A. PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, việc vận dụng công nghệ vào các lĩnh
vực trong đời sống ngày càng rộng rãi và không còn xa lạ nữa, ngành giáo dục nói
chung và giáo dục mầm non nói riêng cũng đã từng bước tiếp cận với công nghệ hiện
đại. Việc ứng dụng tin học vào giảng dạy là rất cần thiết và được khuyến khích rất
nhiều. Đặc biệt sử dụng tin học vào tổ chức các hoạt động cho trẻ mầm non sẽ tạo ra
những điều mới lạ kích thích sự tò mò của trẻ.
1. Lý do chọn đề tài.
Giai đoạn lứa tuổi mầm non trẻ phát triển mạnh mẽ về thể chất, trí tuệ, tinh thần, trẻ
ham hiểu biết thích tìm tòi mọi thứ xung quanh. Dưới sự hướng dẫn của cô giáo trẻ sẽ
lĩnh hội được kiến thức được chính xác, đầy đủ hơn. Chính vì vậy mà hình thức tổ chức
các hoạt động cho trẻ càng phong phú, hấp dẫn, càng gây hứng thú thu hút trẻ, trẻ càng
dễ tiếp thu dễ nhớ, lâu quên, nhẹ nhàng lĩnh hội kiến thức.
Với những hình thức cho trẻ hoạt động như: Cô hát cho trẻ nghe, trẻ bắt chước
cô…. Đã trở nên quá quen thuộc đối với trẻ, làm trẻ nhàm chán nên hiệu quả giờ học
không cao. Cần phải có những điều mới lạ để thu hút sự tập trung chú ý của trẻ.
Từ năm học 2007-2008, Bộ giáo dục – đào tạo đã xác định nhiệm vụ trọng tâm của
ngành giáo dục là: “Đẩy mạnh công nghệ thông tin đưa vào chương trình, giáo án điện
tử, bài soạn có ứng dụng phầm mềm”. Và cho đến những năm học tiếp theo chúng ta
vẫn luôn xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, cần thiết và phải chú trọng đầu tư để phát
triển hơn nữa.
Việc ứng dụng phần mềm tin học vào tổ chức một số hoạt động cho trẻ mầm non
nhằm tạo một môi trường lớp học thân thiện mới lạ, phong phú, bắt mắt thu hút trẻ, kích
thích trẻ tích cực hoạt động ham học hỏi, tìm tòi khám phá để trẻ phát triển toàn diện tạo
cơ sở bước đầu vững chắc cho tương lai của trẻ.
Thực hiện sự chỉ đạo của Sở giáo dục – đào tạo Hà Tĩnh, hướng dẫn của Phòng
giáo dục – đào tạo, trường mầm non chúng tôi trong những năm qua luôn cố gắng tiếp
tục đổi mới hình thức giáo dục cho trẻ mầm non để trẻ được phát triển toàn diện. Đẩy
mạnh đưa công nghệ thông tin vào trong giảng dạy để có nhiều hình thức cho trẻ hoạt
1
2
b. Thời gian nghiên cứu: Do tính chất và điều kiện thực hiện của đề tài, tôi chỉ đi
sâu nghiên cứu 1 số biện pháp chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo
dục mầm non ở trường mầm non nơi tôi đang công tác.
Thời gian nghiên cứu từ năm học 2013-2014 đến nay.
c. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và sử dụng các tài liệu, sách báo, tạp chí
giáo dục mầm non, mạng internet có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động của cô và trẻ trong trường mầm
non để nhận biết về khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non.
- Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại với giáo viên và trẻ để tìm hiểu về công nghệ
thông tin và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục mầm non
- Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: Nghiên cứu các nội dung và
phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin để tìm ra các nội dung và phương pháp ứng
dụng CNTT trong giáo dục mầm non đạt hiệu quả nhất cho thực tiễn.
3
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lý luận
Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị 58-CT/UW
của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục
vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục
là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo
dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục
giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg.
Hiện nay, nhiều trường mầm non đã trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối mạng
Chẳng hạn: Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng
trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giáo viên hoàn
toàn trong các bài giảng của họ, nhất là đặc thù của việc tổ chức hoạt động của giáo viên
mầm non là cần có những đồ dùng trực quan để phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của
trẻ. Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương
trình do nhiều nguyên nhân. Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở
một số giáo viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm
chí còn né tránh. Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay
đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một ngày một ngày hai. Việc dạy
học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho
trẻ, cũng như dạy trẻ cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình
vẫn còn mới mẻ đối với giáo viên và đòi hỏi giáo viên phải kết hợp hài hòa các phương
pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm của phương pháp dạy học này làm hạn chế
những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống. Điều đó làm cho công nghệ
thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn
tích cực và tính hiệu quả của nó.
Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được
nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi
lạm dụng nó.
Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng, chưa
xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Chính sách, cơ chế quản
lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện. Các phương tiện, thiết
5
bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector, …
còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa thực hiện thường
xuyên. Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện thường xuyên và có chiều
sâu… Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chỉ mới
dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giáo viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và
mầm non ở trường mầm non
Biện pháp 1: Lập kế hoạch đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào giảng dạy
Kế hoạch ứng dụng CNTT trong dạy học của Hiệu trưởng ban hành phải là một
phương án tổng hợp bao gồm các yếu tố: Mục tiêu, thời gian, không gian, nội dung của
các hoạt động, nguồn nhân lực, vật lực, tài chính, phương án tổ chức bộ máy, sắp xếp
cán bộ cho việc triển khai thực hiện.
Phải xác định các mục tiêu, các bước đi cụ thể về ứng dụng CNTT vào dạy học cho
từng giai đoạn, từng học kỳ, từng năm học.
Xây dựng kế hoạch về khai thác và sử dụng kinh phí đầu tư: Không chỉ dừng ở việc
đầu tư trang thiết bị, mà cần chú trọng hơn trong kế hoạch kinh phí cho bảo trì, bảo
dưỡng; mua phần mềm; lắp đặt và khai thác đường truyền Internet, xây dựng cơ sở dữ
liệu điện tử phục vụ dạy học và quản lý...
Xây dựng kế hoạch về con người: Kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ
cho đội ngũ hiện nay, có kế hoạch bồi dưỡng chuyên sâu các kỹ năng soạn thảo văn bản
trên máy tính để thiết kế giáo án, sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học, kỹ năng khai thác
và sử dụng thông tin trên mạng, kỹ năng tổ chức dạy học bằng trình chiếu,....
Trong kế hoạch cần chỉ rõ ai chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, chỉ đạo hoạt động,
kiểm tra theo kế hoạch đã đề ra? Hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học có liên quan
chặt chẽ với các hoạt động chuyên môn khác nên công việc này cần giao cụ thể cho Phó
hiệu trưởng hoặc tổ trưởng chuyên môn, hoặc giáo viên có trình độ, kĩ năng về CNTT
và có kinh nghiệm trong chỉ đạo đổi mới dạy học đối với giáo viên.
Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch tạo nguồn nhân lực có chất lượng
Xây dựng kế hoạch cử cán bộ, giáo viên đi học chứng chỉ để nâng cao trình độ
chuyên môn về Tin học, giáo viên không đi học các lớp cấp chứng chỉ thì chỉ cần có kĩ
năng sử dụng, ứng dụng; đồng thời mời các chuyên gia và giáo viên giảng dạy có kinh
7
nghiệm, hướng dẫn trực tiếp, thuyết trình bằng máy chiếu, thảo luận, hỏi đáp, thực hành
giáo viên cốt cán để sử dụng được máy vi tính, phần mềm ứng dụng vào giảng dạy, công
tác.
Từ những giáo viên mạng lưới này sẽ tự bồi dưỡng cho những giáo viên khác trong
trường về những kiến thức cơ bản của tin học để có khả năng sử dụng tốt máy vi tính
trong công tác “Học thầy không tày học bạn”.
Qua kinh nghiệm cho thấy một cách học tập nhanh nhất của Tin học đó là học tập
kinh nghiệm, qua “truyền tay” và chỉ bảo trực tiếp qua máy tính ngay từ tổ, nhóm
chuyên môn.
9
Bồi dưỡng kiến thức về tin học cho cán bộ lãnh đạo, giáo viên và nhân viên có đủ
trình độ để sử dụng, khai thác tốt các thiết bị CNTT trong quản lý nhà trường. Tin học
hóa trong công tác quản lý nhân sự, sổ điểm, trao đổi thông tin trong trường qua email,
…
Thực hiện việc bồi dưỡng ngắn ngày, trực tiếp cho giáo viên có những kiến thức và
kỹ năng cần thiết để ứng dụng các thiết bị và phần mềm nhằm đổi mới nội dung giảng
dạy, đổi mới phương pháp, đổi mới đánh giá, vận dụng phương tiện CNTT vào tự học,
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ.
Nhà trường tổ chức những cuộc phát động phong trào thi đua học tập, bồi dưỡng,
ứng dụng CNTT trong hoạt động của toàn trường đặc biệt trong các kỳ hội giảng, kỷ
niệm ngày 20/11, 8/3, ... để phát động phong trào sử dụng, ứng dụng, học tập lẫn nhau
về kiến thức CNTT.
Thành lập ban CNTT trong nhà trường do Hiệu trưởng hoặc ủy quyền cho Phó hiệu
trưởng làm trưởng ban để theo dõi, giúp đỡ các cán bộ, giáo viên, tích hợp và triển khai
các hoạt động về ứng dụng CNTT trong nhà trường, coi tiêu chí ứng dụng CNTT là một
tiêu chí thi đua trong nhà trường.
Kết nối mạng Internet đưa máy tính, mạng máy tính, máy chiếu về các tổ, nhóm
chuyên môn để các cán bộ, giáo viên tranh thủ, truy cập lấy thông tin phục vụ công việc
của mình cho 2 tổ chuyên môn.
Đồng thời phải vào sổ tài sản của cơ quan, bàn giao cho cán bộ phụ trách cụ thể, có
chế độ bảo quản, bảo trì bảo dưỡng thường xuyên để các thiết bị luôn luôn hoạt động
tốt. Có kế hoạch khai thác, sử dụng các thiết bị đúng mục đích, hiệu quả.
Trong năm học 2014-2015, trường chúng tôi đã được Sở giáo dục đào tạo cấp cho
một bộ máy tính, máy chiếu và bộ đĩa Kidsmart, Kidspix, UBND Huyện hỗ trợ 1 bộ
máy tính, nhà trường mua sắm thêm 1 bộ máy tính và một màn hình ti vi 40inch, hiện
nay chúng tôi có được một số máy tính và thiết bị như sau:
Tổng số máy trong toàn trường: 10, trong đó 4 máy sử dụng trong công tác quản lý
và 6 máy phục vụ tại lớp, 1 ti vi vừa phục vụ giảng dạy vừa phục vụ hội lễ; 1 bộ máy
chiếu projector:
- Có 5 máy được kết nối internet và có thiết bị Wifi phát trong toàn trường
11
- Có 4 máy được cài đặt phần mềm Kismart phục vụ cho 2 lớp mẫu giáo lớn và hai
lớp mẫu giáo Nhỡ.
- 1 máy được cài đặt phần mềm Permit, quản lý nhân sự
- 1 máy được cài đặt phần mềm Bigtime dành cho kế toán
- Số cán bộ, giáo viên, nhân viên ứng dụng CNTT trong công tác 18/20, đạt tỷ lệ
90%.
Với việc sử dụng số lượng máy và phần mềm như vậy, việc quản lý chất lượng
chăm sóc giáo dục cũng như tài chính trong trường tốt hơn hẳn. Việc thông tin, báo cáo
với cấp trên nhanh nhạy, kịp thời và hiệu quả.
Biện pháp 4: Xây dựng kho tư liệu điện tử, khai thác tư liệu phục vụ việc ứng
dụng CNTT:
Bên cạnh đội ngũ, máy móc thiết bị, thì kho “tư liệu điện tử” là nội dung không thể
thiếu trong quá trình ứng dụng CNTT. Thiết kế một bài giảng điện tử hoặc ứng dụng
CNTT trong các hoạt động giáo dục đòi hỏi tư liệu rất phong phú, phái có quá trình tìm
kiếm hoặc tạo dựng rất công phu. Vì vậy nhà trường đã chung sức xây dựng kho tư liệu
1- Phần mềm kế toán (Big- Dùng trong công tác quản lí tài
Tốt
chính – tài sản
time)
Các trò chơi trí tuệ dùng cho trẻ
2- Phần mềm Kismart
3- Phần mềm phổ cập
Của Bộ Giáo dục &Đào tạo.
4- Phần mềm quản lý chất
Của Bộ Giáo dục &Đào tạo.
lượng trường mầm non
5- Phần mềm quản lý nhân sự
Của Bộ Giáo dục &Đào tạo.
trường mầm non (Permit)
6- Các phần mềm tải trên
Tải miển phí trên mạng Internet.
mạng
7- Phần mềm quản trị hệ
Của Vietel tài trợ
thống trường học – Smas
8 – Phần mềm giáo án điện tử Mua của công ty STC
Miền con của trang Web Phòng
9- Quản lý Webside trường
Giáo dục
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
Tốt
cho trẻ trong việc sử dụng phần mềm như: thi thiết kế giáo án ứng dụng phần mềm
Kidsmart, thi giáo án tạo hình ứng dụng phần mềm Kids Pix, thi ứng dụng phần mềm
Happy Kids trong hoạt động làm quen văn học và chữ viết…
14
Giáo viên ứng dụng CNTT trong giờ thao giảng
Tổ chức các hoạt động nhằm kích thích sự đam mê học tập tin học cho CB,GV và
khuyến khích việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện kế hoạch “đẩy mạnh ứng dụng CNTT…”
Phát động phong trào thi đua thực hiện ứng dụng CNTT với các nội dung thi đua cụ
thể, thiết thực; cuối tháng, năm có đánh giá, khen thưởng:
Thi đua bộ giáo án điện tử hay, đẹp…
Thi đua giảng dạy bằng bài giảng điện tử đạt chất lượng tốt.
c) Hướng dẫn giáo viên trong việc ứng dụng công nghệ thông tin, thiết kế bài dạy:
* Giáo viên phải là người có kế hoạch bài dạy phù hợp:
Trong khi xây dựng ý tưởng, thiết kế bài dạy chúng tôi thường tập trung tổ nhóm
để cùng trao đổi và thiết kế bài dạy dựa vào đó tính đến khả năng của học sinh, kiến
thức trọng tâm để sử dụng các thiết bị hỗ trợ tiết dạy cũng như các nội dung ứng dụng
công nghệ sao cho tiết dạy hẫp dẫn được trẻ và đạt được hiệu quả cao.
*Sưu tầm tranh ảnh, hình ảnh sinh động để đưa vào bài dạy.
Nếu chỉ dừng ở mức độ tranh ảnh với những hình ảnh mờ nhạt, hình ảnh chết
thiếu sinh động, không có nhiều tác dụng tình huống thì sự hứng thú của trẻ và sự tiếp
thu kiến thức ở trẻ sẽ không cao vì vậy chúng tôi đã cùng nhau tìm tòi và sưu tầm tranh
ảnh , những hình ảnh động gần gũi thực tế với trẻ gây cho trẻ sự hứng thú hơn. Nhờ đó
15
mà các em sẽ nắm bài học lâu hơn, tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng trẻ học mà chơi chơi
mà học .
- 100% CBGV nhận thức đúng đắn việc ứng dụng CNTT trong giáo dục mầm non
và áp dụng vào công tác GDMN tại trường.
- Nâng cao trình độ nghiệp vụ tay nghề trong việc sử dụng công nghệ thông tin cho
đội ngũ giáo viên và CBQL
- 90% CBQL, giáo viên, nhân viên biết sử dụng máy vi tính làm hồ sơ mở và khai
thác mạng intenet.
- 70% cán bộ, giáo viên biết sử dụng (máy chiếu) bài giảng điện tử .
- Có 20 giáo án điện tử được giáo viên sử dụng giảng dạy có hiệu quả trong năm
học.
- 100% giáo viên soạn bài trên máy vi tính
- Một số giáo viên đã biết làm các phần mềm (trò chơi) ứng dụng vào việc dạy trẻ .
- 80% trẻ mẫu giáo được vui học Kidsmart.
- Kế toán ứng dụng phần mềm kế toán tốt trong việc quản lí tài chính của nhà
trường .
* Cơ sở vật chất:
- Tổng số máy tính được sử dụng trong nhà trường: 10 cái
Trong đó :
+ Tổng số máy tính được sử dụng trong công tác quản lý: 04
+ Tổng số máy tính dùng cho giáo viên soạn bài và dạy trẻ : 06
+ Số máy tính được kết nối mạng Intenet : 06
- Tổng số phần mềm được sử dụng tại trường: 08
- Số má
*Tổng kinh phí đã chi cho việc ứng dụng CNTT trong hai năm học
Năm học 2013-2014:
Tổng kinh phí: 35.420.000đ (Ba mươi lăm triệu bốn trăm hai mươi ngàn đồng )
Trong đó: - Ngân sách nhà nước: 30.000.000 đ
- Phụ huynh đóng góp: 5.420.000đ
Năm học 2014-2015:
Tổng kinh phí: 82.400.000 (Tám mươi hai triệu bốn trăm ngàn đồng)
17
mạng, làm cơ sở tiến tới một xã hội học tập.
1. Bài học kinh nghiệm
Qua việc nghiên cứu đề tài, trường đã có nhiều cố gắng trong việc ứng dụng
CNTT trong công tác quản lý và dạy học và bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực và
chúng tôi rút ra bài học kinh nghiệm:
- Là người quản lý cần có kế hoạch cụ thể cho mọi công tác trong nhà trường, cũng
như kế hoạch hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong từng năm học.
- Công tác bồi dưỡng CBGV và nhân viên nói chung, đặc biệt là việc bồi dưỡng kỹ
năng sử dụng máy tính và ứng dụng các phần mềm vào lĩnh vực công tác là việc làm
thường xuyên liên tục.
- Bên cạnh đó, việc bồi dưỡng đội ngũ, mua sắm máy móc thiết bị và xây dựng kho
tư liệu, phải tiến hành đồng thời, liên tục. Bởi chỉ lo mua sắm máy móc thiết bị, không
chăm lo bồi dưỡng đội ngũ thì không sử dụng thiết bị, ngược lại bồi dưỡng đội ngũ mà
không có máy móc thì không thể bồi dưỡng được. Đội ngũ được bồi dưỡng tốt sẽ sử
dụng thiết bị đúng kỹ thuật, tăng tuổi thọ thiết bị và hiệu quả công tác. Khi ứng dụng có
hiệu quả, đội ngũ sẽ ham mê học tập…Như vậy mối quan hệ của ba điều kiện để ứng
dụng CNTT là mối quan hệ biện chứng.
- Quá trình ứng dụng là quá trình thực hiện đồng bộ các hoạt động: Vừa bồi dưỡng
đội ngũ, vừa đầu tư mua sắm thiết bị, vừa xây dựngvà tổ chức ứng dụng trên mọi lĩnh
vực quản lý và giảng dạy để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác.
19
- Do vậy các hoạt động trên đều có quan hệ giữa mục đích và phương tiện, nó thúc
đẩy nhau cùng phát triển. Chúng ta không thể chờ đợi có đủ điều kiện mà điều kiện đó
chúng ta phải chủ động tạo dựng nên; khi có điều kiện chúng ta dễ đạt mục đích hơn thì
tự nhiên mọi người sẽ hăng say tạo dựng các điều kiện tốt hơn.
2. Kiến nghị, đề xuất:
Quá trình thực hiện đề tài còn có những khó khăn vướng mắc, chúng tôi một số
kiến nghị như sau: