LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, các
doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp mình, phải tự quyết định từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Vì thế
doanh nghiệp phải tổ chức quản lý sao cho phù hợp để tồn tại và phát triển
trong cơ chế thị trường đầy biến động và phức tạp.
Xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý không phải là
một việc làm đơn giản mà nó đòi hỏi phải có sự nghiên cứu khoa học. Công
tác này nếu có sự sai lệch không hợp lý sẽ dẫn đến sự suy bại của doanh
nghiệp.
Bộ máy quản lý doanh nghiệp được coi là một bộ phận đầu não cho sự
ra đời những đường lối chủ trương, chiến lược, sách lược phát triển của doanh
nghiệp. Do đó việc phân tích và xem xét các vấn đề về công tác xây dựng và
hoàn thiện bộ máy quản lý doanh nghiệp là một trong những vấn đề cấp bách
cần thiết trong nền kinh tế hiện nay của các doanh nghiệp nước ta.
Là một sinh viên khoa quản trị kinh doanh, được tiếp thu những kiến
thức cơ bản về kinh tế kết hợp với quá trình nghiên cứu thực tế em thấy: tổ
chức bộ máy quản lý mà hợp lý, phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp thì nó góp phần không nhỏ vào việc thực hiện các mục tiêu
cơ bản của doanh nghiệp. Chính vì lý do đó mà em đã chọn đề tài: “Xây dựng
và hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp, phân xưởng, tổ sản xuất
ở công ty cầu 7 Thăng Long” làm luận văn của mình.
Kết cấu luận văn ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn đi sâu vào ba
vấn đề chính sau:
Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng và hoàn thiện
cơ cấu tổ chức bộ máy trong doanh nghiệp.
Phần thứ hai: Thực trạng về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý ở công ty
cầu 7 Thăng Long.
1
Phần thứ ba: Một số biện pháp cơ bản nhằm củng cố và hoàn thiện cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý ở công ty cầu 7 Thăng Long.
2. Các chức năng và lĩnh vực quản lý doanh nghiệp:
2.1. Khái niệm và cách phân loại chức năng quản lý doanh nghiệp:
3
Hoạt động của một doanh nghiệp bao gồm nhiều nội dung và nhiều
cách tiếp cận, nhưng xét cho cùng cần thiết phải quy nạp vấn đề quản lý vào
những hoạt động nhất định mà khả dĩ các nhà thực tiễn cũng như giới khoa
học có thể tìm kiếm để có tiếng nói chung - hoạt động quản lý đó được gọi là
các chức năng quản lý.
Có thể định nghĩa chức năng quản lý là những hoạt động riêng biệt của
lao động quản lý, thể hiện những phương hướng tác động của chủ thể quản lý
đến đối tượng quản lý.
Có hai cách phân loại chức năng quản lý như sau:
* Theo nội dung quá trình quản lý thì chức năng quản lý doanh nghiệp
bao gồm:
- Chức năng dự kiến: doanh nghiệp chỉ thu được kết quả khi nó được
hướng dẫn bởi một chương trình hoạt động, một kế hoạch nhất định nhằm xác
định rõ: sản xuất, kinh doanh cái gì? bán cho ai? sản xuất kinh doanh bằng
cách nào, với nguồn tài chính nào?
- Chức năng tổ chức: Nhằm sắp xếp, tổ chức, tận dụng mọi nguồn lực
trong nội bộ, thực hiện nhiệm vụ bổ nhiệm các chức vụ quản lý. Tổ chức
doanh nghiệp tức là trang bị những gì cần cho hoạt động của doanh nghiệp:
vốn, máy móc, nhân viên, nguyên vật liệu... để đạt được mục tiêu đề ra.
- Chứa năng phối hợp: Nhằm đảm bảo kết hợp các mặt hoạt động tạo sự
hài hoà cân đối tối ưu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tức là đặt các bộ
phận khác nhau của doanh nghiệp vào đúng vị trí thích hợp và đảm bảo vận
hành nhịp nhàng. Điều hoà tất cả các hoạt động của doanh nghiệp để đảm bảo
cho các công việc thực hiện một cách ăn khớp tạo hiệu quả cao.
- Chức năng chỉ huy: Chức năng này nhằm thúc đẩy bộ máy hoạt động,
giải quyết các khó khăn vướng mắc. Đây là chức năng quan trọng, phải nắm
được các lý thuyết, kết hợp với kinh nghiệm thực tế để ra quyết định.
- Chức năng tổ chức tốt đời sống tập thể và các hoạt động xã hội như tổ
chức việc ăn ở, đi lại của cán bộ công nhân viên, hoạt động văn hoá, thể thao
và các hoạt động xã hội khác.
5
- Chức năng sản xuất: điều phối các mặt hàng sản xuất của các phân
xưởng.
Thực hiện các chức năng quản lý có nghĩa là xây dựng một bộ máy
quản lý sao cho vừa đảm bảo đầy đủ các chức năng trên vừa thích hợp với các
đặc điểm của doanh nghiệp.
2.2. Khái niệm và các phân loại lĩnh vực quản lý doanh nghiệp:
Lĩnh vực quản lý trong doanh nghiệp được hiểu như các hoạt động
quản lý khi được sắp xếp trong một bộ phận nào đó, ở các bộ phận này có
người chỉ huy và liên quan đến việc ra quyết định quản lý,
Lĩnh vực quản lý được phân định phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
truyền thống quản lý, các yếu tố xã hội và cơ chế kinh tế, quy mô cũng như
đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của doanh nghiệp. Nó gắn liền với mỗi quốc gia,
mỗi vùng cụ thể và sự tiến bộ về nhận thức trong khoa học quản lý.
Cách phân loại các lĩnh vực quản lý trong doanh nghiệp như sau:
* Lĩnh vực vật tư bao gồm các nhiệm vụ:
- Phát hiện nhu cầu vật tư.
- Tính toán vật tư tồn kho.
- Mua sắm vật tư.
- Nhập kho và bảo quản.
- Cấp phát vật tư.
* Lĩnh vực sản xuất bao gồm các nhiệm vụ:
- Hạch toán chương trình
- Xây dựng kế hoạch sản xuất.
- Điều khiển quá trình chế biến.
- Kiểm tra chất lượng.
- Giữ gìn bản quyền, kiểu dáng... và phát minh sáng chế của mọi thành
* Lĩnh vực nghiên cứu và phát triển gồm các nhiệm vụ:
- Thực hiện nghiên cứu cơ bản.
- Nghiên cứu ứng dụng.
- Đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào áp dụng.
- Thẩm định hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng.
* Lĩnh vực tổ chức gồm các nhiệm vụ:
- Tổ chức các dự án.
- Phát triển và cải tiến bộ máy tổ chức cho doanh nghiệp.
- Tổ chức tiến trình hoạt động toàn bộ doanh nghiệp.
* Lĩnh vực thông tin gồm các nhiệm vụ:
- Xây dựng kế hoạch và các thông tin liên quan cho doanh nghiệp.
- Chọn lọc và xử lý các thông tin.
- Kiểm tra thông tin và giám sát các thông tin.
* Lĩnh vực hành chính pháp chế và các dịch vụ chung:
- Thực hiện các mối quan hệ pháp lý trong và ngoài doanh nghiệp.
- Tổ chức các hoạt động quần chúng trong doanh nghiệp.
- Các hoạt động hành chính và phúc lợi doanh nghiệp.
Sự phân loại theo lĩnh vực quản lý nhằm chỉ ra tất cả các lĩnh vực cần
phải tổ chức thực hiện quản trih trong một doanh nghiệp. Là căn cứ để thiết
lập bộ máy quản lý doanh nghiệp để tuyển dụng, bố trí và sử dụng các quản
trị viên. Là cơ sở để đánh giá và phân tích hoạt động trong toang bộ máy quản
lý, điều hành hoạt động quản lý trên phạm vi toàn doanh nghiệp.
8
Tóm lại, phân loại theo chức năng và phân loại theo lĩnh vực có mối
quan hệ trực tiếp, hữu cơ với nhau, không gạt bỏ nhau, có quan trọng cả về lý
luận và thực tiễn.
II - CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY DOANH NGHIỆP:
1. Thực chất, vai trò của cơ cấu tổ chức bộ máy trong doanh nghiệp
1.1. Thực chất của cơ cấu tổ chức bộ máy trong doanh nghiệp
Là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau
và năng lực của nhân viên do tổ chức kém cỏi mà ra. Phần lớn những khuyết
điểm mắc phải trong doanh nghiệp, phân xưởng, tổ sản xuất là do người ta coi
thường công tác tổ chức.
- Xây dựng một cơ cấu tổ chức hợp lý là một việc làm quan trọng bậc
nhất của quản trị viên để thực thi nhiệm vụ quản trị có hiệu qủa, góp phần
quan trọng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp đề ra.
- Công tác tổ chức hiệu quả giúp thực hiện triệt để việc áp dụng khoa học
kỹ thuật vào hoạt đồng quản trị, giúp cho việc khuyến khích sử dụng với tính
chất là con người phát triển toàn diện, tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng,
đa dạng hoá tổ chức và nâng cao tính độc lập và sáng tạo của nhà quản trị. Vì
vậy, chức năng tổ chức là cốt lõi của quy trình quản trị.
Thực chất của tổ chức bộ máy là tiến hành phân công lao động một cách
hợp lý để khai thác tối đa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất nhằm đạt
năng suất lao động và hiệu quả quản trị cao.
2. Những yêu cầu cơ bản đối với cơ cấu tổ chức bộ máy doanh
nghiệp
Mỗi một công việc, mỗi một vấn đề dù lớn hay bé, dù đơn giản hay phức
tạp đều đòi hỏi phải đạt được những yêu cầu cần thiết đặt ra, có như thế
những công việc mới đạt hiệu quả cao. Đặc biệt ở đây việc xây dựng và hoàn
thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý là một vấn đề vô cùng phức tạp . Nó đòi
hỏi rất lớn về nhiều mặt mà những mặt đó, những yêu cầu đó bắt buộc phải
đạt được trong cơ chế thị trường hiện nay. Những yêu cầu đó là:
10
Một là, phải đảm bảo hoàn thành những nhiệm vụ của doanh nghiệp,
phải thực hiện đầy đủ, toàn diện các chức năng quản lý doanh nghiệp.
Hai là, phải đảm bảo thực hiện nghiêm túc chế độ một thủ trưởng, chế độ
trách nhiệm cá nhân trên cơ sở bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của tập
thẻ lao động trong doanh nghiệp.
Ba là, phải phù hợp với quy mô sản xuất, thích ứng với những đặc điểm
kinh tế và kỹ thuật của doanh nghiệp.
các phó
giám đóc
mọi người
trong doanh
nghiệp
2 Quản đốc T T cấp
cao nhất
trong px
Toàn bộ
phân
xưởng
Các phó
quản đốc
Mọi người
trong px.
3. Đốc công T T cấp
cao nhất
trong ca
làm việc
Toàn ca
làm việc
Không Mọi người
trong ca làm
việc
4 Tổ trưởng công tác T T cấp
cao nhất
Toàn tổ Tổ phó mọi người
11
trong tổ trong tổ
5 Thủ trưởng các
chỉnh mệnh lệnh của giám đốc.
3. Một số phương pháp hình thành bộ máy quản lý doanh nghiệp
3.1. Phương pháp tương tự
Phương pháp này là một phương pháp hình thành cơ cấu tổ chức dựa vào
việc thừa kế những kinh nghiệm thành công và gạt bỏ những yếu tố bất hợp lý
của các cơ cấu tổ chức có trước này có những yếu tố tương tự với cơ cấu tổ
chức quản lý sắp hình thành . Ưu điểm nổi bật nhất của phương phápnày là:
quá trình hình thành cơ cấu nhanh, chi phí bỏ ra ít, thừa kế những kinh
nghiệm quý báu của quá khư. Nhìn chung đây là phương pháp đã được áp
dụng phổ biến rộng rãi ở nhiều nơi.
3.2. Phương pháp phân tích theo yếu tố
12
Đây là phương páp khoa học được áp dụng rộng rãi cho mọi cấp, mọi đối
tượng quản trị. Phương pháp này được chia ra ba giai đoạn như sau:
- Giai đoạn đầu là: xây dựng sơ đồ cơ cấu tổng quát và xác định những
kết luận có tính chất nguyên tắc của cơ cấu.
- Giai đoạn hai là: xác định các thành phần cho các bộ phận cơ cấu và
xác định mối liên hệ giữa các bộ phận.
- Giai đoạn ba là: xác định các đặc trưng của các yếu tố trong cơ cấu như
chức năng , nhiệm vụ, quyền hạn và quy định hoạt động của cơ cấu tổ chức
bộ máy quản lý. Ở giai đoạn này thường xảy ra hai trường hợp sau:
+ Trường hợp thứ nhất: Đối với việc hoàn thiện các cơ cấu tổ chức quản
lý đang hoạt động việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản trị được bắt đầu bằng
cách nghiên cứu kỹ lưỡng cơ cấu hiện tại và tiến hành đánh giá hoạt động của
nó theo những căn cứ nhất định. Từ đó chỉ rõ mối quan hệ phụ thuộc của từng
phòng ban, bộ phận và các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà nó phải thực hiện.
+ Trường hợp thứ hai: hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị mới.
Trong trường hợp này chúng ta phải tiến hành theo ba bước.
Bước 1 : Dựa vào những tài liệu ban đầu, những văn bản hướng dẫn của
cơ quan quản lý vĩ mô, những quy định có tính chất luật pháp để xây dựng sơ
chỉ chịu thực hiện mệnh lệnh của một cấp trên trực tiếp.
Tuy nhiên cơ cấu tổ chức này cũng có những nhược điểm: Nó đòi hỏi
người lãnh đạo cần phải có kiến thức toàn diện, tổng hợp, hạn chế việc sử
dụng các chuyên gia có trình độ cao về từng mặt quản trị. Khi cần phối hợp,
hợp tác công việc giữa hai đơn vị hai, hai cá nhân ngang quyền thuộc các
14
Lãnh đạo doanh nghiệp
Lãnh đạo trực tuyến Lãnh đạo tuyến II
a1 a2 an b1 b2 bn
tuyến khác nhau thì việc báo cáo, thông tin phải đi đường vòng theo kênh liên
hệ đã quy định.
Do những ưu nhược điểm trên nên chỉ áp dụng cơ cấu này cho một tổ
sản xuất hoặc là phân xưởng nhỏ.
4.2. Cơ cấu trực tuyến tham mưu
Thực chất đây là cơ cấu trực tuyến mở rộng vì thế nó có đặc điểm như là
cơ cấu trực tuyến nhưng mỗi cấp lãnh đạo đã có thêm bộ phận tham mưu giúp
việc, bộ phận tham mưu có thể là một đơn vị hoặc một nhóm các chuyên gia
hoặc một nhóm người.
Cơ cấu này vẫn dễ dàng thực hiện chế độ một thủ trưởng, bên cạnh đó đã
biệt khai thác tài năng của các chuyên gia giúp việc.
Tuy nhiên vẫn còn có nhược điểm là lãnh đạo mất nhiều thời gian để làm
việc với tham mưu làm cho thời gian làm việc với đối tượng bị quản lý ít đi,
dẫn đến tốc độ ra quyết định chậm. Cơ cấu này thường áp dụng ở phạm vi
phân xưởng.
15
... ...
Sơ đồ cơ cấu trực tuyến tham mưu
4.3. Cơ cấu chức năng:
Đặc điểm của cơ cấu này là nhiệm vụ quản lý được phân chia cho các
đơn vị riêng biệt để cùng tham gia quản lý, mỗi đơn vị được chuyên môn hoá
thực tế không bao giờ tồn tại một cách nguyên vẹn mà thường xuyên bị vi
phạm vì:
- Xu hướng có sự tăng trưởng của các đơn vị chức năng: đối với các đơn
vị trực tuyến.
- Trên thực tế các quyết định đều do tham mưu.
Người ta khuyến cáo các đơn vị, công ty, xí nghiệp nên áp dụng mô hình
trực tuyến - chức năng nhưng phải có nội quy đây đủ để tránh xu hướng trở
lại mô hình chức năng.
17
Lãnh đạo doanh nghiệp Tham mưu
Lãnh đạo
tuyến I
Lãnh đạo
chức năng
A
Lãnh đạo
chức năng B
Lãnh đạo
tuyến II
1 2 1 2
Sơ đồ cơ cấu trực tuyến - chức năng.
4.5. Cơ cấu chính thức và không chính thức
Cơ cấu tổ chức doanh nghiệp còn được chia thành cơ cấu chính thức và
không chính thức.
a. Cơ cấu chính thức:
Cơ cấu nay gắn liền với cơ cấu vai trò nhiệm vụ hướng đích trong một
doanh nghiệp được tổ chức một cách chính thức. Khi nói rằng tổ chức là
“chính thức” hoàn toàn chẳng có điều gì là cứng nhắc hay quá hạn chế trong
cách diễn đạt này. Nếu một người quản lý có ý định tổ chức thật tốt, cơ cấu đó
Cơ cấu không chính thức là một trong những yếu tố đòi hỏi người lãnh
đạo doanh nghiệp phải có một nghệ thuật đặc biệt. Người lãnh đạo cần phải
thường xuyên cơ cấu không chính thức, thúc đẩy sự phát triển những xu
hướng hỗ trợ để đạt được những mục đích của doanh nghiệp.
4.6 Cơ cấu tổ chức phi hình thức:
Phương thức này là phương thức tổ chức quản lý hiện dại nhất hiện
nay, là tổ chức bộ máy quản lý theo 5 nguyên tắc đó là: Tổ chức bộ quản lý
sao cho bộ máy đó có khả năng tự thích nghi, tự điều chỉnh, tự bổ sung, tự
đào thải và tự đổi mới. Hiện nay nhiều doanh nghiệp ở nước ta đã hình thành
cơ cấu tổ chức phi hình thức nghĩa là bộ máy doanh nghiệp có cả những bộ
phận và cá nhân nằm ngoài doanh nghiệp, nhằm thu hút được nhiều chất xám
và thu hút được những thông tin từ bên ngoài.
Sau đây là một vài mô hình bộ máy quản lý doanh nghiệp:
- Mô hình bộ máy quản lý doanh nghiệp quy mô nhỏ
19
Giám đốc
Phó giám đốc
Phòng
Kinh doanh
Phòng
T i chính Kà ế
toán
Phòng
Nội chính
Phòng Điều h nh à
sản xuất
20
- Mô hình quản lý doanh nghiệp quy mô vừa
- Mô hình bộ máy doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ
-Quan hệ phụ thuộc giữa số lượng người bị lãnh đạo, khả năng kiểm tra
của người lãnh đạo đối với những hoạt động của ngững người cấp dưới.
- Chế độ chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp đối với đội ngũ cán bộ
quản lý.
6. Các mối liên hệ trong cơ cấu:
- Liên hệ trực tuyến: Là liên hệ giữa cán bộ và nhân viên trong một bộ
phận, giữa các cán bộ có quan hệ chỉ huy trực tiếp cấp trên và cấp dưới.
- Liên hệ chức năng: Là liên hệ giữa các bọ phận chức năng với nhau
trong quá trình chuẩn bị quy định cho thủ trưởng hoặc giữa các bộ phận chức
năng cấp trên với cán bộ, nhân viên chức năng cấp dưới nhằm hướng dẫn giúp
được về chuyên môn nghiệp vụ.
- Liên hệ tư vấn: Là liên hệ giữa cơ quan lãnh đạo chung, giữa cán bộ
chỉ huy trực tuyến với các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật pháp, chế với các hội
đồng được tổ chức theo từng loại.
Một nhân tố nữa cũng hết sức quan trọng trong bộ máy quản lý là vấn
đề uỷ quyền. Bản chất của uỷ quyền đó là vấn đề trực tuyến và tham mưu.
Các chức năng trực tuyến đó là những chức năng có trách nhiệm trực tiếp
hoàn thành các mục tiêu của doanh nghiệp, còn các chức năng tham mưu sẽ
giúp cho người quản lý trực tuyến có hiệu quả nhất. Thực ra chúng
chỉ là những mối quan hệ quyền hạn trực tiếp giao cho người giám sát một
quyền hạn trực tiếp đối với các cấp dưới. Còn tham mưu là cố vấn đưa ra ý
kiến tư vấn cho người quản lý trực tiếp của họ.
7. Vấn đề phân quyền và các nguyên tắc giao quyền:
7.1. Vấn đề phân quyền:
22
Phân quyền là vấn đề phân tán các quyền ra quyết định trong một cơ
cấu tổ chức. Một chính sách phân quyền sẽ gây ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh
vực của quản lý và có thể coi là một nhân tố cơ bản của hệ thống quản lý.
Trong thực tế nếu không có nó thì người quản lý không thể sử dụng khả năng
tự quyết để xử lý các trường hợp thường xuyên gặp phải. Phân quyền đòi hỏi
- Nguyên tắc về sự tương xứng giữa quyền hạn và trách nhiệm: Do
quyền hạn là một quyền cụ thể tiến hành những công việc được giao và trách
nhiệm phải hoàn thành chúng về logic, điều đó dẫn đến việc quyền hạn phải
tương xứng với trách nhiệm. Trách nhiệm về các hành động không thể lớn
hơn trách nhiệm trong các quyền hạn được giao phó, cũng không thể nhỏ
hơn.
III. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP CƠ BẢN NHẰM XÂY DỰNG VÀ HOÀN
THIỆN CƠ CẤU BỘ MÁY QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP:
trong những năm gần đây, từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền
kinh tế thị trường, nhà nước ta luôn coi trọng việc hoàn thiện bộ máy quản lý
doanh nghiệp, đặt vấn đề này lên hàng đầu của đổi mới quản lý doanh nghiệp.
Hoàn thiện nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa bộ máy quản lý không những có
vai trò đặc biệt quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng
trong việc phát triển nền kinh tế đất nước.
1. Vấn đề là phải tổ chức được các phòng chức năng, phân loại được các
chức năng quản lý: Quy trình xây dựng phòng chức năng là tổ chức bao gồm
cán bộ, nhân viên kinh tế kỹ thuật, hành chính được phân công chuyên môn
hoá theo chức năng quản lý có nhiệm vụ lãnh đạo (Ban giám đốc) chuẩn bị
các quyết định, theo dõi hướng dẫn các phân xưởng, các bộ phận sản xuất
cũng như các cán bộ, nhân viên cấp dưới thực hiện đúng đắn, kịp thời những
quyết định quản lý.
Trách nhiệm chung của các phòng chức năng là hoàn thành tốt các
nhiệm vụ được giao, phối hợp tất cả các phòng ban khác nhằm đảm bảo cho
tất cả các lĩnh vực khác của doanh nghiệp được tiến hành đồng bộ, ăn khớp
nhịp nhàng.
24
Trong cơ chế quản lý hiện nay, doanh nghiệp có toàn quyền quyết định
việc tổ chức các phòng theo hướng chuyên môn, gọn nhẹ đồng thời phải coi
trọng các bộ phận có quan hệ trực tiếp đến kinh doanh, đến công tác nghiên