BÁO CÁO ĐỀ DẪN
HỘI THẢO CHUYÊN ĐỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG
TRUNG HỌC CƠ SỞ
1. Ngữ văn là một trong những môn học có tầm quan trọng hàng đầu trong
nhà trường phổ thông. Đây là môn học xuyên suốt ở nhiều cấp học, bậc học. Theo
đó, mục tiêu của môn học không chỉ thể hiện ở tính nhân văn (góp phần hình thành,
bồi đắp những tư tưởng, tình cảm và phẩm chất nhân văn cao đẹp của người học,
hướng con người đến cái chân, thiện, mĩ) mà còn thể hiện ở tính chất công cụ của
nó: giúp học sinh hình thành năng lực Ngữ văn bao gồm năng lực tiếp nhận văn bản
(khả năng lĩnh hội, nắm bắt được các thông tin chủ yếu; từ đó hiểu đúng, hiểu thấu
đáo, thấy cái hay, cái đẹp của văn bản, nhất là văn bản văn học) và năng lực tạo lập
văn bản (khả năng biết viết, biết tổ chức, xây dựng một văn bản hoàn chỉnh đúng
quy cách và có ý nghĩa) từ đó biết cách vận dụng vào thực tiễn cuộc sống một cách
hiệu quả nhất (giao tiếp, ứng xử hàng ngày; phỏng vấn, sát hạch xin việc làm;
thưởng thức nghệ thuật…).
2. Dễ thấy trong bối cảnh hiện nay, môn Ngữ văn nói riêng, các môn khoa
học xã hội nói chung trong nhà trường phổ thông đang bị rơi dần vào quên lãng. Sự
phát triển của công nghệ thông tin, sự sùng bái vật chất, sự lên ngôi của tâm lí thực
dụng, sự xuống cấp của văn hóa đạo đức cộng với áp lực thi cử vào các ngành kinh
tế, khả năng tìm việc làm sau khi ra trường... đã khiến cho các em học sinh không
còn nhiều hào hứng với các giờ học Ngữ văn. Ở mỗi tiết học, lẽ ra học sinh là những
diễn viên thực thụ, tự mình tìm hiểu, khám phá kiến thức bài học dưới sự hướng dẫn
của người đạo diễn là thầy cô giáo thì trớ trêu thay thầy cô giáo cùng lúc lại vừa
đóng vai là đạo diễn vừa kiêm cả diễn viên chính. Ở đó, sự tương tác, đối thoại tích
cực đúng ra được diễn ra giữa thầy với trò, trò với trò thì lại được thay thế bằng màn
độc thoại của thầy, điểm xuyết vào đó là những câu trả lời của học sinh để màn “độc
diễn” của thầy bớt đơn điệu hơn. Kết quả mang lại sau khi kết thúc giờ học là những
tiếng thở phào nhẹ nhõm; những lỗi sai ngớ ngẩn, vô tội vạ về chính tả, dùng từ, đặt
câu của các em trong các bài kiểm tra; tình trạng học sinh không viết nổi một tờ giấy
xin phép, một biên bản sinh hoạt lớp, một lá đơn xin việc hay hoàn toàn vô cảm
xem như là một trong những bước đột phá để nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn
trong nhà trường phổ thông nói chung, trường THCS nói riêng. Nhận thức rõ điều
đó,Sở GDĐT tổ chức Hội thảo nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn trong nhà
trường THCS.Mục tiêu của Hội thảo lần này nhằm rà soát quá trình kiểm tra, đánh
giá môn học Ngữ văn trong nhà trường THCS để nhận diện rõ những khó khăn, bất
cập trong quá trình kiểm tra đánh giá môn học. Trên cơ sở đó, Hội thảo sẽ xác định
hệ thống giải pháp để đưa ra những định hướng đổi mới, có tính chất đặc thù phù
hợp với môn học và với đối tượng học sinh ở nhiều vùng miền khác nhau trên địa
bàn tỉnh. Theo đó, nội dung của Hội thảo tập trung vào các vấn đề sau:
- Biên soạn đề kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn theo định hướng phát triển
năng lực học sinh
- Cách thức hướng dẫn học sinh ôn luyện phần đọc hiểu trong đề kiểm tra
môn Ngữ văn.
- Hướng dẫn học sinh giải quyết một đề bài lí luận văn học.
4. Hội thảo nâng cao chất lượng dạy học Ngữ văn trong nhà trường THCSlần
này đã thu hút được sự quan tâm đông đảo của nhiều thế hệ nhà giáo, cán bộ quản lí
trong trường THCS, THCS và THPT, Phòng GDĐT... Ban tổ chức đã nhận được 32
bài tham luận gửi tới Hội thảo, với nội dung tập trung vào những vấn đề có ý nghĩa
thiết thực, quan trọng và cần thiết cho quá trình dạy học Ngữ văn trong nhà trường
phổ thông. Theo đó, nhiều bài viết đã cho thấy sự đầu tư công phu, nghiêm túc và
thể hiện rõ những trăn trở tâm huyết của các thầy cô giáo đang ngày ngày thắp lửa,
giữ lửa và truyền lửa cho học sinh trong quá trình dạy học Ngữ văn. Với nội dung
phong phú, sâu sắc của các bài tham luận từ nhiều thế hệ nhà giáo, Hội thảo hi vọng
sẽ thu được những kết quả tốt đẹp, những định hướng đúng đắn, những phương
pháp - biện pháp khả thi, tích cực để nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi
nói riêng, dạy học môn Ngữ văn nói chung trong nhà trường hiện nay./.
BAN TỔ CHỨC
2
II. GIẢI PHÁP: Hướng dẫn soạn câu hỏi, bài tập kiểm tra đánh giá theo
định hướng năng lực của HS
1. Đặc điểm của đánh giá theo định hướng năng lực
Năng lực Ngữ văn được xác định là khả năng của mỗi học sinh thể hiện trong
việc thực hiện những mục tiêu kiến thức, kỹ năng, thái độ mà các em đã có sẵn hoặc
tiếp thu được và vận dụng trong quá trình học tập để từ đó hình thành và phát triển
các năng lực:
- Năng lực sử dụng Tiếng Việt thể hiện ở 4 kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết);
- Năng lực tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mỹ;
- Năng lực tự học;
- Năng lực thực hành, ứng dụng (trong đó chú trọng tới việc giải quyết tình
huống thực tiễn)
a. Giữa đánh giá theo định hướng năng lực HS và đánh giá theo chuẩn kiến
thức kỹ năng, đánh giá theo định hướng năng lực được coi là bước phát triển cao
hơn của đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng.
4
Lý do: Đánh giá theo chuẩn kiến thức kỹ năng chủ yếu thiên về đánh giá mức
độ ghi nhớ, tiếp nhận, tái hiện, phát hiện kiến thức và rèn kỹ năng của người học;
còn đánh giá theo định hướng năng lực quan tâm nhiều đến sự tiến bộ và khả năng
của học sinh được bộc lộ trong quá trình học tập; kích thích được sự tự kiểm tra
đánh giá của các em và kiểm định được chính xác, khách quan thành quả học tập và
mức độ đạt được mục tiêu dạy học từ đó. Chú trọng việc chấm chữa bài kiểm tra.
b. Không lấy việc kiểm tra đánh giá theo kiến thức kỹ năng đã học làm trung
tâm mà chú trọng khả năng vận dụng kiến thức kỹ năng trong những tình huống
khác nhau. Đánh giá theo định hướng năng lực chú ý đến các nội dung đánh giá
mang tính tổng hợp, tích hợp hướng tới những câu hỏi gắn với việc giải quyết các
tình huống thực tiễn trong cuộc sống phù hợp với học sinh; giúp các em biết ứng
nắm bắt được ý nghĩa, chuyển tải kiến thức từ dạng này sang dạng khác, diễn giải
các dữ liệu, so sánh, đối chiếu tương phản, sắp xếp thứ tự, sắp xếp theo nhóm, suy
diễn các nguyên nhân, dự đoán các hệ quả. Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở cấp độ
2 có thể quy về nhóm động từ: hiểu được, trình bày được, mô tả được, diễn giải
được,...
- Vận dụng: kết nối và sắp xếp lại các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết
thành công tình huống, vấn đề tương tự tình huống, vấn đề đã học; Động từ mô tả
yêu cầu cần đạt ở cấp độ 3 có thể quy về nhóm động từ: vận dụng được, giải thích
được, giải được bài tập, làm được...
- Vận dụng cao: vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình
huống, vấn đề mới, không giống với những tình huống, vấn đề đã được hướng dẫn;
đưa ra những phản hồi hợp lí trước một tình huống, vấn đề mới trong học tập hoặc
trong cuộc sống. Nội dung thể hiện ở việc phân tích nhận ra các xu hướng, cấu trúc,
6
những ẩn ý, các bộ phận cấu thành, thể hiện ở việc sử dụng những gì đã học để tạo
ra nhữg cái mới, khái quát hóa từ các dữ kiện đã biết, liên hệ những điều đã học từ
nhiều lĩnh vực khác nhau, dự đoán, rút ra các kết luận, thể hiện ở việc so sánh và
phân biệt các kiến thức đã học, đánh giá giá trị của các học thuyết, các luận điểm,
đưa ra quan điểm lựa chọn trên cơ sở lập luận hợp lý, xác minh giá trị của chứng cứ,
nhận ra tính chủ quan, có dấu hiệu của sự sáng tạo. Động từ mô tả yêu cầu cần đạt ở
cấp độ 4 có thể quy về nhóm động từ: phân tích được, so sánh được, giải thích được,
giải được bài tập, suy luận được, thiết kế được...
Bước 4:Lập ma trận đề
Việc biên soạn câu hỏi bám vào ma trận đề kiểm tra đã thiết lập để thực hiện
định hướng phát triển năng lực của học sinh.
Bước 5:Biên soạn câu hỏi, hướng dẫn chấm
Biên soạn câu hỏi, bài tập kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học ứng với
Bước 6: Xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra:
- Phát hiện những sai sót trong từng câu hỏi, đáp án và thang điểm về nội
dung cũng như cách trình bày;
- Đối chiếu câu hỏi với ma trận để kiểm tra về sự phù hợp giữa chúng;
- Đối chiếu nội dung câu hỏi với chuẩn kiến thức kĩ năng, với nội dung
chương trình và trình độ của học sinh.
* Một số lưu ý: Câu hỏi tự luận và bài viết: trên cơ sở kiến thức kỹ năng cần
đảm bảo các yêu cầu sau:
1. Tính tích hợp
Vì kiến thức trong môn Ngữ văn không học một cách riêng lẻ mà thường
được khai thác dựa trên các đoạn trích hoặc văn bản. Điều này không chỉ giúp học
sinh có kỹ năng đọc và tiếp nhận văn bản dưới góc độ ngôn ngữ mà còn trang bị cho
các em những hiểu biết về các kiến thức làm văn hoặc ngược lại. Do đó câu hỏi
kiểm tra ngoài việc ghi nhớ, tái hiện còn yêu cầu học sinh nhận diện chúng trong các
tình huống cụ thể, hiểu ý nghĩa sử dụng của chúng trong đoạn trích hoặc văn bản.
2. Tính ứng dụng thực tiễn
Năng lực Ngữ văn của học sinh thể hiện ở kết quả thực hành các kỹ năng mà
học sinh có được từ các bài học. Những kỹ năng này còn được thể hiện trong việc
ứng dụng vào các tình huống đa dạng trong cuộc sống. Do đó việc kiểm tra, đánh
giá năng lực học tập của học sinh lý tưởng nhất là thiết kế được một bài tập thực
hành tổng hợp, trong đó có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc tiếp nhận và tạo lập văn
bản. Chú trọng tính chất gần gũi, thiết thực, hữu ích, gắn với những tình huống có
thực hoặc giả định nhưng gần với thực tiễn cuộc sống.
Ví dụ: với chủ đề truyện dân gian lớp 6 có thể đưa ra câu hỏi:
Câu 1. Từ việc được chứng kiến những trận bão số 12 vừa qua, em hãy giải
thích tại sao trong các cuộc giao tranh quyết liệt giữa thần nước và thần núi trong
truyền thuyết "Sơn Tinh, Thủy Tinh" tác giả dân gian để thần nước phải ngậm ngùi
rút quân?
Câu 2. Trong giấc mơ em gặp Thủy Tinh, em hãy kể lại cuộc gặp gỡ tình cờ
đó?
sĩ kia đi qua những thử thách.
(Nguyễn Đình Thi, Tia nắng, NXB Văn học, Hà Nội - 1983)
Từ ý nghĩa văn bản trên, em hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 1,5 trang giấy
thi) trình bày suy nghĩ của em về Nơi dựa của mỗi người trong cuộc sống.
III. KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ
Việc kiểm tra đánh giá phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
Đảm bảo tính khách quan, chính xác.
Đảm bảo tính toàn diện.
Đảm bảo tính hệ thống.
Đảm bảo tính công khai và phát triển.
Đảm bảo tính công bằng.
Do yêu cầu của đặc trưng bộ môn nên kiểm tra đánh giá trong môn Ngữ văn
nhằm mục đích đánh giá học sinh một cách toàn diện về hai năng lực đọc hiểu văn
bản và tạo lập văn bản, tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện các kỹ năng
nghe, nói, đọc, viết và cảm xúc thẩm mỹ. Những năng lực này được cụ thể hóa trong
chuẩn chương trình môn học với những yêu cầu cần đạt trên cả ba mặt: kiến thức,
kỹ năng và thái độ./.
9
CÁCH BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Lê Thị Hà - Trường THCS Lê Hoàn, Tây Hòa
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
- Trong quá trình đổi mới giáo dục, việc đổi mới nội dung phương pháp dạy
học được chú trọng và xem như một khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục.
Đổi mới dạy học cần hình thức kiểm tra tương xứng để tạo ra động lực thúc đẩy
nâng cao chất lượng dạy học. Vì vậy đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy
tính tích cực của học sinh là rất cần thiết nhằm phát triển năng lực, trí thông minh,
kiến thức kĩ năng trong những tình huống khác nhau; chú ý đến kiểu câu hỏi giúp
10
học sinh bộc lộ được những suy nghĩ, quan điểm cá nhân, phát triển tư duy phản
biện, tư duy sáng tạo, khuyến khích cách lập luận trái chiều.
Ví dụ: Thay vì đặt câu hỏi thiên về học thuộc máy móc, không phát huy được
sự sáng tạo của học sinh: Em hãy đọc thuộc lòng bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của
Thanh Hải và cho biết nội dung nghệ thuật của bài?
Chúng ta có thể thay bằng câu hỏi theo hướng phát triển năng lực của học
sinh: Học bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, em thích nhất đoạn thơ
nào? Vì sao?
+ Đánh giá kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh cần chú ý cách ra đề theo
hướng mở và tích hợp.
- Trong khâu đánh giá ở môn học Ngữ văn cần chú ý những điểm sau
+ Bám sát mục tiêu môn học và chuẩn kiến thức kĩ năng.
+ Cần đánh giá học sinh ở 3 mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng. Chú
trọng hình thành, phát triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết năng lực cảm thụ văn
học, năng lực tự học, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp trong các em.
+ Coi trọng sự đánh giá toàn diện về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ dựa
trên kết quả thực hành các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết tiếng mẹ đẻ của học sinh.
+ Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh luôn dựa trên
quan điểm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, đánh giá được cách học và
vận dụng kiến thức ở các em. Mỗi một đề kiểm tra đều đảm bảo cho tất cả các đối
tượng học sinh được suy nghĩ tìm tòi, khám phá, thực hiện. Việc đánh giá phải giúp
học sinh tự đánh giá được kết quả học tập của mình.
+ Cần đa dạng hoá các hình thức và nội dung kiểm tra.
+ Chú trọng tới tính phân hoá trong khi kiểm tra. Đề kiểm tra phải giữ một tỉ
lệ nhất định cho những câu hỏi dễ và câu hỏi khó, sao cho điểm số phải phản ánh
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng
Cấp độ
thấp
Chủ đề
Chủ đề 1:
đọc hiểu văn
bản
Cộng
Cấp độ
cao
- Nêu hiệu quả
nghệ thuật của biện
pháp tu từ trong
đoạn thơ.
- Ngữ liệu:
đoạn trích văn
bản thơ
- Lí giải được ý
nghĩa nội dung mà
30% x
10 điểm
= 3,0
điểm
12
Viết được bài văn
nghị luận về một
vấn đề xã hội
3.Tập
làm
văn :
nghị
luận xã hội
-Trình bày suy
nghĩ về vấn đề
tư tưởng đạo
lí
Số câu 1
40% x 10 = 4,0
điểm
Tỉ lệ 40 %
Tổng số câu
ĐỀ KIỂM TRA HỌC KÌ II THEO MA TRẬN
Câu 1. (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn mưa
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi.
(Trích Sang thu, Hữu Thỉnh, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục)
a) Nêu tác dụng của phép tu từ trong đoạn thơ trên.
b) Qua đoạn thơ tác giả muốn gửi gắm những suy ngẫm gì về con người và
cuộc đời.
Câu 2. (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu:
Dường như vật duy nhất vẫn bình tĩnh, phớt lờ mọi biến động chung là chiếc
kim đồng hồ. Nó chạy, sinh động và nhẹ nhàng, đè lên những con số vĩnh cửu. Còn
đằng kia, lửa đang chui bên trong cái dây mìn, chui vào ruột quả bom...
Quen rồi. Một ngày chúng tôi phá bom đến năm lần. Ngày nào ít: ba lần.
(Trích Những ngôi sao xa xôi, Lê Minh Khuê, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB GD)
a) Xác định thành phần biệt lập- gọi tên thành phần ấy.
b) Tìm câu rút gọn có trong đoạn trích.
13
c) Chỉ rõ phép liên kết câu và liên kết đọan văn được dùng trong phần trích
trên.
Câu 3. ( 4 điểm)
Hạnh phúc của trẻ thơ là được đến trường, được học tập, được sống trong tình
yêu thương, dìu dắt của thầy cô giáo.Suy nghĩ của em về vai trò của người thầy
trong cuộc đời của mỗi người.
a
- Dường như là thành phân tình thái
1
b
- Câu rút gon
1
+ Quen rồi.
+ Ngày nào ít: ba lần.
c
- Liên kết câu:
1
Phép thế: nó; phép nối: còn (còn đằng kia); phép lặp: ngày,
lần
- Liên kết đoạn: lặp bom
3
Yêu cầu chung:
- Thể loại: nghị luận về tư tưởng đạo lí
- Nội dung: Vai trò của người thầy trong cuộc đời của mỗi
người, người thầy có vai trò rất quan trọng.
Chứng minh:
- Mỗi trẻ thơ khi đến trường đều được các thầy cô truyền dạy
cho kiến thức, kĩ năng, dạy đọc, dạy viết, dạy làm văn, làm
toán... Dạy cho học trò biết cách học để khám phá kho tàng tri
thức của nhân loại.
0,25
- Thầy không chỉ truyền dạy kiến thức mà còn dạy cách làm
người, dạy biết điều hay, lẽ phải, dìu dắt nâng đỡ học trò lớn
lên hoàn thiện về nhân cách. Dạy trò biết sống yêu thương
người, đoàn kết, ...
0,25
- Thầy cô còn là những người thắp sáng niềm tin và ước mơ
cho học trò để các em biết sống có hoài bão, có lý tưởng...
0,25
- Những điều mà người thầy truyền dạy cho chúng ta sẽ theo
ta trong suốt hành trình của cuộc đời.
0,5
(Học sinh lấy dẫn chứng trong thực tế cuộc sống, trong văn
học để chứng minh)
4. Bàn bạc mở rộng: "Tôn sư trọng đạo" là truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên vẫn còn một số học
KTKN). Không nói đến quy trình và thao tác biên soạn, xin đề cập đến một số điểm
mà chúng tôi cho là quan trọng.
1. Chọn ngữ liệu ra đề
Cũng giống những đề kiểm tra đánh giá năng lực ở các môn học khác, đề
kiểm tra đánh giá năng lực Ngữ Văn cũng hướng tới đánh giá nhiều năng lực khác
nhau của HS. Nhưng do nhiệm vụ và đặc trưng của môn học, đề kiểm tra đánh giá
năng lực Ngữ Văn tập trung vào 2 mục tiêu chính: đánh giá năng lực đọc hiểu và
năng lực tạo lập văn bản (viết tắt là VB) – loại năng lực chuyên biệt của bộ môn.
Cấu trúc đề bởi vậy cũng gồm 2 phần chính: phần đọc hiểu và phần viết. Cả 2 phần
đều dùng ngữ liệu như một phương tiện để định ra các yêu cầu. Ngữ liệu luôn là yếu
tố rất quan trọng trong đề bài. Việc chọn lựa ngữ liệu như thế nào, vì vậy, cần được
quan tâm đặc biệt trong quá trình ra đề.
Trong cái nhìn tổng quát có thể nhận ra đề kiểm tra KTKN do hướng đến mục
tiêu đánh giá theo chuẩn KTKN nên ngữ liệu chủ yếu truy xuất từ nguồn sách giáo
khoa do đó ít hấp dẫn (do HS đã quen) và cũng từ đó ít phát huy năng lực (do HS đã
biết). Để đánh giá năng lực Ngữ Văn cần thêm nhiều ngữ liệu mới. Đa dạng hóa ngữ
liệu (từ kiểu loại VB đến phong cách ngôn ngữ) là việc làm cần thiết. Đa dạng thế
nào? Ngoài VB nghệ thuật (tác phẩm /đoạn trích tác phẩm) cần đưa thêm VB thông
tin (mẫu tin, tranh ảnh, sự kiện…); ngoài các đề tài /chủ đề quen thuộc cần mở rộng
16
ra các đề tài /chủ đề liên quan, gần gũi; ngoài lấy từ sách giáo khoa, sách bài tập cần
khai thác thêm từ các ấn phẩm, báo chí, truyền hình, Internet... Việc làm này không
chỉ giúp giáo viên (viết tắt là GV) tạo ra kho đề phong phú, mới mẻ mà còn tạo cơ
hội cho HS vận dụng các năng lực trong những hoàn cảnh mới gắn liền với đời sống
mọi mặt. Xét về mục đích đánh giá thì việc đa dạng hóa ngữ liệu gần như là một
việc làm bắt buộc. Tuy nhiên, việc lựa chọn hay sử dụng ngữ liệu để đưa vào đề cần
tuân thủ một số nguyên tắc sau:
+ Đảm bảo tính giáo dục, tính thẩm mĩ, tính nhân văn;
→ Vận dụng kiến thức về biện
câu thơ (về nghệ thuật: so sánh cái trừu
pháp so sánh để nhận diện biện pháp
tượng với cái cụ thể, dùng hình ảnh
tu từ (qua sự đồng hiện 2 yếu tố + từ
biểu tượng, dùng từ biểu cảm; về nội
so sánh).
dung: biểu đạt một cách sâu sắc và đầy
cảm xúc đặc trưng của tiếng Việt: tiếng
→ Vận dụng kĩ năng phân tích
Việt là thứ tiếng mộc mạc nhưng rất
để làm rõ tác dụng (cách so sánh
mượt mà, óng ả và sang trọng).
ngang bằng, phương diện so sánh là
tính chất → làm nổi bật đặc trưng của
→ Năng lực trình bày (giới hạn
17
tiếng Việt).
trong một đoạn văn ngắn).
Gần như cùng một vấn đề, nhưng hai cách hỏi khác nhau mục tiêu đạt được sẽ
không giống nhau. Câu hỏi đánh giá KTKN không đòi hỏi HS vận dụng năng lực
nên không phát triển được năng lực; câu hỏi đánh giá năng lực buộc HS phải vận
dụng năng lực nên qua trả lời, HS sẽ phát triển được năng lực.Phần lớn câu hỏi đánh
giá năng lực có độ khó cao hơn so với câu hỏi đánh giá KTKN. Nhưng bản chất của
việc thiết kế câu hỏi đánh giá năng lực không nằm ở chỗ tạo ra một câu hỏi khó để
công nghệ truyền thông, được phản ảnh sinh động, hiệu quả và không kém phần sâu
sắc qua kênh hình ảnh. Đây là nguồn ngữ liệu dồi dào, ý nghĩa có thể dùng làm cơ
sở ra đề bài viết rất tốt. Chúng ta còn thiếu loại đề này trong khi giới trẻ lại rất mẫn
18
cảm và tương thích mạnh với hình ảnh. Đọc hình ảnh, giải mã thông tin trên hình
ảnh, nói /viết từ sự khơi gợi của hình ảnh là một năng lực tiềm ẩn mà có lẽ chúng ta
đang bỏ quên, bỏ phí trong ra đề lâu nay.
Xin nêu một ví dụ:
- Ngữ liệu thứ nhất: (dùng ra đề bài viết)
Trên trang web của CIWEM (đơn vị chuyên quản lý, phát triển nguồn tài
nguyên nước và môi trường bền vững - Anh) vừa cho biết, trong cuộc thi ảnh quốc
tế Nhiếp ảnh gia môi trường 2017 (EPOTY 2017) do đơn vị này tổ chức, giải
thưởng chung cuộc cao nhất của cuộc thi đã thuộc về nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn
Linh Vinh Quốc (Gia Lai, Việt Nam) với tác phẩm The hoppeful eyes of the girl
making a living by rubbish (tạm dịch Đôi mắt đầy hy vọng của bé gái mưu sinh trên
bãi rác).
Tác phẩm “Đôi mắt đầy hy vọng của bé gái mưu sinh trên bãi rác” .
Cảm nhận của em về bức ảnh trên. Từ thông điệp của bức ảnh, em hãy nói lên
suy nghĩ của mình về vấn đề trẻ em hiện nay ở nước ta. (bài viết khoảng 2-3 trang
giấy thi).
- Ngữ liệu thứ hai:
Trang mạng Kenh14.vn (Kênh giải trí – xã hội) có đăng 2 mẫu tin đáng chú ý
sau:
Mẫu tin thứ nhất:
Trận hỏa hoạn lịch sử ngày
18/6/2017 đã thiêu rụi những
cánh rừng khu vực miền trung
những người lính cứu hỏa nằm
ngủ 25 phút giữa trận cứu hỏa
(Ảnh chụp một người thợ đào giếng đang
uống từng ngụm nước khi cứu hộ - Phước Tuấn)
Ngay sau khi được đăng tải,
bức ảnh này đã nhận được hơn
9,000 lượt yêu thích và hơn 6,000
lượt chia sẻ:
Chỉ sau vài tiếng đăng tải, khoảnh khắc đắt
giá được chụp lại này đã thu hút hơn 68 ngàn
lượt like, 4,7 ngàn lời bình luận cùng hơn 2
ngàn lượt chia sẻ.
"Tôi dành tất cả lòng
ngưỡng mộ và sự biết ơn đến với
những người lính cứu hỏa. Họ đã
chiến đấu không biết mệt mỏi và
can đảm để bảo vệ tính mạng cho
người dân"
"Cảm ơn các anh rất nhiều,
các anh đã làm hết sức mình".
“Các bạn thật tuyệt”.
“Rất khâm phục lòng dũng cảm của các
bạn”.
“Cảm ơn các anh, một hình ảnh đẹp hiếm
hoi giữa đời thường”.
sáng tạo mang lại giá trị), và kèm theo đó, tỉ trọng điểm cho các phần cũng cần thể
hiện sự tôn trọng, sự khuyến khích năng lực và cá tính sáng tạo của HS. Không nên
dùng sáo ngữ Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần… vì
cách diễn đạt này chẳng khác gì cho phép HS được phép trình bày (nội dung và hình
thức) theo cách riêng nhưng phải đúng như đáp án (bởi đáp án đã hoàn chỉnh). Giả
dụ nếu HS khi viết bài các em chọn cách trình bày các ý bằng những gạch đầu dòng
(giống lập dàn ý) hoặc diễn đạt theo lối khẩu ngữ, hoặc viết chính tả theo lối chát
chít, hoặc những gì các em trình bày không như đáp án… thì sẽ đánh giá thế nào?
Vậy nên, đã là đáp án của một đề mở thì ngoài phần yêu cầu bắt buộc phải có gợi ý
cho phần mở (có thể mở những nội dung gì; trả lời /trình bày sáng tạo thế nào).
(xem phần Hướng dẫn chấm, trang 7,8)
Tóm lại, xây dựng một đề kiểm tra đánh giá năng lực Ngữ văn thế nào cho tốt
còn nhiều điều đáng bàn. Nói cho cùng, để đánh giá được năng lực HS thông qua đề
kiểm tra thì chính GV cũng cần phải có năng lực ra đề. Những kĩ năng ra đề truyền
thống không đủ để ra đề kiểm tra đánh giá năng lực. Ở bình diện chung, ngoài sự nổ
lực của từng GV, có lẽ cần có tiếng nói chung ở một số phương diện để việc ra đề
đáp ứng được mục đích, và trên hết giúp làm thay đổi cách dạy để hướng tới một
nền giáo dục chất lượng vì sự phát triển của con người.
Xin lấy một đề do chúng tôi biên soạn để làm minh chứng:
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI LỚP 9 MÔN NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút
Phần I – Đọc hiểu: (4 điểm)
Đọc đoạn thơ sau:
“Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre.
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Trong bài thơ Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương có hai câu thơ rất cảm
động:
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Dịch nghĩa:
Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về,
Giọng quê không đổi, nhưng tóc mai đã rụng.
Cảm nhận của em về hai câu thơ trên (khoảng 2 trang giấy thi).
----- Hết ----HƯỚNG DẪN CHẤM VÀ ĐÁP ÁN - THANG ĐIỂM
A. Hướng dẫn chung:
- Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm và Đáp án - Thang
điểm để đánh giá tổng quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
- Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn và mục đích của kiểm tra là đánh giá các
năng lực nên giám khảo cần chú trọng đến yêu cầu năng lực trong từng phần, từng
câu trong việc vận dụng Hướng dẫn chấm và Đáp án - Thang điểm; khuyến khích
những bài làm thể hiện tốt các năng lực và có tính vận dụng, sáng tạo cao.
- Việc chi tiết hoá điểm số của các ý phải đảm bảo không sai lệch với tổng
điểm của từng câu, từng phần và được thống nhất trong Hội đồng chấm.
- Điểm của toàn bài thi vẫn được giữ nguyên, không làm tròn số.
23
B. Hướng dẫn cụ thể:
Phần I – Đọc hiểu:
Câu
Yêu cầu
năng lực
Nội dung
Câu 5
- Là thành phần cảm thán.
0,25
- Biểu lộ cảm xúc ngạc nhiên, yêu quý, tự hào.
0,75
Vận dụng kiến thức (biện pháp tu từ) để giải mã ý nghĩa câu thơ.
- Lấy cái trừu tượng (tiếng Việt) so sánh với cái cụ thể
(bùn, lụa,óng tre ngà, tơ)
0,25
- Làm nổi bật đặc trưng: tiếng Việt mộc mạc, dung dị
trong sự óng ả, mượt mà, sang trọng.
0,25
Cảm thụ âm điệu thơ qua các tín hiệu nghệ thuật được xác định;
Giải mã được yếu tố âm điệu trong thơ.
- Cách điệp cấu trúc và liệt kê đã tạo ra âm điệu dồn dập,
dặt dìu và mênh mang.
0,5
- Diễn tả sức sống mạnh mẽ, sâu lắng, bất diệt của tiếng
* Yêu cầu bắt buộc:
- Giới thiệu khái quát: Tiếng Việt - thứ tiếng giàu đẹp, mang
đậm bản sắc dân tộc – đang có sự thay đổi trong cách dùng của một
bộ phận giới trẻ.
- Nêu biểu hiện (kết hợp dẫn chứng):
0,25
0,5
+ Giao tiếp bình thường: Dùng thêm nhiều từ ngữ vay mượn
mới đan xen với từ ngữ tiếng Việt.
+ Giao tiếp trên mạng: Đơn giản hóa hoặc phức tạp hóa từ ngữ
bằng những kiểu kí tự và cách biểu đạt lạ, có khi bí hiểm.
0,5
- Phân tích nguyên nhân: (kết hợp bày tỏ thái độ)
+ Xã hội phát triển nhanh, ngôn ngữ cũng thay đổi.
+ Chạy theo trào lưu.
1,0
+ Thể hiện cá tính…
- Suy nghĩ:
+ Mặt tích cực: Góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiếng Việt.
+ Mặt tiêu cực: Làm mất đi sự chuẩn mực, sự trong sáng của
tiếng Việt.
+ Giải pháp: Mỗi người tự nâng cao văn hóa, không cổ xúy,
không chạy theo xu thế mà bản thân chưa rõ; xã hội cùng tham gia
định hướng thông qua giáo dục, tuyên truyền, ban hành quy định…