thù.
Được tính vào chi nhằm đảm bảo cho hoạt động chung của mỗi đơn vị
bao gồm các khoản chi, như: chi tiền điện, tiền nước sạch, tiền vệ sinh phát
sinh tại đơn vị; các khoản chi mà đơn vị phải thanh toán cho bưu chính, viễn
thông; chi lễ tân, khánh tiết; chi tiền chè, nước, văn phòng phẩm dùng chung
cho toàn đơn vị; và các khoản chi thanh toán dịch vụ công cộng khác. Những
nội dung chi này đều có phát sinh ở tất cả các đơn vị. Các đơn vị khác nhau
thì có sự khác nhau về quy mô và tần suất xuất hiện các khoản chi trên trong
cùng một thời gian.
Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn đặc thù của các đơn vị sự
nghiệp Giáo dục - Đào tạo là hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu
khoa học, v.v… Được tính vào chi nghiệp vụ chuyên môn đặc thù phải là
những khoản chi mà xét về nội dung kinh tế của nó phải thực sự phục vụ cho
hoạt động này.
Theo phân loại của Mục lục NSNN hiện hành thì nội dung chi nghiệp vụ
chuyên môn của các đơn vị hành chính - sự nghiệp được phản ánh theo các mục
13
từ 6500 đến 6850, và mục 6900, 7000 thuộc tiểu nhóm 0130- Chi về hàng hóa,
dịch vụ; mục 7850 và 7900 thuộc tiểu nhóm 0132- Các khoản chi khác.
+ Các khoản chi mua sắm, sửa chữa:
Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính – sự nghiệp còn phát
kinh tế tập thể và dân cư; chi cho người có công với cách mạng và xã hội; chi trợ
giá theo chính sách của nhà nước; chi lương hưu và trợ cấp Bảo hiểm xã hội; chi
bổ sung cho ngân sách cấp dưới; chi xúc tiến thương mại và các khoản phụ thu;
chi viện trợ; chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính; chi hoàn thuế giá trị gia tăng; chi
xử lý tài sản được xác lập sở hữu nhà nước; chi trả các khoản thu năm trước và
chi trả lãi do trả chậm; chi nộp ngân sách cấp trên; và chi khác (mục 7750).v.v..
Việc phân loại theo nội dung kinh tế là tiêu thức được dùng phổ biến nhất
trong mỗi khâu của chu trình NSNN. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay đòi hỏi
việc quản lý và điều hành NSNN phải theo Luật NSNN hiện hành thì vấn đề cụ
thể hoá từng nội dung chi phải được thể hiện ngay trong dự toán. Mặt khác,
thông qua việc phân loại chi thường xuyên theo nội dung kinh tế các nhà quản lý
có thể thu thập được các thông tin một cách chính xác về tình hình quản lý biên
chế và quĩ lương; tình hình quản lý và sử dụng kinh phí đã hướng vào việc nâng
cao hiệu quả chi thường xuyên đạt ở mức độ nào? Và tình hình tuân thủ các
chính sách chế độ chi NSNN tại mỗi đơn vị thụ hưởng; những bất cập có thể nảy
sinh trong quá trình chấp hành dự toán trong đó có nguyên nhân từ các chính
sách chế độ chi thường xuyên, hay do cơ chế quản lý đối với khoản chi này.
v.v… để kịp thời có được các biện pháp nhằm hạn chế những sai lệch do bất cập
đó có thể gây ra.
1.2.2. Vai trò của chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước đối với sự
phát triển của sự nghiệp giáo dục
1.2.2.1. Vai trò của chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho giáo dục
15
Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương xã hội hóa
giáo dục đồng thời gắn với chủ trương đó Nhà nước thực hiện mở rộng đa
dạng hóa các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục kể cả trong nước và nước ngoài.
Trong điều kiện có nhiều nguồn vốn đầu tư cho giáo dục nhưng nguồn vốn từ
NSNN vẫn giữ vai trò vô cùng quan trọng. Vai trò của chi NSNN đặc biệt là
của từng lớp và từng cấp học.
Thứ năm: Sự đầu tư của NSNN tạo điều kiện ban đầu, tạo tiền đề nâng
cao sự hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về vai trò và tác dụng to lớn của giáo
dục đối với con em họ từ đó thu hút sự đóng góp của nhân dân cho giáo dục.
Mặc dù hiện nay NSNN còn hạn hẹp lại được sử dụng chi cho nhiều
lĩnh vực khác nhau, nhu cầu chi tăng không ngừng đòi hỏi vấn đề đầu tư như
thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Vì vậy, cần phải cải tiến phương thức quản
lý sử dụng vốn để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Từ đó có thể thấy tăng
cường quản lý và kiểm soát chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục
là rất cần thiết.
1.3. Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp
giáo dục qua Kho bạc Nhà nước
1.3.1. Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc
Nhà nước là yêu cầu cần thiết khách quan
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN là quá trình những cơ quan có thẩm
quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN để đảm bảo
các khoản chi đó tuân thủ đúng các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do Nhà
nước quy định.
Các cơ quan có thẩm quyền kiểm soát chi thường xuyên bao gồm: Cơ
quan Tài chính, Cơ quan chủ quản, Thủ trưởng đơn vị, KBNN.
Kiểm soát chi thường xuyên NSNN được đặt ra đối với mỗi quốc gia, dù
đó là quốc gia phát triển hay đang phát triển. Đối với nước ta hiện nay, kiểm
17
soát chi thường xuyên NSNN lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi xuất
phát từ những lý do sau đây:
Thứ nhất, do yêu cầu của công cuộc đổi mới, trong quá trình đổi mới
cơ chế quản lý tài chính nói chung và cơ chế quản lý NSNN nói riêng đòi hỏi
mọi khoản chi thường xuyên của NSNN phải bảo đảm tiết kiệm và có hiệu
hiện tượng tiêu cực của những đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp; đồng thời
phát hiện những kẽ hở trong cơ chế quản lý để từ đó có những giải pháp và kiến
nghị nhằm sửa đổi, bổ sung kịp thời những cơ chế, chính sách hiện hành, tạo nên
một cơ chế quản lý và kiểm soát chi NSNN ngày càng chặt chẽ và hoàn thiện.
Thứ tư, do ý thức của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN cấp. Một thực
tế khá phổ biến là các đơn vị thụ hưởng kinh phí được NSNN cấp thường có
chung một tư tưởng là tìm mọi cách sử dụng hết số kinh phí được cấp, không
quan tâm đến việc chấp hành đúng mục đích, đối tượng và dự toán đã được
duyệt. Các đơn vị này thường lập hồ sơ, chứng từ thanh toán sai chế độ quy định
như không có trong dự toán chi NSNN đã được phê duyệt, không đúng chế độ,
tiêu chuẩn, định mức chi tiêu; thiếu các hồ sơ, chứng từ pháp lý có liên quan, …
Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải có một bên thứ ba - cơ quan chức năng có
thẩm quyền, độc lập và khách quan, có kỹ năng nghề nghiệp, có vị trí pháp lý và
uy tín cao - để thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát và đưa ra ý kiến nhận xét, kết
luận chính xác đối với khoản chi của đơn vị có nằm trong dự toán được duyệt
hay không; việc sử dụng các khoản chi này có đúng chế độ, định mức, tiêu
chuẩn được duyệt hay không; có đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán theo đúng quy
định hay chưa, … qua đó có giải pháp chấn chỉnh và xử lý kịp thời các gian lận,
sai sót, ngăn chặn các sai phạm và lãng phí có thể xảy ra trong việc sử dụng kinh
phí NSNN của các cơ quan, đơn vị, bảo đảm mọi khoản chi của NSNN được tiết
kiệm và có hiệu quả.
19
Thứ năm, do tính đặc thù của các khoản chi thường xuyên NSNN đều
mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. Tính chất cấp phát trực tiếp không hoàn
lại của các khoản chi thường xuyên NSNN là một ưu thế cực kỳ to lớn đối với
các đơn vị thụ hưởng NSNN. Trách nhiệm của họ là phải chứng minh được việc
sử dụng các khoản kinh phí bằng các kết quả công việc cụ thể đã được Nhà nước
giao. Tuy nhiên, việc dùng những chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá và
1
Đơn vị sự
nghiệp giáo dục
Cán bộ kiểm
soát chi
2
KTT
6
5
3
Giám đốc
7
5
Thủ quỹ
4
Thanh toán viên
TT thanh toán
Sơ đồ 1.2 : Quy trình giao dịch một cửa
Chú thích:
: Hướng đi của hồ sơ kiểm soát chi.
- Đối với lệnh chi tiền: Cán bộ kiểm soát chi kiểm tra tính hợp lệ, hợp
pháp lệnh chi tiền của cơ quan Tài chính, KBNN thực hiện xuất quỹ NSNN
và thanh toán cho đơn vị sự nghiệp giáo dục theo nội dung ghi trong lệnh chi
tiền của cơ quan Tài chính.
- Đối với trường hợp rút dự toán: Kiểm tra số dư tài khoản dự toán của
đơn vị, kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ, chứng từ; kiểm soát
nội dung chi phù hợp với tiêu chuẩn, định mức chế độ của cấp có thẩm quyền
quy định; kiểm soát mẫu dấu, chữ ký của giấy rút dự toán; kiểm soát đối tượng
và nội dung chi bằng lệnh chi tiền mặt (đối với đề nghị chi bằng tiền mặt).
22
- Đối với tài khoản tiền gửi của đơn vị dự toán:
+ Tiền lệ phí, phí được để lại cho đơn vị sử dụng: KBNN kiểm soát chi
theo quy định tại Thông tư số 45/2006/TT-BTC ngày 25/5/2006 sửa đổi, bổ
sung Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính và các
văn bản sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản trên (nếu có).
+ Tài khoản tiền gửi dự toán khác: KBNN kiểm soát ủy nhiệm chi
chuyển tiền phù hợp với hợp đồng kinh tế về tên đơn vị thụ hưởng, ngân hàng
nơi đơn vị thụ hưởng mở tài khoản, số tiền thanh toán, chủ tài khoản, kiểm
soát mẫu dấu, chữ ký.
- Đối với các khoản tiền gửi khác: KBNN chỉ kiểm tra tính hợp lệ, hợp
pháp của chứng từ đề nghị thanh toán, không kiểm soát chi trong trường hợp
thanh toán từ tài khoản này.
Bước 3: Kế toán trưởng hoặc người được ủy quyền ký chứng từ nếu đủ
điều kiện tạm ứng, thanh toán và chuyển hồ sơ, chứng từ cho cán bộ kiểm
soát chi để trình Giám đốc hoặc người được ủy quyền.
Bước 4: Giám đốc hoặc người được ủy quyền ký nếu có đủ điều kiện.
Bước 5: Thực hiện thanh toán.
- Trường hợp thanh toán bằng chuyển khoản: cán bộ kiểm soát chi
hàng hoá, dịch vụ
Sơ đồ 1.3 : Quy trình chi trả, thanh toán theo dự toán từ KBNN
1 - Đơn vị sự nghiệp giáo dục lập giấy rút dự toán NSNN kèm theo các
hồ sơ thanh toán gửi KBNN nơi giao dịch để làm căn cứ kiểm soát, thanh toán.
2 - KBNN kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ, chứng từ thanh toán của đơn
vị. Nếu đáp ứng đủ 4 điều kiện nêu trên thì thực hiện thanh toán cho đơn vị.
2a - KBNN thanh toán bằng tiền mặt cho đơn vị sự nghiệp giáo dục.
2b - KBNN thanh toán bằng chuyển khoản trực tiếp cho người hưởng
lương, người cung cấp hàng hoá, dịch vụ.
Việc thanh toán các khoản chi NSNN bằng tiền mặt thực hiện theo quy
định tại Thông tư số 164/2011/TT-BTC ngày 17/11/2011 của Bộ Tài chính
hướng dẫn quản lý thu, chi tiền mặt qua hệ thống KBNN.
*) Quy trình kiểm soát các khoản chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo
dục theo lệnh chi tiền:
Hiện nay, có ba hình thức thanh toán theo Lệnh chi tiền của cơ quan Tài
chính đó là: Hình thức cơ quan Tài chính thực hiện kiểm soát chi sau đó lập
Lệnh chi tiền đề nghị KBNN xuất quỹ ngân sách thanh toán cho đơn vị thụ
24
hưởng; chi chuyển vốn (cơ quan Tài chính chuyển vốn sang KBNN để KBNN
kiểm soát, thanh toán cho đơn vị sự nghiệp giáo dục) và hình thức cấp kinh
phí uỷ quyền (cơ quan Tài chính uỷ quyền chuyển nguồn cho cơ quan Tài
chính được uỷ quyền để thanh toán cho các nhiệm vụ chi được uỷ quyền).
- Hình thức thứ nhất: Chi trả, thanh toán theo Lệnh chi tiền do cơ quan
Tài chính thực hiện kiểm soát chi:
Quy trình chi trả, thanh toán như sau (Sơ đồ 1.4):
Đơn vị sự nghiệp
giáo dục
thực hiện chuyển nguồn về các đơn vị KBNN trực thuộc. Khi đó, quy trình
kiểm soát, thanh toán cho các đơn vị sự nghiệp giáo dục được thực hiện tương
tự như trường hợp thanh toán theo dự toán từ KBNN nêu trên.
- Hình thức thứ ba: Cấp kinh phí uỷ quyền:
Áp dụng khi cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan
quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình. Khi đó, cơ quan
Tài chính uỷ quyền phải chuyển kinh phí cho cơ quan Tài chính được uỷ
quyền để thực hiện nhiệm vụ được uỷ quyền. Ủy ban nhân dân cấp dưới phân
bổ và giao dự toán kinh phí uỷ quyền cho từng đơn vị theo đúng mục tiêu chi
uỷ quyền, đúng chính sách, chế độ và định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách.
Quy trình chuyển vốn, thanh toán thực hiện như sơ đồ 1.5:
Cơ quan Tài chính
uỷ quyền
(1)
KBNN
(2)
Cơ quan Tài chính
được uỷ quyền
(3a)
(3b)
KBNN
(4)