Lời cảm ơn
Trong suốt quá trình hoàn thành đề tài khóa luận
này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý
báu của quý thầy cô, bạn bè, người thân.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được
bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô giáo
trong Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học
Quảng Bình đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt quá trình
tôi tham gia học tập tại cơ sở đào tạo.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến ThS. Phạm
Thò Yến, người đã hướng dẫn cho tôi trên con đường
nghiên cứu khoa học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các
giáo viên cùng các cháu Trường Mầm non Nam Lý đã
hợp tác và giúp đỡ tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình nghiên cứu đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể
tránh khỏi những thiếu sót nhất đònh. Kính mong nhận
được ý kiến đóng góp của Hội đồng khoa học để đề
tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 5 năm 2017
Tác giả: Đỗ Ngọc Trinh
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3.1. Mục đích thử nghiệm..............................................................................................63
3.2. Nội dung thử nghiệm ..............................................................................................63
3.3. Đối tượng, địa bàn và thời gian thử nghiệm ...........................................................63
3.4. Lựa chọn và thiết kế giáo án thử nghiệm ...............................................................63
3.5. Quy trình thử nghiệm .............................................................................................64
3.6. Phân tích kết quả thử nghiệm .................................................................................64
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................................73
1. Kết luận......................................................................................................................73
2. Kiến nghị ...................................................................................................................73
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT
Nghĩa đầy đủ
Viết tắt
1
GDMN
Giáo dục mầm non
2
GV
Môi trường xung quanh
8
TTCNT
Tính tích cực nhận thức
9
PP
Phương pháp
10
Tn
Thử nghiệm
11
TN
Thí nghiệm
12
ĐC
Biểu đồ 3.3: Mức độ chú ý của trẻ khi thực hiện TN ....................................................68
Biểu đồ 3.4. Mức độ thể hiện xúc cảm và hứng thú học tập của trẻ .............................69
Biểu đồ 3.5: Mức độ duy trì trạng thái tích cực của trẻ.................................................70
Biểu đồ 3.6: Mức độ biểu hiện các tiêu chí đánh giá của trẻ sau thử nghiệm ...............72
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Thí nghiệm (TN) là việc tổ chức cho trẻ hành động tác động vào đối tượng,
làm thay đổi đối tượng nhằm kiểm nghiệm một tính chất nào đó của sự vật hiện tượng
hoặc tạo dựng lại một hiện tượng tự nhiên. Bằng các TN đơn giản trẻ có thể xác lập
được nguyên nhân của sự vật, hiện tượng, khám phá được sự biến đổi của thiên nhiên
và các mối quan hệ nhằm lý giải thắc mắc và được trải nghiệm cuộc sống. Chính sự
thích thú và đam mê khám phá sẻ giúp trẻ phát triển lành mạnh về thể chất, nuôi
dưỡng tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống, lòng nhân ái và khả năng tìm hiểu về
môi trường xung quanh của trẻ.
Tổ chức làm các thí nghiệm đơn giản là một hình thức tạo tình huống nhận thức,
giúp trẻ được trải nghiệm trực tiếp. Đây chính là cơ hội giúp trẻ sử dụng được mọi giác
quan để tìm hiểu, khám phá, thử nghiệm đối tượng.
1.2. Hoạt động khám phá khoa học (KPKH) về môi trường xung quanh (MTXQ)
là một trong những hoạt động vô cùng quan trọng cho trẻ ở trường mầm non (MN). Ở
đó trẻ được tích cực khám phá, tìm kiếm để phát hiện ra cái mới, cái ẩn dấu của cuộc
sống xung quanh mà có thể được tiến hành ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau, song cho
trẻ khám phá khoa học (KPKH) về môi trường xung quanh (MTXQ) chính là hoạt
động thích hợp nhất và thực sự hấp dẫn làm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của trẻ, mở ra
cho trẻ cánh cửa vào thế giới rộng lớn hơn.
Trong quá trình thực hiện thí nghiệm, trẻ tích cực khám phá, tìm hiểu MTXQ sẽ
giúp trẻ hình thành, củng cố và phát triển những tri thức sơ đẳng về sự vật, hiện tượng
thiên nhiên, nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức và mở rộng tầm hiểu biết cho trẻ về thế
giới khách quan; phát triển các quá trình tâm lý nhận thức (như cảm giác, tri giác, tư
1.4. Cùng với yêu cầu ngày càng cao trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy
theo chương trình mầm non mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì thực tế hiện nay cho
thấy, thiết kế TN đơn giản nhằm phát triển tính tích cực hoạt động nhận thức của trẻ 5 - 6
tuổi qua hoạt động KPKH về MTXQ vẫn chưa được chú trọng và thực hiện có hiệu quả.
Các TN được thiết kế và tổ chức một cách hạn chế, chưa kích thích được sự tích cực hoạt
động nhận thức cho trẻ. Chính vì vậy, cần phải có sự nghiên cứu thật kỹ lưỡng những
bước thực hiện khoa học kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để có thể thiết kế một số TN
phù hợp nhằm nâng cao chất lượng qua hoạt động KPKH về MTXQ nói riêng và nâng
cao chất lượng dạy học nói chung.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Thiết kế một
số thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển tính tích cực nhận thức cho trẻ 5 - 6 tuổi qua
hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh”.
2
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thiết kế một số thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển TTCNT cho trẻ
5 - 6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh, từ đó góp phần
phát trí tuệ và nâng cao chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi ở trường MN.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển giáo dục trí tuệ của trẻ mẫu giáo (MG) qua PP TN trong
hoạt động KPKH về MTXQ.
3.2.Đối tượng nghiên cứu
Cách thiết kế một số thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển TTCNT cho trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi qua hoạt động KPKH về MTXQ.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu giáo viên (GV) biết thiết kế một số thí nghiệm đơn giản qua hoạt động
KPKH về MTXQ một cách khoa học, hợp lý, phù hợp với nhận thức của trẻ thì sẽ phát
liên quan đến đề tài nhiên cứu
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
- Mục đích: Quan sát biểu hiện tích cực hoạt động nhận thức của trẻ ra bề ngoài
khi trẻ thực hiện TN.
- Biện pháp: Dự giờ, đánh giá PP TN mà GV MN cho trẻ thực hiện
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
- Mục đích: Trao đổi với GV về PP TN phát triển cho trẻ mẫu giáo lớn qua hoạt
động KPKH về MTXQ. Trò chuyện với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua các hoạt động hằng
ngày để tìm hiểu mức độ cũng như phát triển TTCNT của trẻ trong hoạt động giáo dục
nói chung và khi thực hiện PP TN nói riêng.
- Biện pháp: Để thực hiện được điều đó chúng tôi đã đàm thoại, trao đổi với nhà
quản lý, giáo viên và trẻ xoay quanh việc sử dụng PP TN nhằm phát triển nhận thức cho
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.
7.2.3. Phương pháp điều tra
- Mục đích: Nhằm thu thập thông tin về thực trạng thiết kế một số thí nghiệm đơn
giản qua hoạt động KPKH về MTXQ ở trường MN, từ đó đánh giá thực trạng và làm
cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu, thiết kế một số thí nghiệm đơn giản nhằm phát
triển TTCNT của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi.
- Biện pháp: Để thực hiện được điều đó, chúng tôi đã xây dựng phiếu điều tra và
tiến hành trên đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên Mầm non.
4
7.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Mục đích: Dự giờ, trao đổi với giáo viên nhằm thu thập những kinh nghiệm quý
báu của các nhà chuyên môn về các biện pháp phát triển TTCNT của trẻ để đưa ra kết
luận chính xác và khoa học, rút ra bài học cho bản thân.
- Biện pháp: Dự giờ, trao đổi với các giáo viên.
9. Cấu trúc của khóa luận
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Thiết kế một số thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển TTCNT cho trẻ
mẫu giáo 5 - 6 tuổi qua hoạt động khám phá khoa học về môi trường xung quanh.
Chương 3: Thử nghiệm sư phạm
Kết luận và kiến nghị
6
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Phát triển TTCNT cho trẻ MG 5 - 6 tuổi có một vị trí đặc biệt quan trọng trong
việc đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện nhân cách của trẻ và chuẩn bị cho trẻ
đến trường phổ thông. Vì thế có rất nhiều công trình nghiên cứu về các phương pháp,
biện pháp nhằm giúp trẻ phát triển TTCNT. Mặc dù sử dụng các TN là một phương
pháp có vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục và được nhiều nhà khoa học, nhà
giáo dục, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm nhưng vẫn chưa có công trình
cụ thể nào nói về thiết kế một số thí nghiệm đơn giản nhằm phát triển tính tích cực
hoạt động nhận thức cho trẻ 5 - 6 tuổi qua hoạt động KPKH về MTXQ. Cụ thể:
* Trên thế giới
Trong giáo dục, vấn đề sử dụng các TN là một phương pháp dạy học đã có từ rất
lâu cùng với hệ thống các phương pháp dạy học khác. Do đó, có rất nhiều quan điểm,
cũng như các công trình nghiên cứu bàn về vai trò của TN.
- Vai trò của TN nói chung
Trong lý luận giáo dục của mình J.J.Rutxô (1712 – 1778) đã chú trọng các
phương pháp dạy học mang tính trực quan, đặc biệt coi trọng TN, thực hành. Dạy học
theo ông không chỉ mang tri thức đến cho trẻ mà cái lớn hơn là dạy trẻ phương pháp tư
duy, phương pháp hành động.
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, các nhà khoa học Mỹ và Pháp đã đề xuất
“Phương pháp bàn tay nặn bột” [12]. Chủ trương của các nhà khoa học này là làm cho
việc đào tạo học sinh tốt hơn bằng cách xem xét lại việc giảng dạy các môn khoa học
về tự nhiên ngay từ trường MG, đặt học sinh vào vị trí của nhà khoa học, tự mình xây
dựng các phương án TN và chính học sinh tự mình tiến hành các TN dưới sự định
hướng, giúp đỡ của GV; đồng thời giúp cho các em hình thành các kỹ năng, kỹ xảo
thực hành.
Các nghiên cứu về phương pháp TN trong dạy học nói trên đa số đều hướng đến
việc nâng cao hoạt động nhận thức của người học.
* Ở Việt Nam
Sử dụng TN là một phương tiện hữu hiệu giúp người học tiếp cận và lĩnh hội tri
thức một cách có hiệu quả cao, chính vì thế ở Việt Nam trong giai đoạn gần đây có rất
nhiều nhà khoa học, tâm lý học, giáo dục học quan tâm, nghiên cứu về TN và các vai
trò, tác dụng mà TN đưa lại.
8
Cùng với “Phương pháp tích cực lấy người học làm trung tâm” của thứ trưởng
Bộ giáo dục và đào tạo, đã có một số nhà nghiên cứu tiến hành nghiên cứu, thử
nghiệm, thí điểm việc sử dụng các TN trên tất cả hầu hết các môn học, cấp học nhằm
mục đích đưa người học vào những hoạt động trải nghiệm trực tiếp, giúp người học tự
tìm tòi khám phá vấn đề.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đều hướng tới các bậc học như:
Tiểu học, THCS, THPT và ĐH. Hiện nay, GDMN cũng đang từng bước được đổi mới
về nội dung và hình thức dạy học.
TTCNT cho trẻ, nâng các chất lượng dạy học và thực hiện tốt mục tiêu GDMN.
1.1.2. Lý luận chung về tính tích cực và TTCNT của trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động
KPKH về MTXQ
Vấn đề phát huy TTCNT trẻ MG trong các hoạt động nói chung, trong quá trình
KPKH nói riêng là một trong những vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc
đổi mới GDMN hiện nay. Giải quyết vấn đề này phụ thuộc nhiều vào việc xác định
đúng bản chất khái niệm TTCNT, khái niệm này không tách rời với khái niệm tính tích
cực chung của cá nhân. Sau đây chúng tôi xin đề cập đến những khái niệm này như là
khái niệm công cụ để nghiên cứu TTCNT của trẻ MGL.
1.1.2.1. Khái niệm về tính tích cực
Theo từ điển Tiếng Việt, tính tích cực được hiểu theo 3 nghĩa sau:
- Một là, Tính tích cực có ý nghĩa, có tác dụng khẳng định, thúc đẩy sự phát triển,
trái với tiêu cực.
- Hai là, Tính tích cực là tính chủ động có những hoạt động nhằm tạo ra những
biến đổi theo phương hướng phát triển.
- Ba là, Tính tích cực là hăng hái nhiệt tình với nhiệm vụ, với công việc.
Tính tích cực theo quan điểm duy vật biện chứng: C.Mác – Ph.Ănghen,
V.I.Lênin: “Tính tích cực có nguồn gốc từ yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài, trong
đó yếu tố bên trong có vai trò quyết định. Tính tích cực chính là thái độ cải tạo và biến
đổi khách thể của chủ thể, nó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra thế giới hiện thực
khách quan, biến đổi và cải tạo nó” [3].
Các nhà Tâm lý – Giáo dục học lại xem xét tính tích cực ở những khía cạnh khác
nhau, đó là: Tính tích cực gắn liền với hành động, P.I.Ganpêrin cho rằng: “Tính tích
cực được thể hiện trong các mức độ lĩnh hội khác nhau và các mức độ ấy chính là chỉ
số đo sự phát triển tính tích cực của chủ thể” [11].
Tính tích cực chính là tính chủ động của chủ thể (hành động ý chí); tính tích cực
thực hiện chức năng chỉ báo hoạt động của con người. Theo tác giả (V.I.Rômanôv,
X.D.Xmimôv…), sự phát triển tính tích cực chính là sự phức tạp hóa dần các chức
năng tính tích cực của chủ thể.
của V.I.Lênin quan niệm rằng, TTCNT thể hiện thái độ cải tạo của chủ thể nhận thức
đối với đối tượng nhận thức. Nghĩa là tài liệu học tập được phản ánh vào não học sinh
và được chế biến đi, được hòa vào vốn kinh nghiệm đã có của chúng và được vận
dụng linh hoạt, sáng tạo vào các tình huống khác nhau nhằm cải tạo hiện thực và cải
tạo bản thân mình.
11
Các tác giả như I.I.Rôdax, T.Samôva, N.P.Anhikeiva, Đặng Vũ Hoạt đã nhìn
nhận TTCNT dưới góc độ Tâm lý học [4]. Theo các tác giả này thì học sinh tồn tại với
tư cách là một cá nhân với toàn bộ nhân cách của họ. Vì vậy, cũng như bất kỳ hoạt
động nào khác hoạt động nhận thức được tiến hành trên cơ sở huy động các chức năng
nhận thức, tình cảm, ý chí, trong đó chức năng nhận thức đóng vai trò chủ yếu, các
chức năng tâm lý khác đóng vai trò hỗ trợ. Các yếu tố của chúng kết hợp với nhau một
cách hữu cơ, tác động và thúc đẩy lẫn nhau tạo nên cái gọi là mô hình tâm lý của hoạt
động nhận thức. Mô hình này có đặc điểm là không cứng nhắc, trái lại luôn luôn biến
đổi. Chính sự biến đổi liên tục bên trong của mô hình tâm lý của hoạt động nhận thức
đặc trưng cho TTCNT của học sinh. Sự biến đổi đó càng linh hoạt, càng năng động
bao nhiêu thì càng thể hiện TTCNT ở mức độ cao bấy nhiêu.
Theo N.P.Anhikeiva, T.Samôsa, những dấu hiệu đặc trưng của TTCNT là sự cố
gắng nỗ lực của trí tuệ, của các hành động tư duy, sự thể hiện hứng thú đối với tài liệu,
tính độc lập, sáng tạo trong học tập. Hạt nhân cơ bản TTCNT theo tác giả Thái Duy
Tuyên: là hoạt động tư duy của cá nhân, được tạo nên sự thúc đẩy của nhu cầu đa dạng.
Còn tác giả Đặng Thành Hưng lại giải thích bản chất TTCNT từ cách tiếp cận hệ
thống [10]. Theo ông, TTCNT có bản chất tâm lý (tính tích cực cảm giác, tính tích cực
tư duy, tính tích cực tưởng tượng) và bản chất học sinh - xã hội (tính tích cực sinh học,
tính tích cực thái độ, tình cảm, tính tích cực hành động ý chí). Nội dung của TTCNT
bao gồm nhu cầu cao về tri thức, trình độ cao của các tình cảm trí tuệ, hứng thú học
tập, ý chí, trí lực chuyên biệt, tính thích ứng sinh học, những động cơ xã hội và nhân
thẳng của trí tuệ, đặc biệt là của thao tác tư duy so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát
hóa và nó được thể hiện bằng hứng thú với sự vật, hiện tượng xung quanh và lòng
mong muốn hiểu biết nhiều hơn nữa về chúng, có kỹ năng đưa ra kết luận, hệ thống
hóa và thiết lập được mối quan hệ cốt lõi của một sự vật và hiện tượng xung quanh”
[8]. TTCNT được biểu hiện bằng các kỹ năng như kỹ năng phân tích và tổng hợp
thông tin nhận được, kỹ năng so sánh và tìm ra sự giống nhau và khác nhau của các đồ
vật, sự kiện, hiện tượng của cuộc sống xung quanh và năng lực vận dụng chúng khi
giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn. Sự phát triển TTCNT gắn liền với việc
lĩnh hội những kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng phong phú cũng như các chuẩn mực xã
hội và các quy tắc hành vi.
Trên cơ sở phân tích, so sánh, khái quát hóa những công trình nghiên cứu của các
nhà khoa học trong nước và trên thế giới về TTCNT của trẻ MG, chúng tôi quan niệm
TTCNT của trẻ MG trong quá trình tìm hiểu MTXQ như một phẩm chất tâm lý cá
nhân của trẻ trong hoạt động nhận thức, thể hiện thái độ tích cực của trẻ đối với thiên
nhiên xung quanh. Đó là một năng lực trí tuệ phức tạp đòi hỏi ở sự nỗ lực huy động ở
mức độ cao các chức năng tâm lý, đặc biệt là chức năng nhận thức khi giải quyết các
13
nhiệm vụ nhận thức đã đặt ra trong các hoạt động tìm hiểu MTXQ. Nó vừa là mục
đích, vừa là điều kiện, vừa là kết quả của hoạt động nhận thức nói riêng của sự phát
triển nhân cách của đứa trẻ nói chung.
1.1.3. Hoạt động khám phá MTXQ trong trường MN
1.1.3.1. Vài nét về đặc điểm nhận thức khám phá MTXQ của trẻ ở trường MN
MTXQ là toàn bộ các sự vật hiện tượng trong thế giới tự nhiện, xã hội tồn tại gần
gũi, quen thuộc xung quanh chúng ta. MTXQ bao gồm: môi trường tự nhiên (Thế giới
động vật, thế giới thực vật, thế giới vô sinh) và môi trường xã hội (bản thân trẻ, gia
đình, nhà trường, cộng đồng...).
Hoạt động khám phá MTXQ là một trong những hoạt động đặc thù của trẻ lứa
không ngừng biến đổi. Để khám phá được nó đói hỏi ở trẻ phải có sự nỗ lực tư duy và
sự phối hợp hành động của người. Cũng chính vì thế, hoạt động này đã thu hút được
sự tập trung chú ý cao độ của trẻ.
- Nhạy cảm với MTXQ là bản chất của trẻ nhỏ. Trẻ đến với thế giới xung quanh
một cách đầy cảm xúc của tâm hồn. Do đó, hoạt động khám phá MTXQ của trẻ ở
trường MN đã có tác động mạnh mẽ đến xúc cảm, tình cảm cũng như nhận thức của
trẻ, mang đến cho trẻ những giây phút thăng hoa và đã thoả mãn nhu cầu tìm hiểu,
khám MTXQ của trẻ.
Như vậy, trẻ em ngay từ khi còn nhỏ đã có nhu cầu nỗ lực tìm tòi, khám phá và
khám phá MTXQ là hoạt động tạo nhiều cơ hội giúp trẻ thoả mãn nhu cầu đó.
Từ đặc điểm hoạt động khám phá MTXQ của trẻ ở trường mầm non chúng tôi
xác định hoạt động khám phá MTXQ là một trong những hoạt động trong chế độ sinh
hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non, nhằm giúp trẻ phát triển TTCNT.
1.1.3.2. Những cơ hội để hình thành TTCNT cho trẻ qua hoạt động khám phá
MTXQ
Hoạt động khám phá MTXQ là một trong những hoạt động đặc thù của trẻ được tổ
chức ở trường MN. Hiện nay, hầu hết các trường MN đang thực hiện chương trình đổi
mới hình thức tổ chức hoạt động giáo dục. Chương trình này được chia thành 8 chủ
điểm, mỗi chủ điểm thể hiện một vấn đề của cuộc sống. Thông qua các chủ đề khác
nhau, trẻ không chỉ dễ dàng lĩnh hội, kiến thức, kinh nghiệm xã hội mà còn có cơ hội để
hình thành các kỹ năng, năng lực cần thiết. Trẻ được dạy cách biết làm thế nào để sử
dụng các kỹ năng, biết khi nào thì cần sử dụng nó. Mặt khác, trẻ còn học được cách
nhận ra các tình huống có thể sử dụng các kỹ năng một cách hợp lý và hiệu quả nhất.
Chủ đề của hoạt động khám phá MTXQ rất phong phú đa dạng và độ phức tạp
ngày tăng thêm. Vì vậy, đòi hỏi trẻ phải tích cực nhiều hơn, nỗ lực tư duy, tìm tòi
khám phá, trải nghiệm, lĩnh hội những tri thức, tích lũy những kinh nghiệm cho bản
thân. Tất cả trẻ đều rất thích tiếp xúc và hoạt động với sự vật hiện tượng xung quanh,
15
nhiệm vụ công việc.
Hoạt động khám phá MTXQ là hoạt động có rất nhiều cơ hội để hình thành
TTCNT cho trẻ. TTCNT của trẻ chính là chất kết dính để tạo được sự thành công của
16
hoạt động khám phá. Tuy vậy, việc hình thành TTCNT cho trẻ trong hoạt động khám
phá MTXQ không phải ngày một ngày hai hình thành được mà cần phải được tổ chức
rèn luyện thường xuyên, liên tục bằng các biện pháp giáo dục phù hợp.
1.1.4. Lý luận chung về phương pháp dạy học thí nghiệm
1.1.4.1. Khái niệm thí nghiệm
TN được xem là một trong những phương tiện trực quan quan trọng hàng đầu
trong dạy học nói chung và dạy trẻ MN nói riêng. Có nhiều khái niệm và cách hiểu về
TN khác nhau:
Theo từ điển Tiếng việt, TN là gây ra một hiện tượng, một biến đổi nào đó trong
điều kiện xác định để quan sát, tìm hiểu, nghiên cứu, kiểm tra hay chứng minh.
Có thể giải thích: TN là một phương pháp, một hình thức quan sát đặc biệt, được
tổ chức trong điều kiện có tổ chức mà trẻ được tham gia một cách tích cực.
Hoặc TN là làm thử theo những điều kiện, nguyên tắc đã được xác định để
nghiên cứu, chứng minh.
Theo một số quan điểm khác nhau thì cho rằng: TN là một thử nghiệm hay kiểm
tra một lý thuyết khoa học bằng cách thao tác với các yếu tố môi trường để quan sát
kết quả có phù hợp với các tiên đoán lý thuyết hay không.
TN còn được gọi là: Qúa trình tạo dựng một sự quan sát, thực hiện một phép đo,
hay TN là sự quan sát hiện tượng nghiên cứu trong các điều kiện được kiểm tra chính
xác, cho phép theo dõi tiến trình của hiện tương và tái tạo lại hiện tượng đã có sẵn.
Trong vật lý học và hóa học, TN là phương pháp, là cách thức mà bằng cách nào
đó, con người tác động một cách có ý thức, hệ thống lên các sự vật, các hiện tượng xảy
ra trong những điều kiện nhất định. Sự phân tích về mặt lý thuyết các điều kiện và quá
Thông qua việc GV tổ chức cho trẻ làm các TN, trẻ sẽ phát triển óc quan sát, khả
năng phán đoán, khả năng phán đoán, khả năng so sánh, phân tích, tổng hợp; PP TN còn
kích thích ở trẻ tính ham hiểu biết; Tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, được thao tác,
được rèn luyện và phát triển TTCNT, từ đó rút ra những kết luận khoa học đúng đắn về
các sự vật, hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng trong tự nhiên và xã hội. Đồng thời,
qua những TN giáo dục trẻ có thái độ tích cực đối với thiên nhiên, các đồ vật.
Theo nhà GD cổ đại J.A.Cômenxki (1592 – 1670) đã từng viết trong cuốn “Phép
giảng dạy vĩ đại” thì: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực phán đoán đúng đắn,
phát triển nhân cách. Hãy tìm ra phương pháp nào GV ít dạy hơn, học sinh học nhiều
hơn” [1]. Với tư tưởng đó, GV cần tạo ra các tình huống, tạo ra môi trường sao cho trẻ
được thể hiện sự tò mò, ham hiểu biết và có thể chủ động giải quyết các tình huống mà
trẻ bắt gặp hoặc các tình huống GV lựa chọn cho trẻ.
Trong hoạt động học nói chung và hoạt động KPKH về MTXQ nói riêng, PP TN
luôn thu hút được sự chú ý của trẻ bởi các em rất tò mò, thích thú mỗi khi GV đưa ra
18
các dụng cụ để tiến hành TN. Do đó, trẻ sẽ say mê, hứng thú học tập. Đây cũng là cơ
hội tốt nhất để phát triển TTCNT của trẻ một cách tối đa. Mặt khác, việc tiếp xúc với
PP TN có tác dụng góp phần giáo dục kỹ năng thực hành, kỹ năng sống, kỹ năng làm
việc theo nhóm… cho trẻ.
Các nguyên liệu phục vụ cho TN thường là những gì có xung quanh, gần gũi với
cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của trẻ. TN được thực hiện trong một thời gian nhất
định (thời gian thực hiện TN dài hoặc ngắn tùy vào nhiệm vụ mà TN đặt ra).
1.1.4.3. Phân loại thí nghiệm
Nếu như ở cấp học THCS, THPT… các TN được phân loại dựa trên những tính
chất của sự vật, hiện tượng như: Đối với tính chất hóa học có TN Hóa học; đối với tính
chất vật lý có TN Vật lý thì ở bậc MN TN được phân thành những cách sau:
* Cách 1: Chia theo đối tượng TN