TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
********************
HOÀNG THỊ NHÃ PHƯƠNG
NÂNG CAO KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG
MẦM NON VĂN HẢI - KIM SƠN - NINH BÌNH
QUA HOẠT ĐỘNG VẼ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình
HÀ NỘI – 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
********************
HOÀNG THỊ NHÃ PHƯƠNG
NÂNG CAO KHẢ NĂNG SÁNG TẠO CHO
TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI TẠI TRƯỜNG
MẦM NON VĂN HẢI - KIM SƠN - NINH BÌNH
QUA HOẠT ĐỘNG VẼ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình
1.1.3.1.3. Hoạt động vẽ tranh ............................................................. 13
CHƯƠNG 2. NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VỀ VIỆC NÂNG CAO KHẢ
NĂNG TƯỞNG TƯỢNG SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA HOẠT
ĐỘNG VẼ TẠI TRƯỜNG MẦM NON VĂN HẢI, HUYỆN KIM SƠN,
TỈNH NINH BÌNH.......................................................................................... 18
2.1. Một số nét về trường mầm non Văn Hải .............................................. 18
2.2. Thực trạng mức độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi qua động vẽ
của trường mầm non Văn Hải ...................................................................... 19
2.2.1. Khái quát về tổ chức nghiên cứu thực trạng ................................... 19
2.2.1.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................ 19
2.2.1.2. Khách thể nghiên cứu ............................................................... 19
2.2.1.3 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu............................................. 19
2.2.1.4. Phương pháp nghiên cứu .......................................................... 20
2.2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng mức độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ
5-6 tuổi trong hoạt động vẽ ....................................................................... 22
2.2.2.1. Thực trạng về mức độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ 5-6 tuổi
trong hoạt động vẽ ................................................................................. 22
2.2.2.2. Thực trạng biểu hiện tưởng tượng sáng tạo qua tranh vẽ của trẻ
5-6 tuổi qua một số tiêu chí ................................................................... 24
2.2.2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tưởng tượng sáng tạo
trong hoạt động vẽ của trẻ 5-6 tuổi ........................................................ 33
2.2.2.4. Đánh giá của giáo viên về các biện pháp có thể nâng cao tưởng
tượng sáng tạo trong hoạt động vẽ của trẻ 5-6 tuổi ............................... 42
CHƯƠNG 3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ HÌNH THỨC NÂNG CAO KHẢ NĂNG
SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI QUA HOẠT ĐỘNG VẼ TẠI TRƯỜNG
MẦM NON VĂN HẢI ................................................................................... 45
3.1. Một số biện pháp nâng cao mức độ sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt
động vẽ ......................................................................................................... 45
Đối chứng
Tần số
Tỉ lệ phần trăm
Giáo dục mầm non
Viết tắt
TN
ĐC
N
%
GDMN
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, khoa học kỹ thuật có những tiến bộ vượt bậc và con người
có điều kiện phát triển hơn. Con người càng mong muốn vượt lên tới tầm cao
mới để chiếm lĩnh tri thức, khám phá vũ trụ. Giáo dục đang là mối quan tâm
hàng đầu của toàn xã hội, đặc biệt là GDMN vì GDMN là bộ phận trong hệ
thống giáo dục quốc dân. GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đào tạo nhân
cách con người Việt Nam. Mục tiêu của giáo dục mầm non là: “ giúp trẻ phát
triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ và hình thành những yếu tố đầu
tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”.Trong đó hoạt động tạo hình
là một hoạt động học tập mang tính nghệ thật giúp trẻ nhận thức thế giới xung
quanh và phản ánh thế giới thông qua các hình tượng nghệ thuật, trong các
hình thức hoạt động mang tính nghệ thuật.
Hoạt động tạo hình góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng
giáo dục nhằm phát triển toàn diện cho trẻ. Những sản phẩm trẻ tạo ra rất đơn
mầm non Van Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” thì chưa được tìm hiểu,
nghiên cứu và thực hiện.
3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài “Nâng cao khả năng sáng tạo cho trẻ 5 – 6 tuổi
trường mầm non Văn Hải – Kim Sơn – Ninh Bình qua hoạt động vẽ” nhằm
tìm ra các hình thức tổ chức hoạt động vẽ mới để nâng cao khả năng sáng tạo
cho trẻ qua hoạt động vẽ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Nghiên cứu lý luận
3
Phân tích và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến việc
vận dụng các phương tiện dạy học để nâng cao khả năng sáng tạo cho trẻ mẫu
giáo lớn trong hoạt động vẽ.
4.2. Tìm hiểu thực trạng
Tìm hiểu thực trạng việc vận dụng các phương tiện dạy học để nâng
cao khả năng sáng tạo cho trẻ thông qua hoạt đông vẽ của trẻ mẫu giáo tại
trường mầm non Văn Hải.
4.3. Đề xuất nghiên cứu
Đề xuất một số phương tiện dạy học nhằm phát triển khả năng sáng tạo
cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ.
5. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non Văn Hải
-
Khách thể nghiên cứu: Việc vận dụng các phương tiện dạy học
nhằm nâng cao khả năng sáng tạo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
7.2.3. Phương pháp trò chuyện
Trao đổi với trẻ và giáo viên về nội dung và hình thức tranh vẽ của trẻ
để đánh giá mức độ tưởng tượng sáng tạo.
7.2.4. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động vẽ
Trên cơ sở nghiên cứu về hoạt động vẽ và tưởng tượng sáng tạo của trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi, chúng tôi xác định biểu hiện của tưởng tượng sáng tạo ở
trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động vẽ theo đề tài được thể hiện ở những
điểm sau:
5
* Về nội dung
- Tên tranh vẽ: trẻ có sự thay đổi khi đặt tên tranh vẽ.
- Đặc điểm nội dung tranh vẽ: có sự thay đổi về nhân vật, sự vật hiện
tượng, tình tiết, bối cảnh.
*Về hình thức
- Bố cục: sử dụng luật phối cảnh thể hiện chiều sâu trong không gian.
- Màu sắc: sử dụng màu sắc một cách có chủ ý, theo ý đồ miêu tả.
- Hình vẽ: giàu tính hình tượng, thể hiện ở nhiều dạng hoạt động.
7.2.5. Phương pháp thực nghiệm
Thực nghiệm một số biện pháp:
Biện pháp 1: Tổ chức cho trẻ các bài tập, trò chơi “tưởng tượng có định
hướng” nhằm giúp trẻ hình thành thói quen độc lập trong việc tìm kiếm ý
tưởng, tạo ra những biểu tượng, những cách biểu đạt linh hoạt, độc đáo;
Biện pháp 2: Tổ chức quá trình tri giác với học cụ trực quan đa dạng về
chủng loại và hình thức;
Biện pháp 3: Tạo hứng thú, phát triển ở trẻ những xúc cảm, tình cảm
thẩm mỹ nhằm nâng cao mức độ tưởng tượng sáng tạo của trẻ trong hoạt động
vẽ. Chọn nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm để đánh giá kết quả của các
7
1.1.2. Đặc điểm hoạt động sáng tạo của trẻ mẫu giáo lớn
1.1.2.1. Đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn
* Đặc điểm sinh lý: Ở trẻ mẫu giáo lớn, sự phát triển chậm hơn so với
giai đoạn trước. Về số lượng: Chiều cao trung bình tăng từ 4 - 6cm, đạt từ
105,5 - 125,2cm. Về cân nặng tăng khoảng 1 - 2,5kg, đạt khoảng 25,7kg. Có
sự thay đổi rõ rệt về chất lượng.
Về hệ thần kinh, ở trẻ mẫu giáo lớn, cường độ và tính linh hoạt của các
quá trình thần kinh tăng lên rõ rệt. Trẻ có trể tập chung chú ý vào một đối
tượng nhất định trong thời gian 15 - 20 phút. Đồng thời, lứa tuổi này, vai trò
của hệ thống tín hiệu ngày càng tăng. Tư duy bằng từ đã tăng lên, ngôn ngữ
bên trong xuất hiện. Chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nháy vọt gần
như ở người lớn, ở chỗ, sự khái quát hóa được thể hiện theo hoạt động với đồ
vật. Vì thế tư duy bằng hành động vẫn giữ vai trò quan trọng trong hệ thần
kinh cấp cao của trẻ. Ở lúa tuổi này trẻ có thể đọc và học viết. Ngoài ra, do sự
phát triển của hệ thần kinh, nên số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ của trẻ
cũng giảm xuống, còn 11 giờ trong ngày.
Về hệ vận động, trẻ mẫu giáo lớn có sự phối hợp vận động của nhiều
nhóm cơ như ở người lớn. Còn việc tiếp thu những thói quen vận động còn
phụ thuộc vào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là sự luyện tập phù hợp.
Về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ mẫu giáo lớn cũng tăng lên và
biến đổi về chất: Huyết sắc tố: 80 - 90%, hồng cầu 4,5 - 5 triệu đơn vị, bạch
cầu 7 - 10 nghìn, tiểu cầu 200 - 300 nghìn. Ngoài ra, tần số co bóp của tim
cũng tăng lên 80 - 110 lần/phút.
Về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũng
phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển.
9
Tiến vào bước ngoặt 6 tuổi. Tuổi mẫu giáo lớn là thời kỳ trẻ đang phát
triển tiến vào bước ngạt 6 tuổi với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo. Hoạt
động vui chơi vẫn giữ vai trò chủ đọa trong suốt thời kì mẫu giáo, nay những
yếu tố của hoạt động học tạp bắt đầu nảy sinh để tiến tới chiếm vị trí chủ đạo
ở giai đoạn sau bước ngoặt 6 tuổi. Do đó, bước ngoặt 6 tuổi là một sự kiện
quan trọng khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một mặt là muốn hoàn
thiện những thành tựu phát triển tâm lý suốt thời kỳ mẫu giáo, mặt khác là
tích cực chuẩn bị cho trẻ có đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học
tập và cuộc sống ở trường phổ thông.
Một mặt quan trọng của trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho
việc học tập là làm sao cho trình độ phát triển ý chí của trẻ đủ để có thể điều
chỉnh hành vi của mình tuân theo nội quy của nhà trường và thực hiện những
yêu cầu của giáo viên hay của tập thể lớp đề ra, tự giác tuân theo quy định nơi
công cộng.
Tính chủ định của các hoạt động tâm lý cũng cần được tăng tiến để trẻ
có thể kiên trì theo đuổi các mục đích học tập, là tiếp nhận những tri thức
khoa học có hệ thống. Những hoạt động trí tuệ như quan sát, ghi nhớ, tư
duy,… cần phải đạt tới một mức độ nhất định để có thể lĩnh hội các tri thức
khoa học một cách dễ dàng.
Đứa trẻ bước vào trường học cần phải có một tri thức nhất định về thế
giới xung quanh, về giới hữu sinh, về con người và lao động của họ về nhiều
mặt của đời sống xã hội, về các chuẩn mực đạo đức hành vi. Đặc biệt là khơi
gợi ở trẻ lòng ham hiểu biết, muốn khám phá những điều mới lạ của thế giới
tự nhiên và cuộc sống xã hội.
Cuối cùng, trình độ chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lý cho việc học tập ở
trường phổ thông bao gồm những phẩm chất của nhân cách giúp trẻ nhanh
chóng gia nhập vào tập thể lớp, tìm được vị trí của mình trong tập thể đó, có ý
đồ đơn giản.
11
- Cùng với tính duy kỷ, tính không chủ định cũng là một đặc điểm
tâm lý rất đặc trưng tạo cho sản phẩm hoạt động tạo hình của trẻ vẻ hấp dẫn
riêng. Do tính không chủ định mà trong quá trình tạo hình, trẻ mẫu giáo chưa
có khả năng độc lập suy tính công việc sắp tới một cách chi tiết, các ý định
miêu tả của trẻ thường nảy sinh một cách tình cờ. Để thực hiện ý định tạo
hình trẻ cũng phác ra kế hoạch chung, song kế hoạch đó thường dễ bị thay đổi
bởi các yếu tố ngẫu nhiên xuất hiện trong quá trình quan sát, trong hoạt động
của trí nhớ hay cảm xúc.
Tranh vẽ của trẻ nhỏ dường như là một câu chuyện đồ họa. Khi kể “câu
chuyện ấy”, cũng nhiều khi kể chuyện bằng lời nói, trẻ thường vẽ bắt đầu
bằng một chi tiết nào đó, sau đó thêm dần các chi tiết mới. Đôi khi trẻ liên kết
vào một bức tranh tới vài hoạt động, vài sự kiện xảy ra với cùng một nhân vật
(nhân vật đóược vẽ nhiều lần, ở nhiều vị trí, tư thế trong bức tranh) và kết quả
là tạo nên một kết cục rất ấu trĩ. Khi vẽ tranh, trẻ thường khó phân biệt sự vật,
nhân vật chính và chưa biết cách làm cho chúng nổi bật, những gì trẻ muốn
thể hiện thường được liệt kê theo luồng suy nghĩ chưa được mạch lạc của trẻ.
Chú tâm vào thể hiện nội nung ý tưởng, trẻ thường vẽ rất say sưa nhưng khác
với người lớn, vẽ xong các chi tiết trẻ hầu như không xem xét lại, không quan
tâm tới chúng nữa và không biết sửa sang tô vẽ lại..
Tóm lại, khi nghiên cứu các tranh vẽ tự do của trẻ người ta nhận thấy
chúng thể hiện ở đó phần nhiều là những gì nó nhìn thấy, nó biết, nó nghĩ,
theo cách cảm nhận của trẻ thơ chứ chưa hẳn là những gì giống như cái mà
chúng ta nhìn thấy. Đây là một đặc điểm đáng lưu ý, một điều kiện thuận lợi
mà người ta đã tận dụng để đi sâu tìm hiểu đặc điểm tâm lý của trẻ. Tuy
nhiên, cứ để lặp lại hiện tượng này thì có thể lag một nhược điểm gây khó
13
1.1.3.1.2. Hoạt động vẽ trang trí
Trẻ quan sát hình minh họa hoặc đồ vật để tập vẽ nét, vẽ hoạt tiết, sắp
xếp họa tiết theo cách nhắc lại, xen kẽ hoặc đối xứng và vẽ màu tự do. Các
loại bài tập thường là: Trang trí cơ bản (đường riềm, trang trí hình vuông,
hình tròn) và trang trí ứng dụng.
Trẻ mẫu giáo lớn làm bài tập theo ý mình, có thể không giống mẫu và
hình hướng dẫn mà giáo viên đã giới thiệu, khác với hoạt động vẽ theo mẫu,
hoạt động vẽ trang trí phát triển ở trẻ khả năng suy nghĩ tìm tòi, sáng tạo, tạo
ra các bài vẽ theo cảm nhận riêng, không giống mẫu, khon giống bài của các
bạn về bố cục, về hoạt tiết và về màu sắc.
Ví dụ: Vẽ trang trí đường riềm, trang trí hình tròn, hình vuông.
Yêu cầu đối với trẻ khi tham gia vào hoạt động vẽ trang trí như sau:
- Trẻ biết được cách sắp xếp họa tiết trong các hình thể trang trí:
Đường riềm, hình vuông,… và một số đồ vật quen thuộc.
- Nhận ra các cách sắp xếp họa tiết: Nhắc lại, xen kẽ, đố xứng.
- Vẽ được họa tiết theo mẫu hoặc tự vẽ vào các hình trang trí theo các
cách khác nhau.
- Vẽ màu vào họa tiết và nền, có đâm, có nhạt, màu ít ra ngoài hình.
1.1.3.1.3. Hoạt động vẽ tranh
Trẻ tập vẽ các thể loại đơn giản như: Tranh tĩnh vật, tranh phong cảnh,
tranh chân dung, tranh đề tài sinh hoạt và tranh các con vật quen thuộc.
Ở độ tuổi này, trẻ quan sát, nhận biết và cảm thụ vẻ đẹp ở các hình ảnh
trong tranh, ảnh và tự mình vẽ tranh theo khả năng và cảm nhận của mình.
Khi vẽ tranh theo đề tài cho trước (cả lớp cùng vẽ một đề tài) nhưng
mỗi trẻ có cách vẽ khác nhau về sắp xếp hình ảnh và vẽ màu.
luyện khả năng độc lập tổ chức, điều khiển, điều chỉnh quá trình nhận
thức của mình.
1.3.1.2.2. Hoạt động vẽ đối với việc giáo dục tình cảm, đạo đức, kĩ năng
giao tiếp xã hội
- Hoạt động vẽ có một vai trò rất lớn trong việc giáo dục đạo đức cho
trẻ nhỏ. Hoạt động này không chỉ đơn thuần là sự phản ánh các ấn tượng kinh
nghiệm xã hội mà đây còn là sự biểu lộ thái độ, tình cảm của trẻ đối với
những gì mà chúng thể hiện. Tham gia vào hoạt động vẽ, trẻ có nhiều điều
kiện để tiếp xúc các chuẩn mực thẩm mĩ, đạo đức trong xã hội.
- Hoạt đọng vẽ là một hoạt động có nguồn gốc xã hội và là hoạt động
suất hiện ở trẻ sớm nhất trong quá trình hình thành và phát trieenr nhân cách
cho trẻ em.
1.3.1.2.3. Hoạt động vẽ đối với sự phát triển thẩm mĩ
- Hoạt động tạo hình nói chung và hoạt động vẽ nói riêng là một hoạt
động nghệ thuật, tạo nên những điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển cảm
giác, tri giác thẩm mĩ: việc quan sát, tìm hiểu các sự vật hiện tượng giúp trẻ
nhận ra đặc điểm thẩm mĩ (hình dáng, màu sắc, cấu trúc, tỉ lệ, sự sắp xếp
không gian,…).
- Các đặc điểm thẩm mĩ phong phú và đa dạng của đối tượng miêu tả là
những yếu tố kích thích sự xuất hiện của những rung động, những xúc cảm
thẩm mĩ.
- Quá trình thể hiện các sản phẩm vẽ là điều kiện thuận lợi cho trẻ vận
dụng tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã tích lũy để phối hợp, xây dựng
hình tượng mới làm cho các sản phẩm vẽ của trẻ ngày càng trở nên sinh động,
đấy sức hấp dẫn và mang màu sắc nghệ thuật.
16
1.3.1.2.4. Hoạt động vẽ đối với sự phát triển thể chất
18
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC NÂNG CAO KHẢ NĂNG TƯỞNG TƯỢNG
SÁNG TẠO CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẦM NON VĂN HẢI-HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH QUA HOẠT ĐỘNG VẼ
2.1. MỘT SỐ NÉT VỀ TRƯỜNG MẦM NON VĂN HẢI
Trong thời gian tìm hiểu thực tế tại trường mầm non Văn Hải tôi đã
được tiếp xúc và trò chuyện với những giáo viên và trẻ trong trường, đặc biệt
là các giáo viên dạy ở các lớp mẫu giáo lớn. Trường mầm non Văn Hải là
trường mới được xây dụng và thành lập, trường được trang bị cơ sở vật chất
khá tốt, có đầy đủ trang thiết bị đáp ứng đủ nhu cầu dạy và học của cô và trò
trong trường. Về đội ngũ giáo viên, đa số là các giáo viên trẻ, năng động,
nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tuy nhiên kinh nghiệm giảng dạy và kỹ năng
chăm sóc trẻ vẫn còn những hạn chế. Qua tìm hiểu thực tế, đa số giáo viên
đều nhận thức được tầm quan trọng của việc vận dụng các phương pháp để
nâng cao khả năng sáng tạo cho trẻ trong hoạt động vẽ cho trẻ mầm non, đặc
biệt là đối với trẻ mẫu giáo lớn, nhưng việc vận dụng các phương pháp và các
hình thức giảng dạy của giáo viên còn nhiều hạn chế, các giáo viên chưa thể
hiện được sự sáng tạo của mình trong giảng dạy các tiết học này, chưa có sự
kết hợp nhiều hình thức và các phương pháp giảng dạy với nhau hoặc giảng
dạy một cách máy móc, theo khuôn mẫu, nên quá trình tổ chức còn nặng về
kết quả sản phẩm , còn chưa chú ý dạy kỹ năng vẽ cho trẻ, chưa biết vận dụng
môi trường xung quanh để tạo cảm xúc cho trẻ. Do vậy nhiều trẻ vân còn yếu
về kỹ năng tạo hình (kỹ năng cầm bút, kỹ năng tô màu,..) đặc biệt là khả năng
tưởng tượng sáng tạo của trẻ còn hạn chế, nhiều trẻ còn nhút nhát không tích
cực hoạt động… Bên cạnh đó, trẻ ở độ tuổi mẫu giáo được đến trường đầy đủ,
đó là điều kiện tốt cho sự phát triển của trẻ, bởi đến trường mầm non trẻ được