TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
------------------------------
ĐINH THỊ HOA
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THỰC VẬT THEO
THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ HƢƠNG
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Em chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô giáo trong ngành Giáo dục Mầm non khoa
Giáo dục Tiểu học, đã hết lòng tận tình giảng dạy cho em trong suốt quá trình
học tập tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ThS. Nguyễn Thị Hương, là người đã
nhiệt tình hướng dẫn em trong suốt quá trình hoàn thành đề tài khóa luận tốt
nghiệp của mình.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình và bạn
bè, những người luôn khuyến khích và là nguồn động viên rất lớn đối với em
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù có nhiều cố gắng, song kiến thức của em còn nhiều hạn chế,
không tránh được nhiều thiếu sót. Vì vậy, em rất mong được các thầy, cô
giáo, cùng toàn thể các bạn chỉ bảo, đóng góp ý kiến để khóa luận của em
được hoàn thiện hơn.
TUỔI ................................................................................................................. 4
1.1. Cơ sở lí luận của việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí
tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi..................................................................................... 4
1.1.1. Một số vấn đề về Thuyết đa trí tuệ .................................................. 4
1.1.2. Đặc điểm của trẻ 5 - 6 tuổi ........................................................... 13
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí
tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi................................................................................... 18
1.2.1. Đặc điểm của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương
trình Giáo dục Mầm non hiện hành ........................................................ 18
1.2.2. Mục tiêu của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình
Giáo dục Mầm non hiện hành ................................................................. 19
1.2.3. Nội dung chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi theo quan điểm của Lê
Thu Hương .............................................................................................. 21
1.2.4. Đặc trưng về phương pháp của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi
trong chương trình Giáo dục Mầm non hiện hành ................................. 23
1.2.5. Những định hướng xây dựng nội dung chủ đề Thực vật cho trẻ 5 6 tuổi theo thuyết đa trí tuệ ..................................................................... 24
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ..... ........................................................................ 29
CHƢƠNG 2. ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THỰC VẬT
THEO THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI ............................ 30
2.1. Nguyên tắc xây dựng nội dung chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi
theo thuyết đa trí tuệ ................................................................................. 30
2.1.1. Đảm bảo tính mục đích ................................................................. 30
2.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn.................................................................. 32
2.1.3. Phù hợp với đặc điểm của trẻ 5 - 6 tuổi........................................ 33
2.2. Đề xuất biện pháp dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ
cho trẻ 5 - 6 tuổi ......................................................................................... 34
2.2.1. Đánh giá các loại hình trí thông minh .......................................... 34
2.2.2. Thiết kế mục tiêu giáo dục theo các loại hình trí thông minh ...... 34
về chủ đề Thực vật rất lớn. Cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh ở
trường mầm non thông qua chủ đề Thực vật vừa là điều kiện, phương tiện,
vừa là mục tiêu nhưng đồng thời cũng là đối tượng để trẻ nghiên cứu. Trẻ
luôn muốn biết mọi thứ và thường đặt ra những câu hỏi để tìm hiểu về chủ đề
thế giới Thực vật.
Tổ chức hoạt động dạy chủ đề Thực vật trong trường mầm non cho trẻ
5 - 6 tuổi theo thuyết đa trí tuệ, đã trở thành một nội dung quan trọng trong
1
chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới. Thông qua thuyết đa trí
tuệ, trẻ có khả năng nhận biết những kiến thức về thế giới thực vật bằng nhiều
kênh khác nhau tùy thuộc vào khả năng trí tuệ của mình. Do vậy, việc tổ chức
dạy chủ đề Thực vật cho trẻ thông qua nhiều con đường và hình thức khác
nhau, sẽ giúp cho trẻ thuận lợi hơn trong quá trình học tập, tạo cơ hội cho trẻ
tiếp cận và lĩnh hội tri thức theo cách riêng của mình làm phong phú và sinh
động giờ học. Cách vận dụng thuyết đa trí tuệ trong thiết kế nội dung dạy học
chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi, là một cách tiếp cận mới và phù hợp với xu
hướng đổi mới dạy học thông qua thuyết đa trí tuệ. Nếu dạy học mỗi chủ đề
theo các loại hình trí thông minh, thì đầu ra sẽ tạo nên một đứa trẻ được phát
triển một cách toàn diện trên các mặt năng lực trí tuệ. Nhưng thực chất, việc
vận dụng thuyết đa trí tuệ trong tổ chức các hoạt động dạy học cho trẻ chưa
được thực hiện một cách sâu sắc, chưa khảo sát, chưa đánh giá được đầu vào,
điểm xuất phát của các loại hình trí thông minh ở mỗi đứa trẻ. Việc giáo dục
thì đánh đồng mới chỉ dựa trên những cảm tính, cảm nhận riêng của giáo viên,
mà chưa đi vào tìm hiểu sâu nhu cầu đặc điểm của trẻ. Trong quá trình giảng
dạy giáo viên chưa thực sự hiểu và quan tâm tới trẻ, đồng thời việc áp dụng
linh hoạt các phương pháp dạy học, thiết bị còn hạn chế.
Chính những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu của mình
- Phương pháp phỏng vấn
3
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THỰC VẬT THEO THUYẾT ĐA TRÍ
TUỆ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
1.1. Cơ sở lí luận của việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí tuệ
cho trẻ 5 - 6 tuổi
1.1.1. Một số vấn đề về Thuyết đa trí tuệ
1.1.1.1. Khái niệm
Thuyết đa trí tuệ (Multiple Intelli - gences theory) với tính nhân văn thể
hiện ở quan điểm “Tất cả mọi học sinh đều thông minh, mỗi cá nhân các em
đều có một kiểu thông minh khác nhau”. [11]
Khi bàn về Thuyết đa trí tuệ, năm 1983 tiến sĩ Howard Gardner - một
nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học Harvard đã xuất bản một cuốn sách có
nhan đề “Frames of Mind”, trong đó ông đã công bố các nghiên cứu và lí
thuyết của mình về sự đa dạng của trí thông minh, ông đưa ra bảy loại hình trí
thông minh bao gồm: thông minh lôgic - toán, thông minh về ngôn ngữ - lời
nói, thông minh không gian, thông minh thể chất, thông minh âm nhạc - giai
điệu, thông minh giao tiếp, thông minh đạo đức.
Sau này, các tái bản của “Frames of Mind” bổ sung thêm định nghĩa về
thông minh thứ tám: thông minh thiên nhiên.Và hiện tại đang xem xét kết nạp
thêm dạng thông minh thứ chín đó là thông minh sinh tồn. Ông cũng đã từng
cân nhắc tới phạm trù thông minh tinh thần, nhưng về sau ông đã quyết định
không đưa vào.
4
được ông quan niệm: “Là khả năng giải quyết các vấn đề hoặc tạo ra những
sản phẩm mới có giái trị trong một hay nhiều nền văn hóa khác nhau”. [18]
1.1.1.2. Bản chất của thuyết đa trí tuệ
Thuyết đa trí tuệ ra đời từ sự tổng kết, đánh giá từ nhiều nguồn tư liệu
khác nhau, là kết quả của những khảo sát thực nghiệm của Howard Gardner
trên rất nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian tương đối dài. Theo tác
giả những năng lực trí tuệ này không nhất thiết bộc lộ hết ở một con người,
mỗi con người có khả năng biểu đạt tri thức của mình theo tám cách khác
nhau và học theo cách như thế nào là tốt nhất, và đem lại hiệu quả cao nhất?
Trong trường mầm non cũng thế, mỗi đứa trẻ sẽ có những năng lực trí tuệ
khác nhau không đứa trẻ nào giống đứa trẻ nào cả. Đối với bản thân một đứa
trẻ thì nó sẽ không nhất thiết bộc lộ hết các loại trí thông minh của mình ra,
mà nó sẽ có những khả năng biểu đạt theo các cách khác nhau thông qua hoạt
động học tâp vui chơi một cách tích cực. Trong trường mầm non, khi học âm
nhạc một đứa trẻ hát không hay không có nghĩa là đứa trẻ đó không có trí
thông minh âm nhạc, có thể không hát hay nhưng trẻ lại có khả năng cảm
nhận và hưng phấn với âm nhạc rất tốt.
Ngoài ra, thuyết đa trí tuệ còn cho rằng mỗi cá nhân hầu như đều đạt
đến một mức độ nào đó ở từng “phạm trù thông minh” khác nhau. Đặc biệt
mức độ này không phải là “hằng số” trong suốt cuộc đời của mỗi người, mà
có thể thay đổi (tăng hay giảm) tùy vào sự trau dồi của mỗi cá nhân. Khi vận
dụng thuyết đa trí tuệ vào trường mầm non, giáo viên không nên đòi hỏi, đưa
ra những điều kiện nhằm thúc đẩy đứa trẻ phát triển theo khuôn mẫu có đầy
đủ tám loại trí thông minh. Vì mỗi đứa trẻ trong lớp học sẽ có những mức độ
khác nhau và nếu như trong quá trình học tập giáo viên không cho trẻ trau
dồi, thực hành thường xuyên thì trí thông minh đó của trẻ có thể giảm đi.
6
Thứ nhất là thông minh ngôn ngữ
Là khả năng suy nghĩ bằng từ ngữ và sử dụng ngôn ngữ để diễn tả
những khái niệm phức tạp. Sự thông minh này cho phép trẻ hiểu được trật tự,
ý nghĩa của từ, học ngữ pháp rất nhanh và áp dụng các kỹ năng ngôn ngữ
thành thạo. Trẻ em có trí thông minh kiểu này thường có sự tinh nhạy về khả
năng đọc hiểu ngôn ngữ, hiểu từ và dùng từ biểu thị câu, viết văn, làm thơ,
các em thường say mê viết thơ, viết văn, đọc sách, kể chuyện. Đây cũng là
kiểu thông minh có ở nhiều người nhất, và thể hiện rõ ràng ở các nhà văn, nhà
thơ, phóng viên, biên tập viên hay các diễn giả.
Ví dụ:
+ Trẻ thích các trò chơi về từ ngữ, tạo từ láy, làm thơ lục bát.
+ Trẻ là người giỏi kể chuyện hoặc viết văn giỏi.
+ Trẻ thích chơi ô chữ, đoán chữ, cũng như những câu đố về chữ.
+ Trẻ 3 - 4 tuổi có thể hiểu, trả lời câu hỏi của cô giáo, bạn bè, biết đặt
câu hỏi về sự vật, hiện tượng mà trẻ quan tâm.
+ Trẻ 4 - 5 tuổi thì đã biết sử dụng ngôn ngữ mạch lạc để nhận xét các
sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ, biết đặt câu hỏi cho mọi người xung
quanh.
+ Đối với trẻ 5 - 6 tuổi trẻ đã biết sử dụng thành thạo ngôn ngữ mạch
lạc để thể hiện kết quả khám phá, trao đổi, giải thích các sự vật, hiện tượng
xung quanh.
Thứ hai là thông minh âm nhạc
Là khả năng cảm nhận độ cao thấp, nhịp điệu, âm sắc, nói chung là
nhạy cảm với các kiểu âm thanh. Trẻ có khiếu âm nhạc thường sở hữu đôi tai
rất nhạy, chỉ cần nghe âm thanh là có thể cảm nhận giai điệu, nhịp độ cao
thấp, hiểu âm luật, hát được theo nhạc. Trẻ còn nhận biết được những nốt
nhạc hay âm thanh mà bạn đồng lứa tuổi bỏ ra, không để ý.
8
+ Toán học và các môn tự nhiên là những môn học yêu thích của trẻ
trong trường.
Thứ tư là thông minh thể chất
Là khả năng vận động và dùng rất nhiều kỹ năng đa dạng của cơ thể.
Nó bao gồm khả năng điều khiển hoàn hảo những cử động của mình, gồm cả
cảm giác về tính toán thời gian và sự kết hợp giữa tâm trí và cơ thể. Howard
Gardner thấy rằng có sự liên hệ giữa hoạt động của trí óc và hoạt động thể
chất. Trẻ em sở hữu kiểu thông minh này biết cách phối hợp cơ bắp tốt, nhạy
bén trong việc điều khiển cơ thể để có hành động và phản ứng trước những
tình huống tự nhiên.
Ví dụ:
+ Trẻ tham gia thể thao hoặc tham gia biểu diễn múa thể dục, võ hoặc
những môn tương tự.
+ Trẻ có xu hướng tự tay thực hiện những việc thủ công lắp ráp.
+ Trẻ không ngại nhảy trước đám đông.
+ Trẻ thích những trò chơi mạo hiểm tại các hội chợ, trung tâm vui chơi
giải trí.
+ Trẻ sử dụng các cử chỉ tay chân và cơ thể để diễn đạt suy nghĩ của
mình.
+ Trẻ thích chơi những trò chơi nghịch ngợm và phá bĩnh với bạn khác.
Thứ năm là thông minh không gian
Là khả năng nghĩ “ba chiều” bao gồm trí tưởng tượng, suy luận trong
không gian, vận dung hình ảnh, các kỹ năng đồ họa và nghệ thuật. Thông
minh về tri giác không gian liên quan đến suy nghĩ bằng hình ảnh hình tượng
và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo lại những góc độ khác nhau của
thế giới không gian trực quan. Những trẻ sở hữu loại trí thông minh về không
gian ở mức độ cao thường có một độ nhạy cảm sắc bén với những chi tiết cụ
11
kế hoạch và định hướng cuộc sống. Trí thông minh đạo đức còn được thể hiện
ở sự yêu thương, kính trọng, chan hòa của trẻ với mọi người, trẻ luôn biết yêu
quý, lễ phép với mọi người và sự vật hiện tượng xung quanh trẻ. Mặt khác, trẻ
có thể là người có tính độc lập mạnh mẽ, tính thẳng thắn cao độ và cực kỳ tự
giác, có kỷ luật.
Ví dụ:
+ Trẻ thường dành những thời gian yên tĩnh suy nghĩ những vấn đề
quan trọng trong cuộc sống của mình.
+ Trẻ thường đặt mục tiêu cho mình bạn biết mình sẽ đi đâu.
+ Trẻ là là một người suy nghĩ độc lập, hiểu những suy nghĩ trong đầu
mình và tự đưa ra các quyết định cho bản thân.
+ Trẻ luôn nhìn mọi thứ theo hướng tích cực, vui vẻ.
+ Trẻ hiểu một cách thực tế những điểm mạnh và điểm yếu của mình.
Thứ tám là thông minh về thiên nhiên
Là thiên hướng thích khám phá, tìm hiểu về đời sống của các loài trong
tự nhiên và tỏ ra nhạy cảm với những thay đổi của các hiện tượng tự nhiên
diễn ra xung quanh mình. Trẻ có năng khiếu về thiên nhiên rất nhạy bén với
những thay đổi về thời tiết hoặc phân biệt thành thạo trạng thái, sắc thái khác
nhau của một số lượng lớn vật thể giống nhau. Để rèn luyện kiểu thông minh
này, hãy tạo mọi cơ hội để trẻ gần gũi với thiên nhiên, picnic, dã ngoại, tham
gia các nhiệm vụ bảo vệ môi trường sống, chăm sóc vườn cây.
Những người có trí thông minh về thiên nhiên luôn hòa hợp với thiên
nhiên và thích thú với sự nuôi trồng, khám phá thiên nhiên, tìm hiểu về các
sinh vật.
Ví dụ:
+ Trẻ thích nuôi thú trong nhà.
- Về ngữ điệu: Trẻ đã biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội
dung giao tiếp hay nội dung của câu chuyện mà trẻ kể, điều đó nói lên rằng trí
13
thông minh ngôn ngữ và thông minh giao tiếp đang được phát triển: biết kể
chuyện, đọc thơ một cách diễn cảm, thể hiện sắc thái tình cảm khi kể chuyện.
Trẻ thường nói những lời nói nhẹ nhàng cùng những cử chỉ âu yếm, vỗ về để
thể hiện tình cảm yêu thương trìu mến. Ngược lại, khi giận dữ trẻ lại thường
dùng những cử chỉ thô và mạnh. Khả năng này được thể hiện khá rõ khi trẻ kể
những câu chuyện mà trẻ thích cho người khác nghe.
- Về vốn từ và cơ cấu ngữ pháp
Trẻ 5 - 6 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân 1.033 từ, đây cũng là giai
đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ. Trẻ nắm được
vốn từ trong tiếng mẹ đẻ đủ để diễn đạt trong sinh hoạt hàng ngày, bên cạnh
đó trẻ còn nắm được các kỹ năng kết hợp các từ trong câu theo nguyên tắc
ngữ pháp. Tuy nhiên, việc này còn phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện môi
trường sống và hiệu quả của quá trình giáo dục đối với trẻ.
Trẻ 5 - 6 tuổi số lượng câu đơn, câu ghép và các kiểu câu ghép trong lời
nói đang tăng lên. Đặc biệt là khi kể lại chuyện, số lượng câu đơn mở rộng
chiếm tới 85%, khi kể lại chuyện sáng tạo thì trẻ sử dụng câu ghép với tỉ lệ
cao nhất (25,2%).
Sự lĩnh hội ngôn ngữ, còn được quyết định bởi tính tích cực của bản
thân đứa trẻ đối với ngôn ngữ. Những đứa trẻ mà thích giao tiếp, tích cực tìm
hiểu các hiện tượng ngôn ngữ (tức là ngôn ngữ đã trở thành đối tượng của ý
thức) thì không những hiểu được từ ngữ và nắm ngữ pháp một cách rõ ràng,
mà còn “sáng tạo” ra những từ ngữ những cách nói mà chưa hề có trong ngôn
ngữ của người lớn. Sự phát triển đó cho chúng ta thấy được rằng, trí thông
minh ngôn ngữ và thông minh giao tiếp của trẻ đang phát triển, như trường
5 - 6 tuổi đã có thể hiểu tranh vẽ hơn, tách biệt được tranh vẽ về nhiều mặt và
chi tiết lý thú với mình hơn. Ở giai đoạn này, ghi nhớ của trẻ cũng có tính chủ
định nhiều hơn do sử dụng một số phương thức như nhắc lại hay liên hệ lại
15
các sự kiện với nhau do người lớn gợi ý cho. Tuy nhiên, cho tới cuối tuổi mẫu
giáo lớn, các quá trình tâm lý không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong hoạt
động tâm lý của trẻ, ngay cả trong hoạt động trí tuệ. Cũng ở độ tuổi này bên
cạnh trò chơi đóng vai theo chủ đề còn xuất hiện khá nhiều trò chơi có luật,
hành động tâm lý bên trong được biến đổi rõ rệt, từ quá trình tâm lý không
chủ định chuyển sang quá trình tâm lý có chủ định như: tri giác có chủ định,
chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định.
Như vậy, sự xuất hiện của sự tự ý thức và tính chủ định trong tâm lý
của trẻ mẫu giáo lớn là điều rất quan trọng, khiến cho nhân cách của trẻ được
khẳng định và phát huy được ở trẻ các năng lực trí thông minh ngôn ngữ và
thông minh giao tiếp một cách toàn diện.
1.1.2.2. Đặc điểm sinh lý của trẻ 5 - 6 tuổi
Hệ tuần hoàn: Tim của trẻ có tốc độ phát triển khá nhanh. Ở độ tuổi
này, tim của trẻ có trọng lượng nặng gấp 5 lần so với các lứa tuổi trước,
nhưng vẫn còn khá nhanh so với người lớn.
Thành phần máu của trẻ 5 - 6 tuổi cũng tăng lên và biến đổi về chất,
huyết sắc tố 80 - 90 %, hồng cầu 4,5 - 5 triệu đơn vị, bạch cầu 7 - 10 nghìn,
tiểu cầu 200 - 300 nghìn.
Hệ thần kinh: Sự hoạt động của trẻ 5 - 6 tuổi là thời kì phát triển nhanh, rõ
nhất trong cả đời người. Kết cấu thần kinh của não có xu thế sớm trưởng thành,
song ở lứa tuổi này do khả năng hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh chưa ổn
định nên nếu trẻ làm gì đơn thuần và kéo dài và đơn thuần sẽ bị mệt mỏi.
Hệ hô hấp: Hệ hô hấp của trẻ đã phát triển, tuy nhiên chưa đầy đủ như
của chúng, biểu hiện nảy sinh những yếu tố tư duy lôgic, tất nhiên là phải có
sự dạy dỗ đặc biệt.
Ở độ tuổi này trẻ đã lĩnh hội được các chuẩn về âm thanh và màu sắc,
tư duy hình tượng cần thiết cho mọi hoạt động sáng tạo, ngay cả trong nghiên
cứu của các nhà khoa học, chúng ta cần phải phát triển tư duy hình tượng
17
ngay cả đối với trẻ mẫu giáo lớn. Thông qua các trò chơi, qua “tiết học”, trong
sinh hoạt hàng ngày hay tham quan giáo viên cần gợi mở, khuyến khích để trẻ
phát triển quan sát, tập phân tích, so sánh, khái quát... tổ chức cho trẻ trực tiếp
quan sát, tự mình phân tích, so sánh, khái quát và đánh giá từ đó phát triển các
thao tác của trí tuệ, các quá trình của tư duy. Bên cạnh đó, cần quan tâm tới tư
duy trừu tượng của trẻ, chỉ cần sử dụng để giới thiệu với trẻ một số khái niệm
đơn giản (hay tiền khái niệm) cần thiết cho việc làm quen với thế giới xung
quanh. Đồng thời, cần phát huy được ở trẻ các dạng trí thông minh một cách
toàn diện. Cần tránh cho trẻ quá sớm đi vào tư duy lôgic theo kiểu người lớn,
“khôn trước tuổi”, điều đó sẽ làm mất đi tính ngây thơ hồn nhiên và tính mềm
dẻo của các loại hình trí tuệ.
1.2. Cơ sở thực tiễn của việc dạy học chủ đề Thực vật theo thuyết đa trí
tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi
1.2.1. Đặc điểm của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình
Giáo dục Mầm non hiện hành
Tính thực tiễn
Đối với trẻ thơ, chủ đề Thực vật thật gần gũi thân quen và đáng yêu
như những người bạn xung quanh trẻ vậy. Các trẻ đều yêu thích cỏ cây hoa
trái thiên nhiên xung quanh trẻ, vì nó xuất hiện thường xuyên và có trong bữa
ăn, trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, trong hoạt động học tập vui chơi,
thăm quan, trong các câu chuyện kể, bài thơ… của trẻ. Chủ đề thế giới Thực
cứu vui chơi.
1.2.2. Mục tiêu của chủ đề Thực vật cho trẻ 5 - 6 tuổi trong chương trình
Giáo dục Mầm non hiện hành
1.2.2.1. Phát triển thể chất
+ Thực hiện và phối hợp nhịp nhàng các vận động: đi, nhảy, bật, ném,
chuyền bóng, trèo lên, xuống.
+ Phát triển sự khéo léo của đôi bàn tay qua hoạt động: tập làm công
việc nội trợ, chăm sóc cây.
19
+ Biết ích lợi của một số thực phẩm nguồn gốc thực vật với sức khỏe
của bản thân.
+ Hình thành một số thói quen tốt trong sinh hoạt hàng ngày, có hành vi
vệ sinh trong ăn uống (ăn quả được rửa sạch, gọt vỏ, thức ăn chín, đã được
chế biến...).
+ Trẻ biết ăn uống đủ chất và chăm chỉ tập thể dục để cơ thể khỏe mạnh
và cân đối.
1.2.2.2. Phát triển nhận thức
+ Quan sát, hiểu và giải thích được quá trình phát triển của cây, biết
phán đoán một số mối quan hệ đơn giản giữa sự phát triển cây cối với môi
trường sống của cây (đất, nước, không khí, ánh sáng).
+ Tiếp tục dạy trẻ biết phân tích, so sánh, nhận xét đặc điểm giống nhau
và khác nhau của các loại cây, hoa, quả (khuyến khích trẻ tìm tòi, phát hiện ra
những đặc điểm mới, chi tiết mới).
+ Biết được ích lợi của cây cối, thiên nhiên và môi trường với đời sống
con người.
+ Biết so sánh phân biệt một số đặc điểm giống nhau và khác nhau của
một số cây, hoa, quả. Biết cách phân loại một số cây loại rau: ăn lá, ăn củ, ăn