TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
ĐỒNG THỊ HỒNG NHUNG
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO
TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
DẠY TRẺ KỂ LẠI CHUYỆN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
HÀ NỘI - 2014
i
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
ĐỒNG THỊ HỒNG NHUNG
PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO
TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
DẠY TRẺ KỂ LẠI CHUYỆN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. LÊ THỊ LAN ANH
HÀ NỘI - 2014
Sinh viên
Đồng Thị Hồng Nhung
iv
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài ..............................................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề...................................................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu .....................................................................................................4
4. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................................................4
5. Phạm vi nghiên cứu .......................................................................................................4
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................................................4
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................5
8. Cấu trúc khóa luận..........................................................................................................5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI ...............................................................6
1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn liên quan đến việc tiếp
nhận truyện và kể lại chuyện..........................................................................................6
1.1.1. Cơ sở sinh học ...........................................................................................................6
1.1.2. Cơ sở tâm lý ...............................................................................................................6
1.2. Cơ sở giáo dục học ................................................................................................... 13
1.2.1. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo ............................................................ 13
1.2.2. Tiết học ở trường mẫu giáo ............................................................................. 14
1.2.3. Các nguyên tắc cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học ...................... 14
1.3. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động dạy
trẻ kể lại chuyện ................................................................................................................ 16
1.3.1. Khái niệm kể chuyện ........................................................................................... 16
1.3.2. Thuận lợi và khó khăn của việc phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 58
vi
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Mầm non là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho sự phát triển của con
người. Trong đó việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua việc đọc và kể lại
tác phẩm văn học là trang bị cho trẻ nhận thức thế giới xung quanh và mở
rộng quan hệ với mọi người, mặt khác ở lứa tuổi mẫu giáo việc giúp trẻ phát
triển ngôn ngữ là hết sức to lớn và là một nhiệm vụ cấp thiết của gia đình và ở
các lớp mẫu giáo. Ngôn ngữ phục vụ cho tất cả mọi thành viên trong xã hội,
từ việc lao động học tập đến giải trí vui chơi. Có thể thấy rằng trong bất kì
lĩnh vực nào con người cũng cần có ngôn ngữ. Ngôn ngữ không thể tồn tại
bên ngoài xã hội loài người và không thể bị tiêu diệt khi xã hội loài người còn
tồn tại. Vì vậy mỗi con người từ thời thơ ấu việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
là vô cùng quan trọng.
Hơn thế, ngôn ngữ còn có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân
cách trẻ. Vì vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ bằng cách dạy trẻ kể lại
chuyện là một vấn đề rất quan trọng mà các các trường mẫu giáo đang quan
tâm, thực hiện nhằm góp phần đào tạo giáo dục toàn diện nhân cách trẻ sau
này. Đó là sự mở cửa cho trẻ những bước đi chập chững đầu tiên vào thế giới
những giá trị phong phú chứa đựng trong tác phẩm văn học. Sự tiếp xúc đầu
tiên của trẻ mẫu giáo với tác phẩm văn học được chọn lọc, nhất là những câu
chuyện kể sẽ kích thích ở trẻ sự nhạy cảm thẩm mỹ, sự phát triển ngôn ngữ trí
tuệ. Văn học góp phần hình thành tình cảm đạo đức cho trẻ, ở lứa tuổi mẫu
giáo việc hình thành phát triển hoạt động văn học là một hình thức quan trọng
để phát triển tính tích cực cá nhân, tính độc lập sáng tạo của trẻ.
Trẻ thơ lứa tuổi bắt đầu của sự nhận thức và những tình cảm mãnh liệt,
phát triển nhanh về nhiều lĩnh vực trong đó đáng chú ý hơn cả là lĩnh vực
ngôn ngữ và nhận thức. Đã từ lâu, ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học là vấn đề
2
được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu.
Các nhà khoa học trên thế giới như: L.X.Vưgôtxki, A.M.Leusina,
E.I.Tikhêêva. D.N.Ixtomina, Ph.A.Xôkhina; ở Việt Nam như: Nguyễn Xuân
Khoa, Nguyễn Huy Cẩm, Nguyễn Ngọc Anh, Lưu Thị Lan, Tạ Thị Ngọc
Thanh, Phan Thiều… Tất cả các nhà khoa học khi nghiên cứu về ngôn ngữ trẻ
em dù ở lĩnh vực tâm lí học hay giáo dục dọc đều rất quan tâm đến việc ngiên
cứu xác định phương pháp, biện pháp nào tốt nhất nhằm phát triển ngôn ngữ
cho trẻ. Trong quá trình khảo sát, nghiên cứu và tìm hiểu chúng tôi có được
tiếp xúc với một số công trình như sau:
1. Trong cuốn “Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học – một số vấn đề
lý luận và thực tiễn” của Hà Nguyễn Kim Giang, tác giả đã nhấn mạnh đến
việc phát huy tính tích cực của chủ thể tiếp nhận và đặc biệt chú ý đến
phương pháp đọc và kể chuyện có nghệ thuật, coi đó là phương pháp rất cơ
bản và chủ đạo trong quá trình cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học. Khi
nói đến nội dung của phương pháp kể chuyện tác giả đã đưa ra quan niệm về
việc kể chuyện cho trẻ một cách rất rõ ràng cụ thể và có tính chất quyết định
cho việc dạy trẻ kể lại chuyện.
2. Tác giả Hoàng Thị Thu Hương đề cập đến vấn để phát triển ngôn
ngữ mạch lạc cho trẻ thông qua hoạt động kể lại chuyện về sinh hoạt và tác
giả cũng đã đưa ra một số biện pháp dạy trẻ 5 - 6 kể lại chuyện giúp phát triển
lời nói mạch lạc ở trẻ độ tuổi này trong cuốn “Một số biện pháp dạy trẻ mẫu
giáo lớn kể chuyện về sinh hoạt nhằm phát triển lời nói mạch lạc”.
3. Trong cuốn “Các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5 - 6
tuổi” của Nguyễn Thị Kim Oanh coi kể chuyện như một biện pháp phát triển
quan đến đề tài để xây dựng cơ sở lí luận cho việc xây dựng một hệ thống các
biện pháp dạy trẻ kể lại chuyên.
4
- Nghiên cứu thực trạng để thấy được việc thực hiện dạng thức tiết học
này đạt kết quả như thế nào.
- Đề xuất một số biện pháp dạy trẻ kể lại chuyện nhằm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ. Thực nghiệm sư phạm để đánh giá và kiểm tra giả thiết khoa học.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng phương pháp: liệt kê, điều tra thực trạng, thực
nghiệm, phân tích, tổng hợp.
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận khóa luận gồm ba chương.
- Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài
- Chương 2: Thực trạng về việc trẻ kể lại chuyện
- Chương 3: Một số biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi kể lại chuyện
5
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn liên quan đến việc tiếp
nhận truyện và kể lại chuyện
1.1.1. Cơ sở sinh học
Ở trẻ 5 - 6 tuổi hệ thần kinh phát triển tương đối hoàn thiện, bộ não của
trẻ không khác người trưởng thành nhiều. Với trên một tỷ rưỡi tế bào thần
biết và nhận thức tăng lên rõ rệt. Vì vậy đề ra một số biện pháp dạy trẻ kể lại
chuyện xuất phát từ vấn đề này.
Các câu chuyện là một bộ phận của văn học mà văn học lại phản ánh
cuộc sống thông qua các hình tượng, các hình tượng văn học đã góp phần
kích thích sự phát triển tư duy của trẻ.
Tuy nhiên không thể bỗng dưng mà hình tượng văn học lại trở nên phù
hợp với đặc điểm tư duy của trẻ điều đó phụ thuộc rất nhiều vào người đem
văn học đến cho các em (đó là cô giáo) ở đây cô giáo phải làm cho những
hình tượng ấy trở nên sống động trước mặt trẻ. Trẻ có thể hình dung được
cảm nhận được toàn bộ nội dung câu chuyện, cảm nhận được những khung
cảnh, những sự kiện, những phẩm chất, tính cách của các nhân vật trong
truyện.
Sự phát triển mạnh mẽ của tư duy trực quan hình tượng thuận lợi cho
trẻ tự hoạt động nghệ thuật.
Để tư duy hình tượng phát triển mạnh mẽ hơn, suy luận được nhiều vấn
đề mới hơn, phụ thuộc vào quá tình tổ chức cho trẻ tự hoạt động vì chỉ có
trong hoạt động các phẩm chất tâm lý của trẻ mới được hình thành và phát
triển.
* Tưởng tượng
7
Trí tưởng tượng là một năng lực của tư duy góp phần tích cực vào hoạt
động nhận thức.
Trí tưởng tượng là một đường dây nối liền những hiện tượng tưởng như
riêng rẽ, tách biệt nhau thành một mạch thống nhất. Ta biết rằng tưởng tượng
hình thành trong quá trình hoạt động của trẻ dưới ảnh hưởng nhất định của
điều kiện sống và giáo dục.
Đặc điểm tưởng tượng của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là tưởng tượng tái
tượng của trẻ, kích thích khả năng tự tham gia hoạt động nghệ thuật và sáng
tạo của trẻ.
Căn cứ vào đặc điểm tưởng tượng của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi chủ yếu là
tưởng tượng tái hiện vì vậy mà việc kể diễn cảm của giáo viên cũng là một
yếu tố rất quan trọng để đưa trẻ làm chất liệu xây dựng nên những hình tượng
mới, những chi tiết hấp dẫn muôn màu, muôn vẻ.
Bởi vì trẻ có kinh nghiệm về kể chuyện, có biểu tượng, hình ảnh về câu
chuyện thì trẻ mới kể lại chuyện bằng trí tưởng tượng sáng tạo của mình được.
Kinh nghiệm của trẻ càng nhiều, hình ảnh biểu tượng của trẻ càng
phong phú thì tưởng tượng của trẻ càng đa dạng. Một số biện pháp dạy trẻ kể
lại chuyện nhằm bồi dưỡng tính tích cực tư duy, tính độc lập sáng tạo của trẻ.
* Ngôn ngữ
Ở trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là thời kỳ trẻ có khả năng nắm vững và lĩnh
hội hai hình thức cơ bản của ngôn ngữ đó là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ bên
trong việc nắm ngôn ngữ trong thực hành và thông hiểu được nhiều điều
người lớn nói. Đây là một đặc điểm vô cùng thuận lợi để đưa trẻ nghe kể
chuyện, trẻ lĩnh hội được ngôn ngữ trong câu chuyện. Từ đó trẻ có thể kể lại
chuyện bằng ngôn ngữ của mình.
Những câu chuyện cổ tích, thần thoại dân gian, đồng thoại đã lôi cuốn
sự yêu thích của trẻ. Vì nó đem đến cho trẻ nhiều ước mơ, nhiều tấm gương
tốt phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ của trẻ và trẻ cũng rất muốn nghe truyện,
9
nếu như lời kể của cô giáo hấp dẫn sinh động và lôi cuốn được trẻ. Bằng
những biện pháp kể diễn cảm, cô lựa chọn lời kể ngắn gọn xúc tích tác động
đến tình cảm thẩm mỹ sẽ giúp cho quá trình tiếp nhận của trẻ được tốt hơn, trẻ
tiếp nhận cũng là sự cô đọng xúc tích hơn. Trẻ có thể kể lại chuyện bằng ngôn
ngữ của trẻ chứ không phụ thuộc hoàn toàn vào ngôn ngữ của câu chuyện.
sắc thái biểu cảm.
Tất cả những đặc điểm đó gợi cho ta những liên tưởng tới khả năng kể
lại chuyện của trẻ, đặc biệt là kể lại chuyện diễn cảm.
* Chú ý - trí nhớ
Chú ý của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi chủ yếu là chú ý không chủ định. Trẻ
thường chú ý đến một đối tượng khi đối tượng gây kích thích mạnh hoặc gây
những ấn tượng, xúc cảm mới lạ nhất là tạo cho trẻ một sự hứng thú. Vì vậy
tổ chức dạy trẻ kể lại chuyện diễn cảm phải căn cứ vào đặc điểm này.
Một trong những đặc điểm của truyện viết cho thiếu nhi là các câu
chuyện có nội dung đơn giản, dễ hiểu, những chi tiết, sự kiện gần gũi với đời
sống của trẻ chú ý giáo dục những hành vi văn hóa đơn giản. Đôi khi những
câu chuyện chỉ là những lời giải thích đơn giản, dễ hiểu nhưng hết sức chính xác.
Việc kể cho trẻ nghe những câu chuyện một cách diễn cảm cho việc
phân tích và cảm nhận tác phẩm văn học một cách sinh động hơn, rõ nét và
truyền cảm hơn. Khi cho trẻ kể lại chuyện diễn cảm là để trẻ tự thể hiện mình
trước tác phẩm điều đó lôi cuốn sự chú ý - ghi nhớ của trẻ. Trẻ phải nhớ tên
các nhân vật trong truyện, nhớ tính cách của các nhân vật. Trong thực tế
chúng ta thấy rằng trẻ ghi nhớ một câu chuyện một bài thơ nào đó mà ghi nhớ
đó đi sâu vào hứng thú của trẻ thì trẻ nhớ rất lâu, ngược lại những điều mô tả
khô khan về các sự vật, hiện tượng trẻ sẽ quên ngay.
Do vậy căn cứ vào đặc điểm ghi nhớ, chú ý của trẻ thì cô giáo phải là
người tạo ra cho trẻ những hứng thú nhất là trong quá trình dạy trẻ kể lại
chuyện. Bằng sắc thái biểu cảm, bằng ngôn ngữ biểu cảm, cảm xúc của nhân
11
vật trong tác phẩm cô giáo sẽ tác động đến nhu cầu tình cảm của trẻ để kích
thích khả năng chú ý - ghi nhớ của trẻ.
Muốn thu hút được sự chú ý - ghi nhớ của trẻ thì trong quá trình tổ
hợp vơi sự ghi nhớ máy móc vốn có khiến cho đứa trẻ ở lứa tuổi này rất dễ
nhạy cảm trước những tác phẩm văn học nghệ thuật. Trẻ mẫu giáo tiếp nhận
và học thuộc rất nhanh những lời của các nhân vật trong truyện. Trẻ hòa nhập
nhanh chóng với tình cảm của nhân vật trong truyện đó là sự hòa đồng giữa
trẻ với thế giới nghệ thuật và hiện thực cuộc sống. Cho trẻ kể lại chuyện cũng
là làm giàu nhân cách của trẻ.
1.2. Cơ sở giáo dục học
1.2.1. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
Đối với trẻ mẫu giáo tuổi của sự hồn nhiên mơ ước và bắt đầu của mọi
cái đẹp. Việc giáo dục thẩm mỹ là một trong những nhiệm vụ của giáo dục
mẫu giáo nhằm góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ.
Giáo dục thẩm mỹ là quá trình tác động có hệ thống vào nhân cách của
trẻ, nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ và hiểu đúng đắn cái đẹp trong đời
sống xã hội, trong thiên nhiên, trong nghệ thuật giáo dục lòng yêu cái đẹp và
đưa cái đẹp vào đời sống một cách sáng tạo. Cái đẹp làm phong phú thêm
cuộc sống của trẻ góp phần giáo dục tính lạc quan yêu đời, có ảnh hưởng
đến việc hình thành mối quan hệ của các em với cuộc sống và những người
xung quanh.
Giáo dục thẩm mỹ giúp trẻ cảm thụ và nhận thức sâu sắc hơn những
hiện tượng của cuộc sống, giúp mở rộng thêm tầm mắt của trẻ, trau dồi cho
trẻ lòng ham hiểu biết. Ngược lại những biểu tượng của trẻ về thế giới năng
lực quan sát và xác định mối tương hỗ giữa các hiện tượng của cuộc sống,
việc ghi nhớ và tái hiện chúng sẽ làm sâu sắc hơn việc cảm thụ và xúc cảm
thẩm mỹ. Cảm xúc thẩm mỹ không những được xây dựng trên cơ sở cảm thụ
13
cái đẹp mà còn trên cơ sở hiểu biết sâu sắc nội dung tưởng tượng nghệ thuật
của tác phẩm.
hoạt động nghệ thuật
Qua quá trình kể chuyện bản thân trẻ sẽ nảy sinh mối giao cảm với các
nhân vật trong truyện. Từ nhu cầu thích thể hiện mình trẻ hòa mình vào tác
phẩm hóa thân vào các nhân vật. Để phát huy tính tích cực của trẻ cô giáo cần
chọn hình thức tiết học và ngoài tiết học, vận dụng phương pháp, biện pháp
sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ để trẻ không chỉ tham gia tiếp
nhận mà còn hòa mình vào tác phẩm. Biết đánh giá các nhân vật trong truyện
mà cao hơn trẻ còn biết rung động trước những tấm gương, những hoạt động
tốt của các nhân vật trong tác phẩm. Muốn vậy phải tổ chức cho trẻ hoạt động
chuyển vào trong để tác phẩm tác động trực tiếp lên nhân cách của trẻ, biến
thành nội dung nhân cách bền vững.
* Nguyên tắc gợi cảm thẩm mỹ
Với tiết học dạy trẻ kể lại chuyện diễn cảm cần lựa chọn cách tiến hành
tạo nên không khí của hoạt động văn chương để kích thích hứng thú, thu hút
chú ý của trẻ.
Các câu chuyện phải mang tính nghệ thuật là tính giáo dục cao. Tính
cách các nhân vật trong chuyện, phải rõ nét đặc trưng.
Tính gợi cảm thẩm mỹ còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa các
nhân vật trong truyện, trong nhịp điệu, ngữ điệu của câu văn… mà trẻ thể
hiện qua giọng kể của mình.
* Nguyên tắc vừa sức
Vừa không phải tạo ra sự phù hợp với khả năng hiện có của trẻ mà phải
hướng tới vùng phát triển gần nhất của trẻ, bằng nỗ lực đánh thức tiềm năng
của trẻ nhờ các phương pháp, biện pháp tác động tích cực trong dạy văn học.
Thực hiện nguyên tắc vừa sức đối với tiết dạy trẻ kể lại chuyện diễn
cảm cần chú ý, cô phải sử dụng biện pháp phù hợp với từng tiết học cụ thể để
gây hứng thú cho trẻ. Chú ý sử dụng các tác phẩm không quá dài, các nhân
15
Văn kể là một loại văn mà học sinh phải được luyện tập diễn đạt bằng
miệng hoặc bằng viết thành bài theo những quy tắc nhất định. Vì tính chất
phổ biến và ứng dụng rộng rãi của loại văn này nên nó trở thành loại hình cần
được rèn kĩ năng, kĩ xảo bên cạnh các loại hình văn miêu tả, văn nghị luận.
Có người hiểu đơn giản kể chuyện chỉ là kể chuyện dân gian, kể chuyện
cổ tích. Thực ra không hẳn như vậy, kể chuyện ở đây bao gồm việc kể nhiều
loại truyện khác nhau, kể cả truyện cổ và truyện hiện đại, nhằm mục đích giáo
dục, giáo dưỡng, rèn kĩ năng nhiều mặt của một con người. Sở dĩ có thể xác
định “kể chuyện” là một thuật ngữ vì nó có một kết cấu âm tiết ổn định, một
phạm trù ngữ nghĩa (còn gọi là khái niệm) nhất định. Lâu nay, thuật ngữ “kể
chuyện” vẫn được dùng với ý nghĩa kể một câu chuyện bằng lời, kể cả câu
chuyện có hình thức hoàn chỉnh, được in trên sách báo.
Kể là một hình thức hoạt động ngôn ngữ. Kể chuyện là hình thức thông
tin nhanh gọn, truyền cảm bằng ngôn ngữ. Kể chuyện là hình thức khởi đầu
của sự tích lũy tri thức khoa học, kinh nghiệm sống, nó có chức năng thông
tin. Ngôn ngữ này càng phát triển, số từ cơ bản tăng thêm, đời sống vật chất
và tinh thần trở nên phong phú thì kể chuyện không chỉ dừng ở mức độ thông
tin mà còn mang trong mình chức năng giải trí, hay cao hơn là chức năng
nghệ thuật.
Kể chuyện là một hình thức ngôn ngữ độc thoại, thuật bằng lời có logic,
có tình cảm về một sự kiện theo trình tự phát triển của nó. Khi kể chuyện, trẻ
phải tự lựa chọn ý tưởng, nội dung chuyện và hình thức ngôn ngữ, nhớ lại sự
kiện, sự vật hiện tượng từ những quan sát thế giới xung quanh theo trình tự
diễn biến sự việc trong một khoảng thời gian nhất định và diễn tả lại sự việc
đó bằng ngôn ngữ của mình. Trong khi kể chuyện trẻ lồng vào đó những suy
nghĩ, tình cảm, cảm xúc của mình - nghĩa là trẻ sử dụng ngôn ngữ bản thân để
bộc lộ những điều mà chính bản thân mình thấy, nhận biết và cảm xúc được.
17
18
chuyện là một quá trình suy nghĩ, quá trình tư duy. Từ ý tưởng của truyện, trẻ
tự xây dựng nội dung truyện sao cho người nghe có thể hiểu được. Trẻ gợi
nhớ lại những biểu tượng quen thuộc có liên quan đến câu chuyện định kể,
chọn lọc những từ ngữ phù hợp và sắp xếp chúng vào thành những cấu trúc
câu liên kết, liền mạch phù hợp với ý tưởng. Nội dung chuyện được diễn giải
theo một cấu trúc logic hợp lí. Từ những hoạch định ý tưởng đến trình bày, từ
những thao tác phân tích tổng hợp của tư duy đến việc hồi tưởng, nhớ lại
những từ ngữ của trí nhớ xảy ra ở trong óc con người, chúng được chuyển
thành những thao tác ngôn ngữ bên ngoài tạo nên lời nói. Tất cả các quá trình
tư duy, trí nhớ đó diễn ra trong mối quan hệ tương tác và liên quan chặt chẽ
với ngôn ngữ trong quá trình kể chuyện. Yếu tố cảm xúc đóng vai trò như nhu
cầu thúc đẩy và duy trì cảm hứng hoạt động, mặt khác nó phản ánh thái độ,
tâm trạng, tình cảm của cá nhân trước một sự vật, hiện tượng nào đó. Nhu cầu
này bày tỏ suy nghĩ đã kích thích các quá trình tâm lí: trí nhớ, tư duy, tưởng
tượng…hoạt động và biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ kể chuyện - ngôn
ngữ độc thoại. Vậy kể chuyện vừa là hình thức hoạt động ngôn ngữ vừa là
hình thức hoạt động tâm lí cá nhân.
1.3.2. Thuận lợi và khó khăn của việc phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt
động kể lại chuyện
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một quá trình, quá trình này diễn ra
nhanh hay chậm, tốt hay xấu phụ thuộc phần nhiều vào nhà giáo dục. Việc
giáo dục phát triển lời nói trong cuộc sống hàng ngày cho trẻ có thể thực hiện
ngay tại gia đình và nhà giáo dục lúc này có thể là bố mẹ, ông bà những người
lớn tuổi nhưng để trẻ giao tiếp với xã hội và có thể phát triển toàn diện nhất
thì cần thiết phải cho trẻ làm quen với văn học. Hướng tới việc đào tạo ra
những con người mới tự tin, sáng tạo thì việc dạy trẻ kể lại chuyện giữ một vị