SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT HUYỆN NGA SƠN
===========*0*==========
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU
GIÁO TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGA THÁI
Người thực hiện
:
Chức vụ
:
Đơn vị công tác
:
SKKN thuộc lĩnh vực:
Bùi Thị Huệ
P. Hiệu trưởng
Trường MN Nga Thái
Quản lý
THANH HOÁ, NĂM 2015
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã từng nói: “Trẻ em hôm nay,
thế giới ngày mai”. Thật vậy! trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là
tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp của cha ông để xây dựng
lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non Nga Thái.
Đó cũng chính là đề tài tôi chọn cho sáng kiến kinh nghiệm của mình.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I . CƠ SỞ LÝ LUẬN.
Ngôn ngữ là một hệ thống các ký hiệu có cấu trúc, quy tắc và ý nghĩa.
Đồng thời ngôn ngữ cũng là phương tiện để phát triển tư duy, truyền đạt và tiếp
nhận những nét đẹp của truyền thống văn hoá – lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
2
Theo nhà giáo dục học Liên xô E. L Tikhêcva đã khẳng định: “Ngôn ngữ
là công cụ để tư duy, là chìa khoá để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho
tàng kiến thức của dân tộc, của nhân loại. Do ngôn ngữ giữ vai trò vô cùng
quan trọng trong đời sống con người”.
Không chỉ có vậy, ngôn ngữ tạo nên những con người có linh hồn. Ngôn
ngữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nên tư duy, nhân cách
con người, thúc đấy quá trình tự điều chỉnh hành động chính bản thân mình.
Đối với trẻ mầm non nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng trước hết ngôn ngữ
là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức về thế giới xung quanh, là
công cụ để trẻ học tập, vui chơi. Ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các hoạt
động giáo dục khác.
Trong quá trình nhận thức những sự vật hiện tượng, trẻ phải sử dụng từ ngữ
để nhận biết, phân biệt được vật này với vật khác, biết được tên gọi, màu sắc,
hình dáng, công dụng và những thuộc tính cơ bản của sự vật, hiện tượng....
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với một số con vật nuôi trong gia đình. Trẻ sẽ
biết được tên gọi, đặc điểm hình dáng, tiếng kêu, môi trường sống, ích lợi của
chúng... nói được từ các con vật, như: “Con gà”, “Con vịt”... Ngôn ngữ không
chỉ là cầu nối để trẻ đến với thế giới của nhân loại thông qua các tác phẩm văn
thực tế số cháu ra lớp chỉ có 341 cháu (Nhà trẻ 65 cháu, mẫu giáo 276 cháu),
phần lớn các cháu không được học qua lớp Bé, Nhỡ mà vào thẳng lớp lớn nên
trong đầu năm chỉ đạo và thực hiện chuyên đề Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo trường tôi đã gặp những thuận lợi, khó khăn sau:
1. Thuận lợi:
Nhà trường được sự quan tâm của Phòng giáo dục và đào tạo Huyện Nga
Sơn, các cấp uỷ Đảng chính quyền địa phương Xã Nga Thái tạo điều kiện quan
tâm giúp đỡ xây dựng tương đối đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và
học... Bên cạnh đó nhà trường còn mua sắm bổ sung thêm tranh ảnh, tài liệu
phục vụ cho việc dạy và học, đặc biệt là nhà trường có đội ngũ giáo viên trẻ
năng động có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn (17/22 đồng chí có bằng Đại học)
nhiệt tình thực sự yêu nghề, mến trẻ tạo được niềm tin cho các bậc phụ huynh,
chính điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục
trẻ. Cho đến nay chuyên đề đã được tổng kết nhưng việc tổ chức thực hiện và
chỉ đạo chuyên đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn nhiều hạn chế, kết quả đạt
được chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu đạt ra.
2. Khó khăn:
Năm học 2014-2015 trường tôi có 276 cháu mẫu giáo nhưng số cháu đã học
qua lớp bé, nhỡ chỉ có 45/276 cháu. Do đó khả năng nghe, nói, làm quen với
việc đọc viết cũng như cách sử dụng câu từ của trẻ còn nhiều hạn chế. Trẻ
thường hay nói lắp, nói ngọng, phát âm chưa chính xác, còn lẫn lộn giữa các phụ
âm tiếng việt, chưa mạnh dạn trong giao tiếp, sử dụng chưa đúng câu từ, khả
năng chú ý của trẻ chưa tập trung, trả lời trống không, ... Bên cạnh đó một số
giáo viên chưa nắm chắc các phương pháp, biện pháp tổ chức hoạt động phát
triển ngôn ngữ cho trẻ cũng như chưa sáng tạo trong việc lồng ghép nội dung
này vào các hoạt động và thời điểm trong ngày, mọi lúc mọi nơi. Mặt khác một
số phụ huynh chưa ý thức được vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ theo hướng
chuẩn cho con em mình.
3. Kết quả thực trạng:
Từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng và
78.6
3
21.4
14
12
85.7
2
14.3
Chưa
đạt
Tỷ lệ
(%)
4
Biết lồng tích hợp các hoạt
động phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo.
Giáo viên tham gia việc tìm
cháu
Đạt
Tỷ
lệ
( %)
Chưa
đạt
276
221
80.1
55
19.9
276
219
79.3
57
20.7
75.7
67
24.3
276
205
74.3
71
25.7
* Thực trạng đối với học sinh:
STT
Nội dung
1
Khả năng nghe, hiểu lời nói
trong giao tiếp hàng ngày.
Trả lời chính xác các câu hỏi
khi đàm thoại.
Nghe hiểu nội dung các câu
truyện các bài thơ, ca dao,
III. CÁC GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
Qua quá trình tổ chức thực hiện chuyên đề nâng cao chất lượng phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo tôi đã có một số giải pháp tổ chức thực hiện mang lại
kết quả khá khả thi như sau:
1. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
Tuy đã được tổng kết nhưng vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng
quan trọng và cần thiết. Nó là chìa khóa của tri thức, ngôn ngữ của trẻ phát triển
sẽ tạo nền tảng cho ngôn ngữ về sau cũng như trong suốt cuộc đời đứa trẻ. Việc
phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp cho trẻ dễ dàng tiếp cận với
các môn học khác: Tạo hình, âm nhạc, toán…Vì vậy chuyên đề này luôn được
nâng cao cả về kiến thức và thực hành cho cán bộ, giáo viên trong nhà trường và
coi đây là chuyên đề trọng tâm cho năm học.
5
Để chỉ đạo thực hiện tốt chuyên đề ngay từ đầu năm học, Ban giám hiệu
nhà trường đã xây dựng kế hoạch một cách cụ thể, xác thực với điều kiện thực tế
của nhà trường cũng như của địa phương. Sau khi xây dựng kế hoạch xong tôi
đã đưa ra tập thể hội đồng sư phạm nhà trường bàn bạc, bổ sung thống nhất
khẳng định mục tiêu, giải pháp thực hiện. Từ kế hoạch của nhà trường từng cán
bộ giáo viên xây dựng kế hoạch cho cá nhân: Trong đó phải xác định rõ mục
tiêu, nội dung, biện pháp, dự kiến thời gian thực hiện cụ thể cho năm học, cho
từng chủ đề lớn, mạng nội dung, mạng hoạt động, kế hoạch tuần, kế hoạch ngày
cũng như nội dung lồng ghép giáo dục ngôn ngữ, làm đồ dùng, bổ sung trang
thiết bị cho từng chủ đề, tuần phù hợp với từng chủ đề cụ thể trên cơ sở chỉ đạo
của Sở, Phòng giáo dục đã triển khai. Từ đó nhà trường có kế hoạch kiểm tra các
lớp thực hiện nội dung đã đề ra.
* Kết quả: Đã có 8/8 lớp mẫu giáo xây dựng được kế hoạch thực hiện
chuyên đề và đây cũng là tiêu chí đánh xếp loại thi đua giáo viên trong năm.
+ Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục mầm non các độ tuổi.
+ Một số tạp chí giáo dục mầm non các số: Số 3- 2003; Số 3, 4-2006; Số
2- 2008; Số 3- 2009. Hướng dẫn một số trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo. Một số bài ca dao, đồng giao, hướng dẫn cách làm đồ dùng, đồ chơi tự
tạo...
* Tổ chức các buổi thao giảng, kiểm tra các hoạt động của nhà giáo, kiểm
tra toàn diện, dự giờ đột xuất giáo viên để kịp thời uốn nắn, bổ sung những hạn
chế tồn tại. Trước khi đi dự giờ, kiểm tra hàng năm vào đầu năm học nhà trường
chỉ đạo giáo viên giỏi, có nhiều kinh nghiệm dạy tiết mẫu, làm đồ dùng, đồ chơi
để giáo viên học hỏi, rút kinh nghiệm sau đó mới đi dự giờ, kiểm tra toàn diện,
kiểm tra các hoạt động của nhà giáo theo qui định để điều chỉnh kịp thời.
* Bên cạnh đó nhà trường còn đầu tư chỉ đạo lớp điểm thực hiện góc mở
tạo môi trường chữ viết cho các lớp học tập.
Đối với trẻ mẫu giáo, môi trường là một vấn đề hết sức quan trọng nhằm
kích thích cho trẻ hứng thú tham gia hoạt động. Vì thế tôi đã chỉ đạo giáo viên
xây dựng điểm tại lớp đồng chí Phạm Thị Nụ theo phương pháp Động – Tĩnh
với hình ảnh ngộ nghĩnh, màu sắc phong phú nội dung phù hợp với từng chủ đề,
trong mỗi góc, dưới mỗi hình ảnh đều có chữ viết kèm theo. Việc trang trí lớp
vừa làm đẹp cho phòng học vừa tạo cho trẻ có điều kiện quan sát, nhận xét tranh
ảnh được làm quen với chữ viết ở trong tranh.
+ Góc học sách truyện: Hình ảnh trang trí là một “Quyển Sách” được trang
trí rất đẹp với tên gọi rất đáng yêu theo từng chủ đề.
Ví dụ: Chủ đề Thế giới thực vật. Tôi đặt tên cho góc là “Thư viện của các
loài hoa quả” Bên trong góc này tôi chỉ đạo giáo viên tìm kiếm, sưu tầm, trưng
bày các loại tranh truyện chữ to, thơ chữ to, các bài ca dao, đồng giao, truyện kể
sáng tạo, truyện cổ tích, truyện dân gian Việt Nam và một số tranh ảnh, tạp chí
khác phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của trẻ. Khi cho trẻ xem tranh tôi đề nghị
giáo viên hướng dẫn cho trẻ đọc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, giáo viên
lớp: Mỗi cây cối, đồ vật đều được gắn các từ riêng: Cây đa, cây vú sữa, cây
8
phượng, thùng đựng rác… tạo môi trường chữ có kèm hình ảnh không những
cho trẻ hiểu biết về thế giới xung quanh mà còn cung cấp được vốn từ, cho trẻ
một cách nhanh nhất cụ thể nhất.
( Hình ảnh: Xây dựng môi trường ngoài lớp phát triển ngôn ngữ cho trẻ )
Ngoài việc tổ chức xây dựng lớp điểm, môi trường điểm. Nhà trường còn tổ
chức nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ qua các buổi sinh hoạt chuyên
môn, tham quan thực tế các trường bạn. qua các hình thức trên sẽ giúp giáo viên
nắm chắc những mục tiêu, nội dung, Thông phương pháp tổ chức thực hiện phát
triển ngôn ngữ đến trẻ một cách có hiệu quả.
* Kết quả:
- 100% giáo viên nắm vững nội dung, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ và biết vận dụng nội dung của chuyên đề vào giảng dạy một cách linh hoạt.
- 8/8 lớp mẫu giáo xây dựng được môi trường chữ viết.
- 100% cán bộ giáo viên tham gia sưu tầm các bài hát, bài thơ, ca dao, đồng
dao, làm bổ sung đồ dùng đồ chơi phục vụ các chủ đề.
3. Chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là đưa đến cho trẻ một chân trời
mới của nghệ thuật văn chương. Với trẻ mầm non văn học nói về thế giới cỏ cây
hoa lá, mọi hiện tượng thiên nhiên vũ trụ... thông qua đó giúp trẻ nhận biêt các
mối quan hệ biểu hiện giữa hoàn cảnh, trạng thái tình huống và nhân vật. Thông
qua giao tiếp hàng ngày, qua các bài thơ, câu chuyện, các bài ca dao, đồng dao,
các trò chơi dân gian, làm quen với việc đọc viết... sẽ làm cho vốn từ của trẻ
phát triển, mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh... Vậy làm thế nào để giúp
trẻ phát triển ngôn ngữ một tốt nhất? Thực hiện vấn đề này tôi đã chỉ đạo giáo
+ Khi nghe báo tin mẹ bị ốm, Chị Út làm gì?
Với những trẻ khá hơn tôi đã chỉ đạo giáo viên nâng cao mức độ, sử dụng
nhiều câu hỏi mở nhằm giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, sáng tạo.
+ Bà mẹ nhờ Sóc mang thư, theo con có cách nào khác báo tin cho các con
của bà không?
+ Khi bà ốm thì bà mong muốn điều gì?
+ Chị Cả và Chị Hai đã trả lời như thế nào mà làm Sóc con dận giữ Biến
thành nhện và rùa?
+ So với Chị Cả và Chị Hai chị Út có đức tính gì tốt?
+ Nếu cả 3 chị đều về thăm mẹ thì mẹ sẽ như thế nào?
+ Các con sẽ làm gì nếu mẹ mình bị ốm?
Ngoài ra tôi còn giúp giáo viên sử dụng các câu hỏi đòi hỏi trẻ phải sử
dụng nhiều mẫu câu để trả lời như: Hành động nào con biết Chị Út rất thương
mẹ? Trong 3 người con, con thích chị nào nhất? Vì sao? con có thể thay đoạn
kết câu chuyện như thế nào? Con có thể đặt tên khác cho câu chuyện là gì?.
Từ khâu xác định giọng kể, chuẩn bị đồ dùng trực quan, giáo án… đến hệ
thống câu hỏi đàm thoại đến hình thức tạo hứng thú bằng các cách khác nhau:
Hội thi, trò chuyện, câu đố… với những hình ảnh đẹp, ngộ nghĩnh sáng tạo ứng
dụng vào công nghệ thông tin để trẻ hoà nhập vào hoá thân vào trong các tác
phẩm truyện kể. Với những hình ảnh sinh động hấp dẫn kèm theo giọng kể rõ
ràng mạch lạc của giáo viên sẽ giúp trẻ chăm chú xem, lắng nghe, trẻ sẽ chủ
10
động nắm bắt được nội dung câu chuyện. Giáo viên làm tốt các hình thức này
chắc chắn trẻ sẽ giúp trẻ cảm thụ truyện một cách tích cực hơn, trẻ nhớ nội dung
câu chuyện lâu hơn và khi cho trẻ đóng kịch trẻ sẽ tái tạo tính cách của nhân vật
tự nhiên hơn và đặc biệt khi trẻ trả lời các câu hỏi sẽ giúp cho ngôn ngữ của trẻ
phát triển hơn.
Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với câu chuyện: “Cáo thỏ và gà trống” Tôi đã
Em dán được /cái hoa/
Cô cho/ mang về nhà/
Nói rằng/ con tặng mẹ/
Quà ngày tết/ tháng ba/.
Khi dạy bài thơ này giáo viên phải dạy trẻ ngắt nhịp 3/2 đối với dòng 1 và
dòng 4. Nhịp 2/3 đối với dòng 2 và dòng 3. Cả bốn dòng thơ này chỉ có một câu
11
loại ngắt dòng, nên tôi hướng dẫn giáo viên khi dạy trẻ nghỉ hơi ít ở mỗi nhịp,
đến chỗ có dấu chấm câu nghỉ dài hơn.
Với bài thơ: “Trăng ơi từ đâu đến” đây là bài thơ hay, có tác dụng luyện
âm cho trẻ. Giáo viên cần hướng dẫn cho trẻ nhấn vào các câu, các từ mang hình
ảnh so sánh “Trăng hồng như quả chín”, “Trăng bay như quả bóng”, “Trăng
tròn như mắt cá”, biết đọc chậm rãi, biểu lộ sự băn khoăn, tự hỏi ở các câu:
“Trăng ơi từ đâu đến?
Hay từ một sân chơi ...”
Hay với câu thơ
“Hoa cà tim tím
Hoa mướp vàng vàng
Hoa lựu chói chang
Đỏ như đốm lửa.”
Để trẻ biết được màu sắc của các loài hoa thì giáo viên cần nhấn mạnh vào
các từ: “Tim tím”, “ vàng vàng”, “chói chang”, “ đốm lửa”.
Với các thanh hỏi, ngã, và các âm tr, ch, s, x. Trong bài “Chú giải phóng
quân”
Chú là chú em
Chú đi tuyền tuyến nửa đêm chú về
Ba lô con cóc to bè
Mũ tai bèo bẻ vành xoè trên vai
với trò chơi dân gian vì thế tổ chức thường xuyên cho trẻ được tiếp xúc thông
qua các nội dung này sẽ làm cho vốn từ của trẻ được tăng nhanh, đặc biệt là
ngôn ngữ mạch lạc.
Ví dụ: Trong giờ đón trả trẻ tôi đã chỉ đạo cho giáo viên cho trẻ nghe và
đọc các bài ca dao mang tính giáo dục cao như: “ Công cha như núi thái sơn”,
“Bà còng”... Nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ khi đọc và giáo dục trẻ lòng biết
ơn sâu sắc tới ông bà, cha mẹ.
Hay trước giờ ăn giáo viên có thể cho trẻ đọc bài ca dao “Cái bống cái
bang”. Với hoạt động góc chủ đề: Các hiện tượng tự nhiên cho trẻ đọc bài ca
dao : “Tưới rau”
Các trò chơi dân gian mà tôi chỉ đạo giáo viên thường tổ chức đó là: “Nu
na nu nống”, “Kéo cưa lừa xẻ”, “ Lộn cầu vồng”, “Rồng rắn lên mây”, “Chi
chi chành chành”, “Dung dăng dung dẻ”, “Mèo đuổi chuột”...
(Hình ảnh: Trẻ chơi trò chơi dân gian tại trường mầm non Nga Thái)
Bên cạnh đó tôi còn phát động, khuyến khích chị em giáo viên tìm kiếm,
sưu tầm và đặt lời mới cung cấp thêm về thế giới xung quanh, phát triển ngôn
ngữ thoả mãn nhu cầu của trẻ qua các chủ đề.
3.3. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi đóng kịch.
Trò chơi đóng kịch được coi là một hoạt động vui chơi đặc biệt của trẻ mẫu
giáo. Trò chơi đóng kịch không chỉ là phương tiện để phát triển năng lực sáng
tạo, giáo dục thẩm mỹ giúp trẻ phát triển toàn diện, bồi dưỡng cho trẻ lòng nhân
ái, những đức tính tốt đẹp mà còn phát huy ngôn ngữ mạch lạc, hình thành khả
năng ghi nhớ có chủ đích, tạo cơ hội cho trẻ có khả năng hoạt động nghệ thuật
ngay từ lứa tuổi mầm non. Chính vì vậy nên tôi đã chỉ đạo giáo viên hướng dẫn
trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi đóng kịch các tác phẩm văn học. Đây cũng là một hình
thức giúp trẻ dẽ dàng tiếp nhận từ ngôn ngữ viết sang ngôn ngữ kể. Vì ở lứa tuổi
13
kịch các nhân vật độc thoại khá nhiều.
Hay với chuyện “Tấm cám” đây là câu chuyện khá dài có nhiều chi tiết thì
giáo viên có thể bỏ bớt một vài chi tiết phụ điều đó cũng không ảnh hưởng nhiều
đến nội dung, diễn biến của kịch bản.
Khi xác định tính cách nhân vật. Trong câu chuyện “Quả bầu tiên”
+ Cậu bé: Hiền lành tốt bụng, yêu qúi chăm sóc bảo vệ các loài động vật.
+ Lão địa chủ tham lam độc ác.
- Xác định tính chất ngôn ngữ của nhân vật.
Ví dụ: Trong câu chuyện “Chú dê đen” truyện kể mở đầu có đoạn: “Có
một chú dê trắng đi vào rừng kiếm lá non để ăn, nước suối mát để uống...”
Nhưng khi chuyển thể sang kịch bản giáo viên có thể chuyển thành “Ôi mùa
xuân tươi đẹp đã về mình phải đi vào rừng kiếm lá non để ăn và nước suối mát
để uống mới được...” Như vậy khi xem người nghe có thể nhận ra đây là lời độc
thoại của nhân vật với khán giả.
14
* Rèn luyện kỹ năng thể hiện ngôn ngữ và hành động của nhân vật cho
trẻ.
Muốn giúp trẻ nắm được vai diễn của mình tôi đã chỉ đạo giáo viên tạo điều
kiện thật tốt cho trẻ hiểu tác phẩm, hiểu về vai mình đóng, đồng thời cho trẻ
luyện tập vai diễn của mình. Ngôn ngữ của nhân vật phải ngắn gọn, đủ ý, dễ
hiểu, chuyển tải đủ nội dung. Câu đối thoại phải có đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ, rõ
ràng mạch lạc, cần loại bỏ những từ ngữ không phù hợp nhưng vẫn không làm
thay đổi ngữ điệu và tính cách nhân vật.
- Khi hướng dẫn trẻ đóng kịch cần chú ý sửa sai cho những trẻ nói ngọng,
nói lắp, trẻ nói tiếng địa phương…
- Luyện cho trẻ cách thể hiện ngữ điệu, giọng điệu của các nhân vật. Cần
nhấn mạnh vào các từ cần nhấn mạnh trong các câu nói của nhân vật.
Ví dụ: Câu nói của lão địa chủ trong truyện “Quả bầu tiên” trong đoạn thả
- Sau đó cô kể lại hoặc gợi ý cho trẻ kể lại từng phần như: Hãy nhớ lại xem
cô đã nói gì về đồ chơi yêu thích của mình? Nhớ lại xem cô đã kể gì về đồ chơi
yêu thích đó? Cô hướng dẫn trẻ cách kể: Khi bắt đầu kể hãy cố gắng kể tỷ mỉ về
đồ chơi (Tên đồ chơi, đồ chơi đó như thế nào, sau đó hãy nói xem cháu chơi với
đồ chơi đó như thế nào?). Nhắc trẻ suy nghĩ nhớ lại để kể về đồ chơi yêu thích
của mình.
- Cho trẻ kể, cô và cả lớp theo dõi, giúp đỡ trẻ, khuyến khích trẻ kể.
Ví dụ: Đồ chơi của Bảo Khanh là gì? Con hãy bắt đầu câu chuyện của
mình đi, cả lớp chuẩn bị nghe bạn kể nhé...
- Đưa ra những câu hỏi trong những trường hợp cần thiết. Tên đồ chơi? Đồ
chơi có màu gì? Khi chơi con chơi như thế nào? Con đã làm gì với đồ chơi ấy?
Cuối cùng giáo viên nhận xét, đánh giá tỷ mỉ câu chuyện của trẻ nhằm
hướng dẫn cả lớp.
Hay ở một số chủ đề khác như: “Một cuộc dạo chơi trong sân trường”,
“Một loại cây mà cháu yêu thích”, “Những công việc cháu làm ở nhà giúp đỡ
bố mẹ”.
Tôi đã chỉ đạo cho giáo viên cho trẻ quan sát tranh, xem bức tranh nói về
chủ đề gì? mục đích giúp trẻ nhận biết nội dung và hướng tới bức tranh đó.
Thông qua các bức tranh, trẻ thấy được mối quan hệ giữa các nhân vật trong đó,
lời kể của cô giáo cũng được các cháu học tập kể theo.
Ví dụ: Khi kể chuyện theo tranh có chủ đề: “Người thân yêu nhất trong
gia đình” Đầu tiên cô cho trẻ xem tranh về mẹ. Sau khi trao đổi về chủ đề, cô kể
“Trong gia đình, người mà Bảo Khanh yêu qúi nhất đó là mẹ. Mẹ Bảo Khanh
cao, tóc dài, da trắng. Mẹ rất yêu quý Bảo Khanh...”
Chỉ đạo giáo viên khi kể mẫu cô cùng trẻ trao đổi, gợi nhớ về chủ đề trong
tranh và câu chuyện cô vừa kể bằng hệ thống câu hỏi đàm thoại để trẻ khắc sâu
nhân vật và nội dung của chủ đề cần kể.
Ví dụ: + Cô có bức tranh mang chủ đề gì?
+ Trong bức tranh có những ai?
+ Trong gia đình người mà bạn Bảo Khanh yêu quý nhất là ai?
thoại thì chắc chắn trẻ chỉ biết rằng đó là những hình ảnh đơn điệu: Hạt – hạt
nảy mầm - cây non - cây trưởng thành – cây ra hoa – cây kết quả. Vì vậy cần có
sự trao đổi giữa cô và trẻ kết hợp với hệ thống câu hỏi đàm thoại sẽ giúp trẻ tri
giác một cách cụ thể hơn, chính xác hơn đặc biệt là trẻ biết được mối quan hệ
của chúng với môi trường và con người cũng như phát triển vốn từ cho trẻ: “
Hạt”, “ Hạt nảy mầm”...
Hay với đề tài: Cho trẻ tìm hiểu về một số loại quả, loài hoa...
Trẻ sẽ nhận biết được tên gọi, đặc điểm, màu sắc, hình dáng, kích thước,
mùi vị của từng loại quả mối quan hệ của chúng với sự vật xung quanh. Trẻ
được nói đi nói lại nhiều lần các từ khi được làm quen, trẻ được tự mình nói lên
những cảm nhận của trẻ về các loại hoa, quả..., giúp trẻ hiểu một cách chính xác
về ngôn ngữ tiếng Việt.
* Với hoạt động ngoài trời.
Để giúp trẻ hiểu các từ khái niệm. Có thể sử dụng các tình huống có thật
khi cho trẻ đi dạo chơi, thăm quan.
Ví dụ: Thăm vườn cây ăn quả. Cô đặt câu hỏi và trao đổi với trẻ: Cây nhãn
nào cao nhất? Có mấy cây ổi? Trong vườn có những loại cây gì? ...
17
* Với hoạt động góc.
Trong quá trình tổ chức chơi ở các góc tôi đã gợi ý, trao đổi cùng giáo viên
để đưa ra biện pháp phát triển ngôn ngữ cho phù hợp. Tập cho các cháu giao
tiếp, trao đổi với nhau, để chọn món, chọn thực phẩm và biết trong đó giàu chất
gì?...
Ví dụ: Ở góc thư viện tôi cùng giáo viên hướng dẫn trẻ làm album trong đó
ghi những câu ca dao tục ngữ mà trẻ đã biết. Ngoài ra chúng tôi còn viết tiếp ở
trong đó những câu ca dao, tục ngữ, câu chuyện, bài thơ mới. Từng trẻ có thể
mang album về nhà, những câu ca dao, tục ngữ, câu chuyện, bài thơ mới sẽ được
cha mẹ viết tiếp hoặc vẽ những bức tranh theo những câu ca dao, tục ngữ...ấy.
hoạt động khác, mọi lúc mọi lúc, mọi nơi.
- 100% giáo viên phát âm chuẩn các âm tiếng Việt.
- 96 % trẻ hứng thú tham gia tích cực vào các hoạt động.
18
- 100% Trẻ 5 tuổi nắm chắc 29 chữ cái, không nói ngọng, nói lắp.
5. Chỉ đạo giáo viên phối kết hợp với phụ huynh nhằm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ.
Công tác phối hợp với phụ huynh là đặc biệt quan trọng vì thế để giáo viên
có kỹ năng tuyên truyền, trình bầy chuyển tải nội dung chuyên đề đến phụ
huynh một cách tự tin, lưu loát, thuyết phục làm cho phụ huynh hiểu vấn đề tôi
đã hướng dẫn giáo viên soạn thảo nội dung tuyên truyền sao cho thiết thực, phù
hợp với nhận thức của từng phụ huynh. Muốn làm được điều đó giáo viên phải
vững vàng lập trường quan điểm, nắm vững vấn đề cần truyền đạt, để có thể giải
đáp những thắc mắc của phụ huynh. Đồng thời phải luôn lắng nghe, tiếp thu ý
kiến đóng góp của phụ huynh có như thế mới tạo được lòng tin đối họ để họ có
thái độ hợp tác trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ.
- Tổ chức cho phụ huynh nghe báo cáo và toạ đàm và chuyên đề. Giới thiệu
chương trình “Làm quen với văn học” và các môn học khác đối với các lớp
mẫu giáo. Cho phụ huynh hiểu. Phát tài liệu về các nội dung phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo. Giới thiệu cách thức dạy trẻ ở lớp mẫu giáo mà giáo viên
thường sử dụng.
- Các biện pháp tạo môi trường văn học cho trẻ.
- Vận động phụ huynh tìm kiếm, sưu tầm các bài hát, bài thơ, ca dao đồng
dao cho trẻ mầm non. Ủng hộ về vật chất để mua sắm trang thiết bị dạy học...
- Hàng ngày vào những giờ đón trả trẻ. Nhà trường thường mở đĩa VCD
các bài hát, các bài thơ câu chuyện... có nội dung giáo dục phù hợp với đặc điểm
của trẻ, phù hợp chủ đề. Để phụ huynh hiểu và hợp tác trong việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ.
1
Giáo viên nắm chắc kiến thức
phát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo
Tổ chức các hoạt động có hiệu
quả phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo
Biết lồng tích hợp các hoạt
động phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo.
Giáo viên tham gia việc tìm
kiếm, sưu tầm các loại truyện,
thơ, ca dao, đồng dao
2
3
4
Tổng
số
GV
Đạt
Tỷ
lệ
( %)
14
0
0
269
Tỷ lệ
( %)
97.5
Chưa
đạt
7
Tỷ lệ
(%)
2.5
261
94.6
15
5.4
265
96
97.8
6
2.2
Chưa
đạt
Tỷ lệ
(%)
[
14
14
* Kết quả khảo sát đối với học sinh:
STT
1
2
3
4
5
6
7
Qua quá trình nghiên cứu chuyên đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo.
Để thực hiện tốt chuyên đề có hiệu quả thì yêu cầu đặt ra đối với Ban giám hiệu
cần phải có kế họach cụ thể, rõ ràng, triển khai chuyên đề đến từng giáo viên
20
một cách có hiệu quả thông qua đó giáo viên nắm chắc mục đích yêu cầu, nội
dung của chuyên đề để từ đó có phương pháp, biện pháp tổ chức đồng loạt, thiết
thực. Đây là một trong những mục tiêu quan trọng không thể thiếu trong chương
trình giáo dục trẻ mầm non, đăc biệt là trẻ mẫu giáo, nó luôn là mục tiêu hàng
đầu được phát triển và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Vì vậy để thực hiện tốt nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ đòi hỏi chúng
ta những nhà giáo dục phải kiên trì, sáng tạo, không thể lập trên một mặt trận
chung chung mà nó phải được xác định một cách có kế hoạch, có mục đích và
được tổ chức ở mọi hoạt động, mọi thời điểm, mọi lúc mọi nơi và phải có sự
phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và toàn xã hội. Thực hiện tốt
chuyên đề này, chúng ta đã góp một phần không nhỏ trong việc giữ gìn, bảo vệ
và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc Việt Nam, cũng chính là thực hiện lời
dạy của Bác Hồ “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu dài, vô cùng quý báu
của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó”.
* ĐỀ XUẤT:
Qua quá trình chỉ đạo thực hiện mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu
giáo trong chương trình giáo dục mầm non mới hiện nay chúng tôi những người
trực tiếp chỉ đạo giảng dạy ở những nơi có hoàn cảch khó khăn, phụ huynh chưa
thực sự quan tâm đến vấn đề học tập của các cháu. Để giúp trẻ phát triển một
cách toàn diện cũng như giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Rất mong các cấp lãnh
đạo quan tâm nhiều hơn nữa trong việc bổ sung trang thiết bị, đồ dùng dạy học,
đồ dùng trực quan nhằm giúp trẻ có thêm hứng thú, chủ động tham gia hoạt
động và tăng khả năng phát triển ngôn ngữ cho trẻ.