Một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ 5 6 tuổi qua trò chơi học tập hình thành biểu tượng toán học (2014) - Pdf 48

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

======
LÊ THỊ HẠNH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO
TRẺ 5 – 6 TUỔI QUA TRÕ CHƠI
HỌC TẬP HÌNH THÀNH
BIỂU TƢỢNG TOÁN HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành:Phương pháp hình thành biểu tượng Toán học
sơ đẳng cho trẻ Mầm non

Hà Nội, 2014


LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáo trong
khoa Giáo dục Tiểu học, trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập tại trƣờng.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo,
Th.S. Nguyễn Văn Đệ - ngƣời đã tận tình hƣớng dẫn, động viên và giúp đỡ
em trong suốt quá trình làm khóa luận.
Xin đƣợc cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban Giám Hiệu, các cô giáo
trƣờng mầm non Hùng Vƣơng – Phúc Yên – Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện cho
em điều tra, khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến phạm vi nghiên
cứu của đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế. Kính mong nhận đƣợc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các


: TCHT

Mối quan hệ

: MQH


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
NỘI DUNG ....................................................................................................... 5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN........................................................................... 5
1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NHẬN THỨC CỦA TRẺ 5-6 TUỔI VỀ CÁC
BIỂU TƢỢNG TOÁN HỌC SƠ ĐẲNG .......................................................... 5
1.1.1. Đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi về tập hợp - số và phép đếm......... 5
1.1.2. Đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi về kích thƣớc ................................ 6
1.1.3. Đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi về hình dạng ................................. 6
1.1.4. Đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi về định hƣớng trong không gian .. 7
1.2. TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC VÀ NHỮNG CƠ SỞ SƢ PHẠM CỦA
VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO TRẺ 5-6 TUỔI .. 8
1.2.1. Khái niệm tính tích cực nhận thức .......................................................... 8
1.2.1.1. Tính tích cực là gì? ............................................................................... 8
1.2.1.2. Tính tích cực nhận thức là gì? .............................................................. 8
1.2.2. Phân loại tính tích cực nhận thức .......................................................... 10
1.2.3. Tính tích cực nhận thức của trẻ mẫu giáo ............................................. 11
1.3. TRÒ CHƠI HỌC TẬP VÀ SỰ HÌNH THÀNH BIỂU TƢỢNG TOÁN
HỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI ............................................................................. 12
1.3.1. Khái niệm trò chơi học tập .................................................................... 12
1.3.2. Vai trò của hoạt động vui chơi trong sự phát triển và giáo dục trẻ mẫu
giáo .................................................................................................................. 15

HÌNH THÀNH BIỂU TƢỢNG TOÁN .......................................................... 41
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 45
PHỤ LỤC ........................................................................................................ 46


MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giáo dục trí tuệ cho trẻ mẫu giáo là một trong những nhiệm vụ quan
trọng trong quá trình giáo dục ở trƣờng mầm non. Trong quá trình đó, việc
hình thành và phát triển tính tích cực nhận thức (TTCNT) cho trẻ không chỉ là
một trong những nhiệm vụ quan trọng mà còn là vấn đề chủ yếu của giáo dục
trí tuệ.
TTCNT biểu hiện tính năng động, chủ động, độc lập linh hoạt, sáng tạo
trong nhận thức đây là yếu tố cơ bản giúp con ngƣời thành công ở nhiều lĩnh
vực khác nhau, đặc biệt là trong hoạt động học tập. Trong sự nghiệp đổi mới
ở nƣớc ta hiện nay việc phát huy TTCNT của ngƣời học đƣợc xem là tƣ tƣởng
chủ đạo trong đổi mới phƣơng pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục
ở tất cả các cấp học và bậc học. Nó có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao
kết quả học tập của ngƣời học và là một trong những yêu cầu quan trọng
trong việc hình thành các phẩm chất nhân cách của con ngƣời.
“Học mà chơi, chơi mà học” đó là nét học tập đặc trƣng của trẻ mẫu
giáo. Hoạt động chơi quyết định sự hình thành phát triển tâm lý và nhân cách
trẻ, qua trò chơi trẻ rèn luyện tính độc lập của mình. Tính sáng tạo của trẻ
cũng đƣợc thể hiện rõ trong hoạt động chơi. Việc sử dụng trò chơi học tập
hình thành biểu tƣợng toán học sơ đẳng về toán giúp trẻ tiếp cận nhiệm vụ
học tập nhƣ nhiệm vụ chơi mà vẫn nắm vững đƣợc các kiến thức toán học và
các mối quan hệ toán học một cách tích cực, linh hoạt và sáng tạo nhƣng vẫn
thoải mái, nhẹ nhàng.
TCHT là môi trƣờng thuận lợi để TTCNT của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi

- Xây dựng một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ
5-6 tuổi qua trò chơi học tập hình thành biểu tƣợng toán.
4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

2


Một số biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi qua
trò chơi học tập hình thành biểu tƣợng toán.
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu và xây dựng các biện pháp phát huy tính tích cực
nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi học tập trong các hoạt động chung cho
trẻ làm quen với toán.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến tính tích
cực nhận thức của trẻ trong trò chơi học tập nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho
đề tài.
6.2. Phƣơng pháp điều tra quan sát
- Điều tra nhận thức và thái độ của giáo viên mầm non về vấn đề phát
huy TTCNT cho trẻ 5-6 tuổi qua TCHT hình thành biểu tƣợng toán học.
- Quan sát các biện pháp mà giáo viên mầm non đã sử dụng để phát
huy TTCNT cho trẻ qua TCHT.
- Quan sát biểu hiện tính tích cực nhận thức của trẻ qua trò chơi học tập
hình thành biểu tƣợng toán học.
6.3. Phƣơng pháp thực hành sƣ phạm
Thực hành nhằm kiểm nghiệm tính khả thi của các biện pháp phát huy
tính tích cực nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi qua trò chơi học tập hình thành biểu
tƣợng toán học.
6.4. Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm

phép đếm và kết quả của phép đếm.
Kỹ năng đếm của trẻ ngày càng thuần thục: Không chỉ đếm đúng số
lƣợng các nhóm vật mà cả số lƣợng âm thanh, động tác; không chỉ đếm từng
vật riêng lẻ mà còn đếm từng nhóm vật. Hơn nữa dƣới tác động của dạy học,
trẻ không những đếm xuôi mà còn có khả năng đếm ngƣợc trong phạm vi 10.
Việc cho trẻ làm quen với các con số có tác dụng phát triển tƣ duy trừu tƣợng
cho trẻ.
Động tác tay của trẻ hoàn thiện hơn, trẻ có khả năng cầm nắm các vật
bằng các đầu ngón tay. Ngôn ngữ phát triển, vốn từ vựng tăng giúp trẻ có khả
năng hiểu, trả lời đƣợc các câu hỏi: “bao nhiêu? thứ mấy? cái gì?” và diễn tả
đƣợc kết quả của việc mình đã làm.

5


Đặc biệt trẻ có khả năng giải các bài toán đơn giản trên các tập hợp cụ
thể.
1.1.2. Đặc điểm nhận thức của trẻ 5-6 tuổi về kích thƣớc
Trẻ có khả năng phân biệt 3 chiều kích thƣớc (chiều dài, chiều rộng,
chiều cao hay bề dày) của vật. Trẻ đã biết chỉ tay theo chiều dài, chiều rộng
hay chiều cao của đồ vật. Đối với các hình khối có chiều cao thấp trẻ 4-5 tuổi
cho rằng không có chiều cao thì trẻ 5-6 tuổi đã hiểu đƣợc đó là bề dày của đồ
vật và trẻ có thêm biểu tƣợng dày - mỏng.
Trẻ có khả năng dùng thƣớc đo để đánh giá kích thƣớc của vật. Tuy
nhiên phƣơng tiện đo không chính xác chỉ là “que tính”, “băng giấy”… nên
trẻ chƣa phân biệt đƣợc công cụ đo với đơn vị đo mà con ngƣời sử dụng.
Trẻ hiểu đƣợc mối quan hệ phụ thuộc giữa độ lớn của thƣớc đo với số
đo kích thƣớc của vật: “độ lớn” của thƣớc càng nhỏ thì số đo kích thƣớc vật
thể càng lớn.
Đặc biệt dƣới tác động của dạy học, trẻ bắt đầu biết sắp xếp 3 vật thành

rạc. Mỗi hƣớng chính diện còn có cả các khu vực lân cận nối các vùng với
nhau. Vì vậy trẻ 5-6 tuổi đã biết phân chia không gian thành từng cặp theo 2
vùng đối xứng nhau (trên – dƣới, trƣớc – sau, phải – trái). Mỗi vùng lại đƣợc
chia làm 2 khu vực (2 hƣớng). Ví dụ: Trong vùng phía phải đƣợc chia làm 2
khu vực: Bên phải về phía trên và bên phải về phía dƣới. Hay phía trƣớc về
bên phải và phía sau về bên trái. Lúc này đứa trẻ đƣợc coi là điểm trung tâm
(gốc tọa độ). Nhƣ vậy trẻ 5-6 tuổi đã phân biệt đƣợc các vùng không gian
khác nhau và các phần trong mỗi vùng đó.
Khi xác định sự xếp đặt của các vật thể trong không gian trẻ dần dần
thấy rằng các vật xung quanh nó đều có tọa độ riêng. Việc xác định vị trí của
một vật nào đó chỉ có tính chất tƣơng đối. Khi gốc tọa độ thay đổi thì vị trí
của vật cũng thay đổi.

7


Việc định hƣớng trong không gian trên bản thân trẻ, từ trẻ và từ vật đã
chuyển dần từ chỗ trẻ dùng hệ tọa độ có điểm gốc cố định (là bản thân trẻ)
đến việc dùng hệ tọa độ có điểm gốc dịch chuyển tự do. Việc định hƣớng
trong không gian trên bản thân trẻ là sự mở đầu quan trọng, là cơ sở để trẻ
định hƣớng không gian cho các đối tƣợng khác.
1.2. TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC VÀ NHỮNG CƠ SỞ SƢ PHẠM
CỦA VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC NHẬN THỨC CHO TRẺ 5-6
TUỔI
1.2.1. Khái niệm tính tích cực nhận thức
1.2.1.1. Tính tích cực là gì?
Theo từ điển tiếng việt, tính tích cực gồm 3 nghĩa:
- Một là, có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển, trái
với tiêu cực.
- Hai là, tính chủ động, có những hoạt động nhằm tạo ra những biến đổi

khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm
giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức. Nó vừa là mục đích học tập vừa
là phƣơng tiện, vừa là điều kiện để đạt mục đích.
Theo tác giả Nguyễn Kỳ, TTCNT là sự ham muốn hoạt động nhận thức
của chủ thể. Chính chủ thể tạo nên biểu hiện bên trong và bên ngoài, chính
lòng ham muốn hiểu biết hình thành nên động cơ nhận thức. Ở đây tác giả
muốn nhấn mạnh nhu cầu, động cơ… là những yếu tố tâm lý tạo nên động lực
thúc đẩy và lôi cuốn học sinh vào các quá trình tích cực.
Từ những quan điểm trên, khái niệm tính tích cực nhận thức nhƣ sau:
Tính tích cực nhận thức là một phẩm chất tâm lý của cá nhân trong
hoạt động nhận thức, là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông
qua việc huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm giải quyết những
nhiệm vụ nhận thức. Nó được thể hiện như là một năng lực trí tuệ phức tạp

9


đòi hỏi sự nỗ lực của tư duy. Tính tích cực nhận thức cũng như tất cả các
hoạt động của nhân cách đều chứa đựng tính quy luật nhất định trong sự phát
triển.
1.2.2. Phân loại tính tích cực nhận thức
Việc phân loại tính tích cực nhận thức có thể chia thành hai cách nhƣ
sau:
Cách thứ nhất
Dựa vào việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lý nào và mức độ
huy động các chức năng tâm lý đó mà có những loại tích cực sau:
- Tích cực tái hiện, bắt chƣớc: Tính tích cực nhận thức này chủ yếu dựa
vào trí nhớ và tƣ duy tái hiện.
- Tích cực nhận thức tìm tòi: Tính tích cực nhận thức này là sự tìm tòi
đối tƣợng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi một cách tích cực về mặt

Các nhà tâm lý học Xô Viết nhƣ V.X.Mukhina, I.F.Khalômoov… chỉ
ra rằng, lứa tuổi mẫu giáo đã có nhu cầu đƣợc ngƣời khác thừa nhận, mong
muốn đƣợc ngƣời khác ủng hộ và công nhận. Nhu cầu đƣợc ngƣời khác thừa
nhận của trẻ mẫu giáo chính là thành tố, là một hình thức biểu hiện tự nhiên
quan trọng của tính tích cực, là điều kiện cần thiết cho nhân cách phát triển
bình thƣờng. Cho nên, việc giáo dục và phát triển tính tích cực có thể bắt đầu
ngay từ lứa tuổi mẫu giáo.
Có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến khái niệm TTCNT của trẻ
mẫu giáo:
- Trong từ điển sƣ phạm bách khoa toàn thƣ Xô Viết có viết: “Có thể
phân biệt đƣợc những nét đặc trƣng của sự phát triển trí tuệ… đó là thái độ
tích cực đối với thế giới sự vật, hiện tƣợng xung quanh, sự ham muốn vƣợt ra
ngoài phạm vi những gì đã biết, sự mong mỏi mở rộng phạm vi hiểu biết và
sử dụng chúng một cách sáng tạo trong lý luận và thực tiễn. Tính tích cực có

11


mối quan hệ chặt chẽ với óc quan sát, với năng lực phân tích những khía cạnh
cũng nhƣ các mối quan hệ đặc thù trong các sự vật, hiện tƣợng”.
- Các nhà tâm lý học mầm non cho rằng, lứa tuổi mẫu giáo đã xuất hiện
một hình thức của tính tích cực còn gọi là TTCNT. TTCNT cuả trẻ mẫu giáo
đƣợc tác giả xem nhƣ là khả năng giải quyết nhiệm vụ nhận thức với hiệu quả
cao bằng việc nỗ lực huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý nhằm thỏa
mãn nhu cầu nhận thức, đặc biệt là chức năng tƣ duy (một số thao tác của tƣ
duy nhƣ so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa…).
Từ những phân tích trên ta hiểu TTCNT của trẻ mẫu giáo là:
TTCNT của trẻ mẫu giáo là một phẩm chất tâm lý cá nhân trong hoạt
động nhận thức của trẻ, là một năng lực trí tuệ phức tạp, đòi hỏi sự nỗ lực
cao độ về trí tuệ và các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, khái

cùng nằm trong một khối thống nhất đó là nhiệm vụ nhận thức, các hành động
chơi và luật chơi. Các thành tố này đƣợc chuẩn bị sẵn từ trƣớc trong mỗi
TCHT. Nếu thiếu một trong ba thành tố này thì không tạo nên TCHT.
Nhiệm vụ nhận thức: TCHT chứa đựng nhiệm vụ nhận thức, đây
chính là nội dung chơi có tính chất nhƣ một bài toán mà trẻ phải giải quyết
dựa trên các điều kiện đã cho. Nhiệm vụ nhận thức là thành tố cơ bản của
TCHT, nó gây ra hứng thú cho trẻ, kích thích tính tích cực và nguyện vọng
chơi của trẻ. Mỗi một TCHT có một nhiệm vụ nhận thức của mình, chính điều
đó làm trò chơi này khác với trò chơi kia.
Hành động chơi: Chính là những động tác mà trẻ phải làm trong lúc
chơi và nó cũng là thành phần quan trọng của TCHT, thiếu nó trò chơi không
thể tiến hành đƣợc. Hành động chơi bao gồm nhiều thao tác, chủ yếu là thao
tác trí óc, nhằm thực hiện cho đƣợc nhiệm vụ nhận thức mà trò chơi đặt ra,
nhƣng mặt khác lại phải tuân thủ theo những điều quy định mà luật chơi đề ra.
Hành động chơi càng phong phú bao nhiêu càng hấp dẫn trẻ hào hứng tham

13


gia trò chơi bấy nhiêu, những trò chơi quá ít hành động chơi thì càng ít thu
hút trẻ.
Luật chơi: TCHT bao giờ cũng có luật chơi và luật chơi giữ vai trò
quyết định, đó là những quy định có sẵn mà nhất thiết trẻ phải tuân thủ trong
khi chơi. Luật chơi quyết định trò chơi và nếu phá vỡ chúng thì TCHT cũng
bị phá vỡ theo. Mỗi TCHT đều có luật chơi do nội dung chơi quy định. Có thể
nói, các luật chơi đã tạo nên cơ chế tự điều khiển hành vi của trẻ trong khi
chơi. Trong luật chơi còn bao hàm cả luật cấm mà nếu ngƣời chơi phạm phải
thì phải làm lại hoặc thua cuộc.
TCHT bao giờ cũng có một kết quả nhất định đó là lúc kết thúc trò
chơi, trẻ giải quyết thành công một nhiệm vụ nhận thức nào đó mà trò chơi

có chủ đề: Trò chơi đi du lịch, trò chơi giao nhiệm vụ, trò chơi đề nghị, trò
chơi đàm thoại, trò chơi giải đáp… Theo tính chất sử dụng đồ chơi và tài liệu
học tập: Trò chơi với đồ vật, chơi trên bàn, trò chơi bằng lời…
Trò chơi của trẻ cần có nội dung phong phú đòi hỏi sự sáng tạo của trẻ.
Luật chơi cũng đƣợc mở rộng và mềm dẻo để khuyến khích sự sáng tạo của
trẻ, vì luật chơi cứng nhắc nhiều khi không phát huy đƣợc tính sáng tạo của
trẻ khi thực hiện hành động chơi.
Tóm lại, cô phải luôn duy trì niềm vui, hứng thú chơi cho trẻ, nhƣng
cần giữ tốc độ chơi vừa phải, nâng dần tính phức tạp của trò chơi, thƣờng
xuyên đƣa ra nhiều trò chơi có nội dung chơi phong phú, hành động chơi và
luật chơi phức tạp, nhằm mục đích đòi hỏi trẻ phải nỗ lực về trí tuệ và tinh
thần.
1.3.2. Vai trò của hoạt động vui chơi trong sự phát triển và giáo dục trẻ
mẫu giáo
Theo tâm lý học, vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo. Vui
chơi là hoạt động phù hợp với nhu cầu, khả năng và hứng thú của trẻ, đồng
thời nó tạo nên những nét tâm lý đặc trƣng cho lứa tuổi mẫu giáo đó là tính

15


hình tƣợng và tính dễ xúc cảm. Hai đặc tính này chi phối toàn bộ đời sống
tâm lý của trẻ. Do đó tƣ duy hình tƣợng, tƣởng tƣợng sáng tạo và các loại tình
cảm bậc cao (tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức và đặc biệt là tình cảm thẩm
mỹ) phát triển rất mạnh ở trẻ em.
Đối với trẻ mẫu giáo, chơi là phƣơng tiện giáo dục toàn diện góp phần
hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Cụ thể nhƣ sau:
Thứ nhất, chơi là phƣơng tiện giáo dục đạo đức
Qua hoạt động chơi trẻ tích cực và sáng tạo nắm lấy quy tắc hành vi
đạo đức cũng nhƣ một số chuẩn mực xã hội. Trong khi chơi trẻ biết sống cùng

từ đó trẻ biết yêu cái đẹp.
Chơi còn trở thành phƣơng tiện giáo dục vì trƣớc hết nội dung chơi
mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, nó ảnh hƣởng trực tiếp tới tâm tƣ, tình cảm và
hành vi đạo đức của trẻ. Bên cạnh đó chơi giúp trẻ làm quen với thế giới hiện
thực xung quanh, mở rộng tầm hiểu biết của trẻ, kích thích trí thông minh,
lòng ham hiểu biết.
Chơi làm cho trẻ dễ dàng nắm bắt đƣợc tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có hệ
thống. Thành tích của trẻ trong khi chơi sẽ mang lại nhiều niềm vui cho trẻ và
làm cho trẻ hứng thú với các tri thức mới và có nhu cầu phải biết chơi, học
thuộc câu hát, biết kể chuyện, biết đƣợc đặc điểm của các hình hình học, biết
đếm số lƣợng của các nhóm đồ vật. Chơi còn là phƣơng tiện truyền đạt kiến
thức, kĩ năng cho trẻ một cách dễ dàng và hiệu quả. “Học mà chơi, chơi mà
học” là con đƣờng, là cách thức dạy học phù hợp nhất với trẻ nhỏ.
Qua đây ta thấy rằng chơi là hình thức học tập và hòa nhập với xã hội
một cách tự nhiên và mạnh mẽ nhất. Mối quan hệ giữa hoạt động vui chơi và
quá trình cho trẻ làm quen với biểu tƣợng toán học là rất chặt chẽ. Bên cạnh
đó, việc thực hiện các nhiệm vụ chơi là góp phần củng cố, chính xác và làm
phong phú hơn những biểu tƣợng toán ở trẻ.

17


1.3.3. Vị trí của trò chơi học tập trong quá trình hình thành biểu tƣợng
toán học sơ đẳng cho trẻ mẫu giáo
Đối với trẻ mẫu giáo trò chơi học tập có ý nghĩa giáo dục và phát triển
to lớn. Nó tác động trực tiếp đến việc củng cố kiến thức và phát triển các quá
trình nhận thức nhƣ cảm giác, tri giác, tƣ duy, tƣởng tƣợng. Tính hấp dẫn của
hành động chơi trong trò chơi đã giúp trẻ tích cực hoạt động suy nghĩ, kích
thích ngôn ngữ của trẻ. Qua đó trí tuệ trẻ phát triển hơn, trẻ dễ dàng tiếp thu
các kiến thức một cách dễ dàng, trẻ tiếp thu một cách nhanh trí, linh hoạt, óc

Trong giờ hoạt động góc, TCHT hình thành biểu tƣợng toán học đƣợc
sử dụng. Khi từng trẻ hoặc một nhóm trẻ độc lập chơi một trò chơi mà trẻ
thích. Trong trò chơi học tập trẻ không chỉ phản ánh những gì trẻ lĩnh hội
đƣợc trong các hoạt động chung mà cả những gì trẻ lĩnh hội đƣợc trực tiếp từ
cuộc sống.
Qua đây ta thấy, TCHT hình thành biểu tƣợng toán học góp phần chuẩn
bị cho trẻ vào học ở các trƣờng phổ thông. Trong quá trình chơi cung cấp cho
trẻ về kiến thức, hình thành những biểu tƣợng toán học sơ đẳng cho trẻ mang
tính chính xác cao, có tính hệ thống làm cơ sở hình thành những khái niệm
toán học mà trẻ sẽ học ở trƣờng phổ thông.
- TCHT hình thành biểu tượng toán học được sử dụng như một biện
pháp dạy học
TCHT hình thành biểu tƣợng toán học phục vụ cho nội dung của hoạt
động chung và nó đƣợc sử dụng nhƣ một biện pháp dạy học. Khi đƣa trò chơi
vào trong hoạt động chung không phải xuất phát từ nhiệm vụ củng cố nội
dung những kiến thức, mà đôi khi nó xuất phát từ sự cần thiết phải tăng sự
hứng thú của trẻ trong quá trình nhận thức.
TCHT hình thành biểu tƣợng toán học tạo điều kiện cho trẻ đƣợc lĩnh
hội tri thức một cách hứng thú hơn và áp dụng những kiến thức mà trẻ đã có

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status