TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
LÊ THỊ TRANG
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM
KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƢỜNG
MẮC TRONG KỸ THUẬT NHẢY XA KIỂU
ƢỠN THÂN CHO HỌC SINH NỮ KHỐI 11
TRƢỜNG THPT HÀN THUYÊN - BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT - GDQP
HÀ NỘI - 2014
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT
LÊ THỊ TRANG
LỰA CHỌN MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM
KHẮC PHỤC NHỮNG SAI LẦM THƢỜNG
MẮC TRONG KỸ THUẬT NHẢY XA KIỂU
ƢỠN THÂN CHO HỌC SINH NỮ KHỐI 11
TRƢỜNG THPT HÀN THUYÊN - BẮC NINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: CNKHSP TDTT - GDQP
Hƣớng dẫn khoa học
: Thể dục thể thao
4. THPT
: Trung học phổ thông
5. TN
: Thực nghiệm
6. TT
: Thứ tự
7. VĐV
: Vận động viên
8. ’
: Phút
9. (s)
: Giây
DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
lầm
Bảng 3.4
Kết quả kiểm tra test tại chỗ bật nhảy bằng 2 chân
31
thực hiện ưỡn thân và gập thân rơi xuống đất trước
thực nghiệm
Bảng 3.5
Kiểm tra thành tích nhảy xa kiểu “ưỡn thân” trước
32
thực nghiệm
Bảng 3.6
Kết quả điểm kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” trước
32
thực nghiệm
Bảng 3.7
Kết quả phỏng vấn lựa chọn sử dụng bài tập nhằm
34
Bảng 3.12 Kết quả kiểm tra thành tích nhảy xa kiểu “ưỡn thân”
39
sau thực nghiệm
Bảng 3.13 Kết quả kiểm tra kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” sau
40
thực nghiệm
Bảng 3.14 So sánh số học sinh của 2 nhóm còn mắc phải những
41
sai lầm trong kỹ thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” sau
thực nghiệm
Bảng 3.15 So sánh kết quả học sinh thực hiện kỹ thuật của test
42
kiểm tra tại chỗ bật nhảy bằng 2 chân thực hiện ưỡn
thân và gập thân rơi xuống hố cát trước và sau thực
nghiệm
Bảng 3.16 So sánh, đánh giá thành tích nhảy xa kiểu “ưỡn thân”
42
của 2 nhóm trước và sau thực nghiệm
Bảng 3.17 So sánh điểm kỹ thuật nhảy xa kiểu ”ưỡn thân” trước
47
3.3
Biểu đồ
3.4
MỤC LỤC
Đặt vấn đề ........................................................................................................ 1
Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu..................................................... 4
1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu. ........................................................ 4
1.2. Cơ sở thực tiễn của sáng kiến .................................................................... 7
1.3. Nguyên lý kỹ thuật của môn nhảy xa ....................................................... 12
1.4. Cơ sở lý luận của giảng dạy động tác ...................................................... 14
1.5. Các phương pháp giảng dạy ..................................................................... 16
1.6. Cơ sở lý luận để đề phòng và loại trừ những sai lầm thường mắc trong kỹ
thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân”......................................................................... 17
1.7. Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi học sinh THPT ......................................... 18
Chƣơng 2: Nhiệm vụ, phƣơng pháp và tổ chức nghiên cứu ..................... 21
2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 21
2.2. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 21
2.3. Tổ chức nghiên cứu .................................................................................. 23
Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu .................................................................... 24
3.1. Thực trạng những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu
“ưỡn thân” của các em học sinh nữ khối 11 trường THPT Hàn Thuyên........ 24
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả các bài tập nhằm khắc phục
những sai lầm thường mắc trong học kỹ thuật nhảy xa kiểu ưỡn thân cho các
em học sinh nữ lớp 11 trường THPT Hàn Thuyên - Bắc Ninh....................... 33
Kết luận và kiến nghị .................................................................................... 49
được hoàn thiện.
Môn nhảy xa là một trong những hoạt động cơ bản nhằm phát triển các
tố chất thể lực, tăng cường sức khỏe cho học sinh. Là môn học chính khóa
2
trong chương trình GDTC, là nội dung thi đấu trong Hội khỏe các cấp từ địa
phương đến cấp trung ương.
Nhảy xa “ưỡn thân” có kỹ thuật tiên tiến thường được sử dụng nhiều
trong thi đấu, tuy nhiên thành tích đạt được chưa cao nguyên nhân còn nhiều
sai lầm trong khi thực hiện kỹ thuật. Ở nước ta việc nghiên cứu áp dụng các
phương tiện, phương pháp tập luyện tiên tiến vào giảng dạy, đặc biệt trong
các trường phổ thông vấn đề nghiên cứu và áp dụng các bài tập nhằm khắc
phục những sai lầm trong giảng dạy kỹ thuật còn nhiều hạn chế.
Trong giảng dạy việc nắm bắt kỹ thuật là quan trọng mà trong khi tập
luyện người tập rất hay mắc phải những sai lầm khi học kỹ thuật, vì vậy trong
giảng dạy nhanh chóng tìm ra những sai lầm thường mắc cũng như nguyên
nhân của nó là việc rất khó, nhưng việc xác định vận dụng các biện pháp và
bài tập để sửa chữa những sai lầm đó lại quan trọng hơn. Vấn đề nghiên cứu
các biện pháp tập luyện nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc trong kỹ
thuật nhảy xa kiểu “ưỡn thân” được rất nhiều giáo viên môn thể dục quan
tâm, chú ý song đều đề cập đến các giai đoạn kỹ thuật quan trọng, thiếu đánh
giá một cách hệ thống và toàn diện. Một số giáo viên giảng dạy thể dục trong
chương trình ít áp dụng đến bài tập sửa chữa những sai lầm mà học sinh
thường mắc, do vậy ảnh hưởng chung đến kết quả học tập và thành tích thi
đấu.
Trong các năm học gần đây thông qua quá trình giảng dạy, trao đổi giáo
viên trong trường và một số trường khác trong huyện học sinh thường mắc
những sai lầm rất cơ bản trong học kỹ thuật. Như chạy đà không ổn định, tốc
năng trong xã hội”. Con người phát triển toàn diện phải có sự phát triển hài
hoà giữa thể chất và tinh thần.
GDTC kết hợp các mặt giáo dục trở thành phương tiện gián tiếp nâng
cao hiệu quả sản xuất. Còn là phương thức duy nhất để đào tạo ra con người
phát triển toàn diện. Trong hướng dẫn thực hiện chương trình GDTC trường
học của Bộ Giáo dục đào tạo có đề cập tới “GDTC được thực hiện trong hệ
thống nhà trường từ mầm non đến đại học, góp phần đào tạo những công dân
phát triển toàn diện. GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục đào
tạo, nhằm giúp con người phát triển cả về trí tuệ, cường tráng về thể lực,
phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức. GDTC trong các nhà trường
nhằm từng bước nâng cao trình độ văn hoá thể chất của học sinh, sinh
viên”.[12]
1.1.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác giáo dục nói chung và
GDTC nói riêng
Công tác GDTC trong các trường học ở nước ta là bộ phận hữu cơ của
mục tiêu giáo dục đào tạo. Là một mặt cơ bản của quá trình giáo dục toàn
diện. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã khẳng định “Cùng với
khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo là chìa khoá mở cửa để đất nước bước
vào tương lai với đội ngũ khoa học vững vàng”[11]. Nghị quyết TW2 khoá
5
VII năm 1996 cũng khẳng định “Giáo dục đào tạo cùng với khoa học kỹ thuật
phải trở thành quốc sách hàng đầu”
. Muốn xây dựng đất nước theo mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì con người luôn là
nhân tố cơ bản, là động lực quan trọng quyết định sự thành công, sự phát triển
luyện tập TDTT phát triển rộng khắp, để mỗi người dân Việt Nam đều có sức
khoẻ tốt phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tố quốc. Đối với GDTC
trong chương trình cải cách giáo dục số 134 có viết “Mục đích của GDTC
nước ta là: bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển toàn
diện có sức khoẻ dồi dào, thể chất cường tráng, dũng khí kiên cường để kế tục
sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng”[3].
1.1.3. Các khái niệm liên quan đến đề tài
GDTC trong trường học được đánh giá là một bộ phận quan trọng không
thể thiếu của nền giáo dục Xã hội chủ nghĩa. Hoạt động GDTC trong các
trường được tiến hành với mục đích tăng cường thể chất học sinh, nâng cao
trình độ thể thao của các em, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá và
giáo dục học sinh phát triển toàn diện, có khả năng phục vụ đắc lực cho sự
nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa nước nhà.
GDTC là một mặt, một bộ phận của quá trình giáo dục. Do đó, khái niệm
GDTC nằm trong khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng. GDTC là một hình
thức giáo dục nhằm trang bị cho học sinh vốn kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ
bản, cần thiết trong cuộc sống và những tri thức chuyên môn, phát triển các tố
chất thể lực và tăng cường sức khoẻ. GDTC trong trường học là một hoạt
động giáo dục, vì nó được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch và có
hệ thống nhằm truyền thụ tri thức văn hoá thể chất từ người thầy sang học trò.
GDTC mang đầy đủ các đặc điểm của quá trình sư phạm. Đó là vai trò chủ
đạo điều khiển của giáo viên trong giảng dạy, tính chủ động tích cực của học
sinh trong học tập. Nội dung đặc trưng của GDTC là dạy học động tác và giáo
7
dục tố chất vận động. Hai mặt này không đồng nhất song lại liên quan mật
thiết với nhau.
- Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người. Thể chất con người bao
Kỹ thuật động tác tốt phải dựa trên nền tảng của thể lực tốt bởi có sức
nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo được phát triển ở mức độ
cao. Cũng chỉ có nắm kỹ thuật hợp lý mới phát huy được trình độ thể lực. Do
đó, muốn thành tích tốt, điều quan trọng là phải tính đến mối quan hệ giữa
việc phát triển các tố chất thể lực với việc tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật. Công
trình nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ hoàn thiện kỹ thuật của VĐV nhảy xa
tác giả VB.Pôpop đưa ra công thức sau:
K=
Trong đó:
P: Thành tích nhảy xa
: Tốc độ chạy đà tối đa trước khi giậm nhảy
K: Hệ số kỹ thuật.
Nếu K càng lớn thì trình độ kỹ thuật của VĐV càng cao. Để xác định
được mức độ chuẩn bị kỹ thuật của VĐV trong huấn luyện (thông qua hệ số
kỹ thuật) có thể dựa trên kết quả phân loại sau:
Bảng 1.1: Đánh giá trình độ kỹ thuật:
Mức độ chuẩn bị kỹ thuật
Giới
tính
Tốt
Khá
Trung bình
Không đạt yêu cầu
Nam
Cho đến nay khái niệm về bài tập bổ trợ và bài tập bổ trợ chuyên môn
có những cách trình bày sau:
Theo PGS Nguyễn Toán và TS Phạm Danh Tốn thì cho rằng: “Bài tập
bổ trợ chuyên môn là các bài tập phù hợp với các yếu tố của đối tượng thi
đấu cùng các biến dạng của chúng, cũng như các bài tập dẫn dắt tác động có
chủ đích và có hiệu quả đến sự phát triển của tố chất và các kỹ xảo của vận
động ở chính ngay môn thể thao đó"[4]. Còn một số các nhà khoa học nước
ngoài thì cho rằng: Bài tập tập bổ trợ còn là một trong những biện pháp giảng
dạy bao gồm các bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập tăng cường các tố
chất thể lực. Quan điểm của các học giả Trung Quốc về bài tập bổ trợ chuyên
môn là những bài tập mang tính chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn
thể thao khác nhau.
Những khái niệm này, tuy có khác về cách trình bày nhưng luôn có sự
thống nhất về ý nghĩa. Vậy ta có thể hiểu về khái niệm bài tập bổ trợ chuyên
môn là các bài tập mang tính chất chuẩn bị, tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và
tính thể lực mang tính chuyên biệt cho từng kỹ thuật và từng môn thể thao
khác nhau.
- Vai trò, tác dụng của bài tập bổ trợ chuyên môn:
Theo các nhà khoa học, các nhà chuyên gia thể thao thì các bài
tập bổ trợ chuyên môn là một biện pháp quan trọng trong giảng dạy và huấn
luyện kỹ thuật.
Như đã biết một số kỹ thuật thường cấu trúc các chuỗi động tác gắn kết
có trình tự, có sự phối hợp có liên quan, có tác động lẫn nhau, thúc đẩy hoặc
10
hạn chế nhau để cùng thực hiện một yếu lĩnh kỹ thuật động tác nào đó. Một
kỹ thuật khó thường gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn, nhiều cử động nên
cùng một lúc người học không thể hình thành ngay các kỹ năng cũng như các
động.
1.2.2. Xu thế nghiên cứu sử dụng bài tập bổ trợ chuyên môn trong thể thao
nói chung và giảng dạy môn nhảy xa nói riêng
Do vai trò tác dụng to lớn của các bài tập bổ trợ chuyên môn đối với quá
trình giảng dạy và huấn luyện kỹ thuật nên nhiều nước có nền thể thao phát
triển, đặc biệt là các nước có nền công nghệ phát triển đã đầu tư cải tiến vận
dụng thành quả của các ngành khoa học khác để tạo ra nhiều các bài tập bố
trợ chuyên môn.
- Việc tập luyện môn nhảy xa trên thế giới vào các thập kỷ 60 của thể kỷ
XX về trước chủ yếu diễn ra trên các hố cát và các đường chạy bằng đất nện
hoặc xỉ than. Do vậy các hình thức của các bài tập bổ trợ chuyên môn cũng
đơn điệu, nghèo nàn. Từ thập kỷ 80 của thế kỷ XX nhờ có khoa học phát triển
nên có sự ra đời của các máy móc tập luyện, đường chạy nhựa tổng hợp đã
làm phong phú hơn, đa dạng hơn các bài tập bổ trợ, càng đáp ứng có chủ đích
các yêu cầu chuyên biệt của các môn thể thao hơn.
- Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện mối liên hệ giữa ngũ quan (xúc
giác, thính giác, khứu giác, vị giác, thị giác) đều có tác động quan trọng với
việc nắm bắt kỹ năng, kỹ xảo và phát triển các tố chất vận động. Vì vậy ngoài
việc dùng giáo cụ trực quan hoặc ngôn ngữ, nhiều chuyên gia thể thao đã
dùng ánh sáng, âm thanh tiếng động như tiếng trống, kèn trong tập luyện để
tác động vào tâm lý cũng như quá trình hưng phấn của người tập giúp cho
việc tập luyện bổ trợ đạt hiệu quả cao.
- Nhịp sinh học được các nhà khoa học Fuse và Swaplôta (Mỹ) đề xuất
vào thế kỷ XIX . Theo 2 ông: Nếu tính từ ngày sinh thì cứ 23 ngày là một chu
kỳ thể lực, 28 ngày là một chu kỳ tình cảm, 33 ngày là một chu kỳ trí lực. Nếu
12
tập luyện vào nhịp sinh học cao nhất của thể lực, trí lực hoặc tình cảm thì hiệu
- Giai đoạn rơi xuống và kết thúc.
Để có thành tích nhảy xa tốt thì người tập phải biết phối hợp chặt chẽ các
giai đoạn với nhau. Tốc độ chạy đà là tiền đề cho cơ sở giậm nhảy, chạy đà
phải đảm bảo tốc độ chính xác, tính ổn định và phải tạo được tốc độ nằm
ngang lớn nhất và tạo được điều kiện thuận lợi nhất cho giai đoạn giậm nhảy
(ở 6-8 bước cuối).
Ở giai đoạn giậm nhảy, chạy đà ở bước cuối cùng phải thay đổi hướng
của trọng tâm cơ thể từ tư thế chạy sang tư thế bay. Ý nghĩa của giai đoạn
giậm nhảy là tạo ra tốc độ bay ban đầu lớn nhất và có góc độ bay hợp lý, vì
giai đoạn giậm nhảy quyết định đến thành tích nên để giậm nhảy tốt người
nhảy phải biết phối hợp kỹ thuật và có sự chuẩn bị về sức mạnh tốc độ. Yêu
cầu của nhảy xa là phải kéo dài thời gian bay trên không của trọng tâm cơ thể
nhờ sự nỗ lực của người nhảy trong chạy đà và giậm nhảy. Như vậy, để có
thành tích tốt thì khi kết thúc giậm nhảy phải tạo được tốc độ bay ban đầu và
góc độ bay ban đầu hợp lý tối đa. Trong khi bay do không có điểm tựa nên
mọi hoạt động của người nhảy không làm thay đổi quỹ đạo bay nhờ hoạt động
bồi thường:
X=
Trong đó
X: là hoạt động bồi thường
P: là trọng lượng cơ thể hoạt động (kg)
L: là quãng đường di chuyển của bộ phận cơ thể (cm)
B: là trọng lượng cơ thể (kg)
Và nó có tác dụng giữ thăng bằng tốt. Kết thúc giai đoạn bay người nhảy
phải tận dụng điểm chạm đất xa nhất so với trọng lượng cơ thể thì thành tích
sẽ tốt hơn. Muốn vậy người nhảy phải cố gắng với chân ra xa, về trước đồng
thời đánh tay và thân trên gập nhiều về phía trước để giúp không bị đổ người
ra phía sau làm ảnh hưởng đến thành tích.
15
Mục đích của giai đoạn này là dạy học các nguyên lý kỹ thuật động tác,
hình thành kỹ năng thực hiện nó, để đạt được mục đích trên cần giải quyết các
nhiệm vụ sau:
+ Tạo khái niệm chung về động tác và tư thế tâm thu tốt để tiếp thu kỹ
thuật động tác.
+ Ngăn ngừa và loại trừ những cử động không cần thiết.
+ Hình thành nhịp điệu chung của động tác.
- Giai đoạn giảng dạy đi sâu chi tiết:
Mục đích giảng dạy ở giai đoạn này là đưa trình độ tiếp thu ban đầu
còn “thô thiển” đối với kỹ thuật động tác lên mức tương đối hoàn thiện. Nếu
ban đầu còn chủ yếu tiếp thu cơ sở kỹ thuật thì ở giai đoạn này phải tiếp thu
chi tiết kỹ thuật đó. Nhiệm vụ cơ bản của giai đoạn này:
+ Cần có sự chính xác hóa kỹ thuật động tác theo các đặc tính không gian,
thời gian, nhiều động lực của nó sao cho tương ứng với đặc điểm người tập.
+ Hoàn thiện nhịp điệu động tác, thực hiện nhịp điệu động tác tự nhiên,
liên tục.
+ Tạo tiền đề để thực hiện động tác biến dạng.
- Giai đoạn hoàn thiện kỹ thuật:
Mục đích của giai đoạn này là để đảm bảo cho người tập tiếp thu và vận
dụng các động tác hoàn thiện trong thực tế. Nhiệm vụ của giai đoạn này là:
+ Củng cố kỹ xảo để có về kỹ thuật động tác.
+ Mở rộng biến dạng các kỹ thuật động tác để có thể thực hiện nó hợp
lý trong các điều kiện khác nhau, lúc nào cũng phải biểu hiện các tố chất thể
lực ở mức độ cao.
+ Hoàn thiện sự cá biệt hóa kỹ thuật động tác cho phù hợp với đặc điểm
năng lực cá nhân.
dùng lực khi thực hiện động tác.
17
- Phương pháp giảng dạy toàn bộ:
Chúng tôi thực hiện hoàn thiện toàn bộ kỹ thuật của nhảy xa kiểu “ưỡn
thân” vì như vậy sẽ tạo cho các em thực hiện có tính liên tục không ảnh
hưởng đến tính nhịp điệu của động tác.
- Phương pháp giảng dạy phân chia:
Khi giảng dạy các động tác kỹ thuật phức tạp có nhiều giai đoạn để
giảng dạy giúp cho học sinh tiếp thu được các chi tiết kỹ thuật động tác.
Chúng tôi để phối hợp vận dụng phương pháp phân chia và phương
pháp toàn bộ trong quá trình giảng dạy kỹ thuật động tác, giúp cho học sinh
nắm vững chi tiết động tác và hoàn thiện kỹ thuật một cách chính xác.
1.6. Cơ sở lý luận để đề phòng và loại trừ những sai lầm thƣờng mắc
trong kỹ thuật nhảy xa kiểu “ƣỡn thân”
Trong dạy học ban đầu bao giờ cũng có những lệnh lạc đáng kể trong
khi thực hiện động tác so với hình mẫu quy định. Do đó cần phải đề phòng và
loại trừ ở mức có thể những lệch lạc làm xuyên tạc, méo mó đối với kỹ thuật
động tác. Những sai lệch tiêu biểu là: thêm động tác phụ không cần thiết;
động tác lệch lạc về phương hướng, biên độ; nỗ lực cơ bắp không đúng mức;
nhịp điệu chung của động tác bị sai. Những sai lệch đó thường là tự nhiên,
khó tránh khỏi do các quy luật tự nhiên trong lúc hình thành bước đầu các cơ
chế vận động. Nhưng cũng do thiếu sót trong phương pháp dạy học. Hiệu quả
dạy học phụ thuộc nhiều vào những cách chủ động ngăn ngừa và loại trừ
những sai lầm đó.
Môn nhảy xa về kỹ thuật động tác thực hiện mang tính quy luật tự
nhiên của con người. Nên trong lúc học kỹ thuật nhảy xa không thể tránh
được những sai lầm. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy kỹ thuật người giáo
nhưng lại cao hơn so với các em cùng lứa tuổi không tập thể thao.