TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC
THẨM MỸ THÔNG QUA MÔN HỌC
TẠO HÌNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở
TRƢỜNG MẦM NON TRƢNG NHỊ - THỊ XÃ
PHÚC YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S TRỊNH THỊ XINH
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khóa luận này, được sự giúp đỡ,
chỉ bảo tận tình của Th.S Trịnh Thị Xinh, tôi đã từng bước tiến hành và hoàn
thành khóa luận với đề tài: Tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ thông
qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu giáo lớn ở trƣờng mầm non Trƣng
Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Khoa Giáo dục Tiểu học, cô
Trịnh Thị Xinh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Ban Giám hiệu trường
Mầm non Trưng Nhị đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Hoạt động tạo hình
3
MTXQ
Môi trường xung quanh
4
NXB
Nhà xuất bản
5
TMGL
Trẻ mẫu giáo lớn
6
TCTM
Tình cảm thẩm mỹ
7
TEMG
1.1.1.2. Khái niệm thẩm mỹ.................................................................... 5
1.1.1.3. Giáo dục thẩm mỹ ...................................................................... 6
1.1.2. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo ................................................ 6
1.1.2.1. Khái niệm trẻ em........................................................................ 6
1.1.2.2. Khái niệm trẻ em mẫu giáo ........................................................ 7
1.1.2.3. Khái niệm GDTM cho trẻ em mẫu giáo .................................... 7
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của GDTM cho trẻ mẫu giáo ................................. 7
1.2. GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua môn học tạo hình ........................... 9
1.2.1. Một số vấn đề về hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo ................... 9
1.2.1.1. Khái niệm hoạt động tạo hình .................................................... 9
1.2.1.2. Nguồn gốc, bản chất của hoạt động tạo hình ........................... 10
1.2.1.3. Đặc điểm và khả năng tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn.............. 11
1.2.2. GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua môn học tạo hình .................. 13
1.2.2.1. Vai trò của HĐTH đối với việc GDTM cho trẻ ...................... 13
1.2.2.2. Ý nghĩa của GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua hoạt động tạo
hình........................................................................................................ 14
1.2.2.3. Giáo dục cái đẹp thông qua HĐTH ......................................... 15
1.2.2.4. Các phương pháp dạy học thường được sử dụng trong môn học
tạo hình nhằm GDTM cho trẻ ............................................................... 17
1.2.2.5. Các hình thức tổ chức HĐTH cho trẻ mầm non ...................... 19
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ THÔNG QUA
MÔN HỌC TẠO HÌNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM
NON TRƯNG NHỊ - THỊ XÃ PHÚC YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC .............. 23
2.1. Một số nét về khách thể nghiên cứu ..................................................... 23
2.2. Thực trạng về việc GDTM thông qua môn học tạo hình cho TMGL ở
trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc ................ 24
2.2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên về vai trò của việc GDTM
thông qua môn học tạo hình cho TMGL (5 - 6 tuổi)................................ 25
Hoạt động tạo hình còn phát triển ở trẻ khả năng quan sát, trí tưởng
tượng sáng tạo, khả năng phối hợp giữa mắt và tay, hoàn thiện một số kỹ năng
cơ bản (vẽ, nặn, xé dán, cắt...). Đặc biệt trong giờ học vẽ trẻ thích tự tay vẽ
được một cái gì đó dù các hình còn đơn giản như ông mặt trời, bông hoa, ô
tô… nhưng mang lại cho trẻ cảm xúc thực sự khi tạo ra được một sản phẩm.
Còn đối với những gì trẻ không thích, không hứng thú thì sẽ vẽ đại khái cho
xong và cảm thấy hài lòng, hơn nữa tư duy của trẻ gắn liền với cảm xúc, ý
muốn chủ quan nên trẻ ghi nhớ những gì trẻ cảm thấy thích thú và say mê
thực hiện ý tưởng của mình. Ngoài ra giờ vẽ còn hình thành ở trẻ những kỹ
năng như ngồi ngay ngắn, kỹ năng cầm bút… những kỹ năng rất cần thiết cho
trẻ bước vào lớp 1.
Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn ở trường Mầm non, đa số trẻ chưa phát huy hết khả năng
sáng tạo. Các phương pháp HĐTH lâu nay đang được sử dụng còn mang tính
áp đặt, dập khuôn theo mẫu, sao chép chưa phát huy hết khả năng sáng tạo và
sự linh hoạt của người giáo viên khi tổ chức HĐTH. Do đó, việc GDTM cho
trẻ qua môn học tạo hình chưa đạt được kết quả cao. Vậy giáo viên phải làm
gì, làm như thế nào để có thể nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
thông qua môn học tạo hình.
1
Nhận thấy tầm quan trọng của môn học tạo hình tôi đã lựa chọn đề tài
“Tìm hiểu thực trạng GDTM thông qua môn học tạo hình cho TMGL ở
trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề này như:
C.Mac, Ănghen trong tuyển tập, T1, NXB Sự thật, Hà Nội (1980) đã
đưa ra quan điểm về cái đẹp: “Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của
giác sự vật hiện tượng xung quanh, từ đó phát triển óc sáng tạo, ham muốn tạo
ra cái đẹp. Qua tìm hiểu đề tài này, còn giúp giáo viên trau dồi những kiến thức
chuyên môn nghiệp vụ, phục vụ cho công tác giảng dạy sau này.
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: nghiên cứu trên 100 trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi
tại trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đối tượng nghiên cứu: GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu
giáo lớn ở trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Phạm vi nghiên cứu
Việc GDTM cho trẻ trong trường mầm non được thực hiện ở tất cả các
độ tuổi và có thể thực hiện bằng nhiều con đường và ở nhiều mức độ khác
nhau. Nhưng do thời gian và điều kiện có hạn nên trong đề tài này tôi chỉ tìm
hiểu và nghiên cứu thực trạng GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu
giáo lớn ở trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu các vấn đề lý luận về GDTM và HĐTH của trẻ mẫu giáo lớn.
Tìm hiểu thực trạng GDTM thông qua môn học tạo hình cho trẻ mẫu
giáo lớn ở trường mầm non Trưng Nhị - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc và
bước đầu đề xuất một số biện pháp để khắc phục và nhằm nâng cao chất
lượng của GDTM qua môn học này.
3
7. Giả thuyết khoa học
Việc GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua môn học tạo hình chưa đạt
được kết quả cao. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng
đó là do chất lượng tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ của đội ngũ giáo viên
và điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường chưa được đảm bảo.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
1.1.1.1. Khái niệm giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ
chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo
dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành
nhân cách cho họ.
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo
dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,
những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức
cho họ các hoạt động và giao lưu.
1.1.1.2. Khái niệm thẩm mỹ
Quan điểm về thẩm mỹ (cái đẹp) đã xuất hiện rất lâu trong lịch sử xã
hội loài người nói chung và trong triết học nói riêng. Đã có rất nhiều những
quan điểm của các nhà Mỹ học về cái đẹp.
Theo Mác: “Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà
còn là cái chuẩn để chỉ phẩm chất người”. Mác viết “súc vật chỉ nhào nặn vật
chất theo thước đo giống loài nó, còn con người thì có thể áp dụng thước đo
và thích dụng cho mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất
theo quy luật của cái đẹp” (C.Mac, Ănghen trong tuyển tập, T1, NXB Sự
Thật, Hà Nội 1980, trang 19).
Như vậy, thẩm mỹ (cái đẹp) gắn bó với phẩm chất sáng tạo của con
người, gắn với quá trình hoàn thiện, hoàn mỹ. Hay cái đẹp là sự hài hòa, sự
cân đối trong đời sống vật chất lẫn tinh thần.
5
1.1.1.3. Giáo dục thẩm mỹ
Khái niệm giáo dục thẩm mỹ trong mỹ học Mác - Lênin được xác định
ở hai nghĩa:
Ở nghĩa hẹp, đó là giáo dục quy về cái đẹp, giáo dục cho con người biết
động, phát triển theo quy luật riêng của trẻ. Ngay từ khi ra đời là một con
người, có nhu cầu giao tiếp với người lớn. Sự phát triển giữa trẻ và người lớn
là về chất.
1.1.2.2. Khái niệm trẻ em mẫu giáo
Trẻ em mẫu giáo là trẻ em trong độ tuổi từ 3 - 6 tuổi. Từ lúc lọt lòng
cho đến 6 tuổi nói chung và TEMG nói riêng là một quãng đời có tầm quan
trọng đặc biệt trong quá trình phát triển chung của trẻ. E.L.N. Tonxtôi đã nhận
định khi nhấn mạnh ý nghĩa của thời kỳ đó rằng: tất cả những cái gì mà đứa
trẻ có sau này khi trở thành người lớn đều thu nhận được trong thời thơ ấu.
Trong quãng đời còn lại những cái mà nó thu nhận được chỉ đáng một phần
trăm những thứ đó mà thôi.
1.1.2.3. Khái niệm GDTM cho trẻ em mẫu giáo
GDTM cho TEMG là một quá trình sư phạm nhằm hình thành và phát
triển ở trẻ em năng lực ban đầu về cảm thụ và nhận biết đúng đắn cái đẹp
trong tự nhiên, trong đời sống sinh hoạt xã hội và trong nghệ thuật, giáo dục
trẻ lòng yêu cái đẹp, sống theo cái đẹp và biết tạo ra cái đẹp trong cuộc sống.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của GDTM cho trẻ mẫu giáo
GDTM là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện với
thế hệ trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo. Do những đặc điểm
tâm lý ở lứa tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ “hoàng kim” của GDTM.
GDTM là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích vào nhân
cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong
tự nhiên và trong đời sống xã hội, giáo dục lòng yêu cái đẹp và đưa cái đẹp
vào trong đời sống một cách sáng tạo.
7
Trong giáo dục học, nếu coi cấu trúc nhân cách trẻ em bao gồm bốn
mặt: thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ thì ở trẻ mẫu giáo mặt thẩm mỹ phát
cho trẻ mẫu giáo. Đứa trẻ ở độ tuổi này không thể tiếp nhận những lý sự khô
khan về lẽ phải và cũng dễ khước từ những rao giảng buồn tẻ về điều kiện,
trái lại trẻ rất nhạy cảm với những điều đó nếu chúng được biểu hiện dưới
hình thức sinh động và giàu màu sắc cảm xúc. GDTM khơi dậy ở các em tính
tích cực sáng tạo và sự tự giác sắc bén hơn. Qua giáo dục cái đẹp trẻ được tiếp
xúc, khám phá môi trường xung quanh sẽ làm cho trí tưởng tượng của trẻ
phong phú hơn, trẻ chú ý ghi nhớ, tư duy sâu sắc hơn để đưa những hình ảnh
mà chúng thấy được vào trong tác phẩm nghệ thuật tạo hình của mình góp
phần phát triển nhận thức.
- Với giáo dục lao động và thể chất: GDTM có mối liên hệ trực tiếp với
giáo dục lao động và thể chất. Bản thân lao động được tổ chức tốt là một
phương tiện GDTM. Toàn bộ vẻ đẹp của hoàn cảnh và sự tổ chức quá trình
lao động có tác dụng tăng năng suất lao động. Qua việc tiếp xúc, khám phá
tìm hiểu cái đẹp trẻ hứng thú và làm việc say mê, tích cực hơn. Sức khỏe và
phát triển thể lực tốt, tư thế đẹp bao giờ cũng gây ra cảm giác đẹp mắt và có
tác dụng thẩm mỹ đến sự phát triển chung về mặt tinh thần của con người, vẻ
đẹp của các thao tác, vận động của nhịp điệu kích thích hứng thú của trẻ đối
với việc tập thể dục.
Như vậy, GDTM là một bộ phận của giáo dục xã hội chủ nghĩa. Góp
phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách, phát triển toàn diện.
1.2. GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua môn học tạo hình
1.2.1. Một số vấn đề về hoạt động tạo hình cho trẻ mẫu giáo
1.2.1.1. Khái niệm hoạt động tạo hình
Trong Từ điển Tiếng Việt, tác giả Hoàng Phê đã giải thích tạo hình là
tạo ra các hình thể bằng đường nét, màu sắc, hình khối.
Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ
nhằm đạt được một mục đích nhất định trong đời sống xã hội.
9
Khi xét ở phạm vi hẹp - trong các hoạt động đa dạng của lứa tuổi mầm
non, HĐTH được coi là một hoạt động mang tính sáng tạo nghệ thuật. Đó là một
quá trình phản ánh những ấn tượng từ cuộc sống xã hội, là quá trình thể hiện
những suy nghĩ, tình cảm của trẻ đối với thế giới xung quanh bằng các phương
tiện, chất liệu nghệ thuật thông qua các hình tượng mang tính nghệ thuật.
Xem xét nguồn gốc tạo hình của trẻ em, nhiều nhà nghiên cứu
(J.Piaget, G.H. Luquet, L.X. Vưgotxki,…) đã khẳng định rằng, cội nguồn của
sự phát triển hoạt động tạo hình chính là sự bắt chước, là sự hình thành và
phát triển chức năng ký hiệu.
1.2.1.3. Đặc điểm và khả năng tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn
Đặc điểm hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn:
Để có một khả năng phát triển tạo hình cần phải trải qua một qua trình
liên tục có hệ thống. Nếu như tuổi mẫu giáo bé là nền tảng sự phát triển khả
năng tạo hình cho lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, thì lứa tuổi mẫu giáo nhỡ lại là cầu
nối cho sự phát triển tạo hình ở lứa tuổi mẫu giáo lớn, vốn được coi là bước
đệm hết sức cần thiết để chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. Mỗi lứa tuổi đều có một
vai trò nhất định trong quá trình phát triển khả năng tạo hình của trẻ. Đó là
mối quan hệ xuyên suốt không thể tách rời.
Chính vì vậy ở mỗi lứa tuổi đều cần có những yêu cầu riêng biệt để phù
hợp với tâm lý trẻ. Tuổi mẫu giáo lớn trẻ đã có sự phát triển mạnh về thể lực và
sự khéo léo của đôi bàn tay. Vì vậy trẻ miêu tả được đặc điểm về hình dáng,
đường nét, bố cục và các mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng khi vẽ, nặn,
cắt, xé, dán. TMGL tìm hiểu cái đẹp trong ảnh, đồ dùng, đồ chơi và trong thiên
nhiên, nhận biết sự thay đổi của thiên nhiên và loài vật qua màu sắc, hình dáng,
bố cục. Trẻ có thể diễn đạt những cảm xúc của mình bằng lời và bằng sản
phẩm một cách có mục đích. Ở tuổi mẫu giáo lớn trẻ đã biết bàn bạc để nêu lên
ý định chung khi tạo sản phẩm tập thể. Biết tự giới thiệu sản phẩm của mình và
11
12
+ Tuy nhiên bài vẽ của một số trẻ ở lứa tuổi này còn có một số điểm
lưu ý như hình vẽ còn nhỏ và đều làm cho bài vẽ vụn, xếp hình nhiều bài vẽ
trở nên rối, sắp xếp hình vẽ như kể, liệt kê…
- Về vẽ màu: vẽ màu tươi sáng, đã chú ý đến độ đậm nhạt của màu gọn
trong hình. Tuy nhiên, trẻ khi vẽ màu thường di nhiều lần làm cho lì, bong
lên, không đẹp; còn yếu về màu bột, màu nước.
- Về xếp hình: trẻ xếp được hình theo ý thích, hình xếp rõ nội dung như
gia đình, lễ hội, trường học…
- Về xé dán: trẻ xé được một số hình đã rõ đặc điểm, xé thêm các bộ
phận, chi tiết của đối tượng và sắp xếp hình theo đề tài.
- Về nặn:
+ Trẻ có thể nặn được quả, cây, các con vật quen thuộc, dáng người rõ
đặc điểm qua các bộ phận chính.
+ Nặn được các chi tiết phù hợp với đối tượng, tạo được dáng: đi, chạy,
nhảy hay đang làm việc.
+ Sắp xếp nặn thành một đề tài.
Trên đây là những đặc điểm tạo hình của trẻ mẫu giáo lớn. Tuy nhiên
nó không phải là chuẩn mực, chính xác với tất cả.
1.2.2. GDTM cho trẻ mẫu giáo thông qua môn học tạo hình
1.2.2.1. Vai trò của HĐTH đối với việc GDTM cho trẻ
Với tư cách là hoạt động nghệ thuật, HĐTH tạo nên nhưng điều kiện
thuận lợi nhất cho sự phát triển cảm giác, tri giác thẩm mỹ, việc quan sát, tìm
hiểu các sự vật hiện tượng giúp trẻ nhận ra các đặc điểm thẩm mỹ (hình dáng,
màu sắc, tỷ lệ, sự sắp xếp trong không gian,…), nhận ra nét độc đáo tạo nên
sự hấp dẫn của đối tượng miêu tả.
Các đặc điểm thẩm mỹ phong phú, đa dạng của đối tượng miêu tả là
Hoạt động tạo hình lấy GDTM làm mục đích. Như vậy góp phần thực
hiện mục tiêu giáo dục nói chung là giáo dục phát triển toàn diện cả về đạo
14
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, lao động. Vì thế trong chương trình các cấp
học đều có nội dung GDTM. GDTM thông qua môn học (văn học, mỹ thuật,
âm nhac, kịch…). Ở trường mầm non, chương trình HĐTH chiếm khá nhiều
thời lượng và thông qua nhiều bài học như: vẽ, nặn, xé dán, chắp ghép, và làm
quen với các tác phẩm tạo hình. Tất cả các HĐTH ở trường mầm non đều
hướng đến GDTM cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, làm quen và tập tạo
ra cái đẹp để trẻ nâng cao nhận thức thẩm mỹ và vận dụng những hiểu biết về
cái đẹp vào trong đời sống hàng ngày, từ đó trẻ có ý thức tôn trọng và bảo vệ
cái đẹp.
1.2.2.3. Giáo dục cái đẹp thông qua HĐTH
Về hoạt động vẽ
Đối với trẻ em, vẽ chính là sự thể hiện những biểu tượng, ấn tượng, suy
nghĩ và tình cảm của trẻ. Là sự giao tiếp, “nói chuyện” bằng các hình thức,
phương tiện mang tính vật thể. Vẽ giúp trẻ suy nghĩ và hình thành các ý tưởng
sáng tạo. Đây đồng thời là một hình thức rèn luyện trí tuệ, là quá trình tư duy
thông qua các hình thức vật thể, trực quan.
- Vào tuổi lên ba thì đứa trẻ mới dùng lời nói để đặt tên cho những cái
mà nó định vẽ, mặc dù khi vẽ ra thì không giống với cái định vẽ, nhưng đây là
thời điểm rất quan trọng và sự diễn đạt ý định vẽ bằng lời nói chính là thời
điểm bắt đầu của HĐTH. Khi đứa trẻ nói lên ý định vẽ một cái gì đó tức là nó
đã nhìn thấy hình ảnh đồ họa tương tự và muốn vẽ lại cái đó, cũng tức là nó
bắt chước các nét vẽ của người lớn nhằm miêu tả một cái gì đó, nhưng đã giản
lược đi rất nhiều.
- Đến tuổi mẫu giáo thì phần lớn trẻ bước sang giai đoạn tạo hình, nếu
theo ý thích của mình.
- Cần tạo ra các kiểu tạo hình khác nhau mang tính chất thủ công như
cắt dán, chắp ghép. Đây là một công trình mang tính tổng hợp, như vậy thu
hút nhiều trẻ tham gia, sáng kiến của các cháu sẽ bổ sung cho nhau, tạo nên
năng khiếu thẩm mỹ phong phú.
16
Về trò chơi xây dựng
- Trò chơi xây dựng là trò chơi biểu hiện khả năng tạo hình nhiều nhất.
Chỉ cần những mẩu gỗ hay nhựa với các hình dạng và màu sắc khác nhau trẻ
có thể lắp ráp, xây dựng những công trình kiến trúc đẹp đẽ.
- Ngoài gỗ và nhựa ra, vật liệu xây dựng còn bao gồm nhiều thứ khác
như bao diêm, hộp giấy, nắp chai… đặc biệt là những vật liệu từ thiên nhiên
như vỏ nghêu, sò, ốc, hến… Với con mắt của trẻ thơ tất cả các vật liệu ấy
trong phút chốc đều có thể thành “công trình xây dựng” lí thú. Trong những
công trình này sáng kiến của trẻ được bộc lộ rõ nét. Việc hướng dẫn của
người lớn sẽ giúp trẻ có thể hình thành ý đồ xây dựng rõ ràng, biết chọn vật
liệu phù hợp, đẹp mắt, pha trộn màu sắc hài hòa. Tránh áp đặt một cách cứng
nhắc các mẫu có sẵn buộc các cháu phải làm theo.
1.2.2.4. Các phương pháp dạy học thường được sử dụng trong môn học tạo
hình nhằm GDTM cho trẻ
“Phương pháp” là cách thức hướng dẫn HĐTH cho trẻ mầm non chính
là hệ thống hoạt động qua lại của nhà sư phạm với trẻ để HĐTH nhận thức
thẩm mỹ và hoạt động thực tiễn cho trẻ nhằm bồi dưỡng các năng lực tạo hình
giúp trẻ nắm được các hiểu biết cũng như các kỹ năng, kỹ xảo tạo hình, hình
thành phát triển ở trẻ khả năng sáng tạo.
Trong đề tài này sử dụng 4 nhóm phương pháp: nhóm phương pháp
thông tin - tiếp nhận, nhóm phương pháp thực hành - ôn luyện, nhóm phương
quả của toàn bộ quá trình tạo hình, dùng lời phải được xác định và phải sử
dụng phù hợp với nội dung thông tin và ngữ cảnh. Lời giải thích phải rõ ràng,
ngắn gọn, dễ hiểu, những lời nói mô tả vẻ đẹp của sự vật phải sinh động, đầy
tính hình tượng và gợi cảm.
Nhóm phương pháp thực hành - ôn luyện
Là hoạt động của cả giáo viên và trẻ nhằm củng cố tri thức, bồi dưỡng
kỹ năng, rèn luyện, hình thành các kỹ sảo trong hoạt động tạo hình. Muốn trẻ
18