Nghiờn cu khoa hc s phm ng dng / nm hc: 2011-2012
MụC LụC
TT NộI DUNG
TRANG
1 Mục lục 1
2 Tóm tắt 2
3 Giới thiệu 2-3
4
Phơng pháp
1. Khách thể nghiên cứu 3
2. Thiết kế nghiên cứu 3- 4
3. Quy trình nghiên cứu 4- 6
4. Đo lờng và thu thập dữ liệu 7 - 14
5 Phân tích dữ liệu và bàn luận kết quả 14 - 16
6 Kết luận và kiến nghị 17-18
7
Ph lc
Tài liệu tham khảo
19 -22
23
Ngi vit: Trn Anh Tỳ / THCS Giang Biờn- Vnh Bo- Hi phũng
1
Nghiờn cu khoa hc s phm ng dng / nm hc: 2011-2012
BO CO SNG KIN KINH NGHIM
NM HC: 2011- 2012
TÊN Đề TàI:
Nghiờn cu la chn mt s bi tp nhm sa cha nhng sai lm thng
mc trong hc k thut chy lao sau xut phỏt ca hc sinh ph thụng la tui14"
I. TóM TắT
Trong nhiu nm hc va qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã không ngừng cải
tiến nội dung, đổi mới phơng pháp giảng dạy và tập luyện môn điền kinh nói chung
đồng nghiệp trong những năm học tập và công tác tại trờng, để đa chất lợng giảng
dạy và học tập môn thể dục nói chung và nội dung chy ngn nói riêng tôi đã mạnh
dạn cải tiến phơng pháp tập luyện để giúp học sinh học tập nội dung chy ngn đạt
kết quả cao hơn.
Nắm bắt kịp thời ý nghĩa chiến lợc trên, công tác Giáo dục và Đào tạo ở nhiều
nhà trờng THCS đã kịp thời tìm ra những phơng sách để thực hiện, đem lại những đổi
mới trong chơng trình, hình thức và tổ chức quản lý cũng nh sự thay đổi về nội dung,
cấu trúc hình thức học tập môn học TDTT. ú chớnh l lớ do tụi nghiờn cu ti
ny
: " Nghiờn cu la chn mt s bi tp nhm sa cha nhng sai lm thng mc trong
hc k thut chy lao sau xut phỏt ca hc sinh cp ph thụng la tui 14"
2. Mc ớch nghiờn cu: Mc ớch nghiờn cu ca ti ny l tỡm hiu nhng
sai lm v ỏp dng cỏc bi tp cú hiu qu nhtnhm khc phc cỏc sai lm thng
mc trong hc k thut chy lao sau xut phỏt ca hc sinh trng THCS Giang biờn
la tui 14 ( lp 8)
3. Gi thit kt qu ca ti: ti cú tớnh kh thi, kt qu ca ti l: tỡm
ra cỏc bi tp, bin phỏp sa cha nhng sai lm ỏp dng vo vic sa cha k thut
Ngi vit: Trn Anh Tỳ / THCS Giang Biờn- Vnh Bo- Hi phũng
3
Nghiờn cu khoa hc s phm ng dng / nm hc: 2011-2012
chy lao sau xut phỏt cho hc sinh la tui 14 ( lp 8 ) nhm nõng cao thnh tớch
trong hc tp v thi u chy ngn ( 60m )
III. PHƯƠNG PHáP
1. Khách thể nghiên cứu
Tôi chọn Trờng THCS Giang Biờn, huyện Vnh Bo thnh ph Hi Phũng vì
tôi đang giảng dạy tại trờng này nên có điều kiện nghiên cứu khoa học s phạm ứng
dụng.
* Giáo viên:
+ Trn Anh Tỳ (GV thể dục) dạy nhóm thực nghiệm v nhúm i chng.
* Học sinh: Gồm 20 em chia thành 2 nhóm
trong những năm công tác tại trờng.
Để làm tốt công việc này tôi đã bố trí thời gian tập luyện liờn tc trong 3
thỏng, cui t tp luyn kiểm tra kết thúc cho cả hai nhóm. Trong đó nhóm đối
chứng (A
1
) tập các bài tập theo PPCT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, còn nhóm thực
nghiệm (A
2
) tập theo phơng pháp mới mà tôi và các đồng nghiệp đã đúc rút ra trong
quá trình giảng dạy và công tác.
* Các bài tập và phơng pháp tập luyện nhằm nâng cao thành tích môn Chy
Ngn
Các bài tập:
- Tp vi dõy co buc qua bng cú ngi gi
- Xut phỏt cao chy 30m trờn cỏt - Tc cao
- Xut phỏt thp trờn cỏt 30m - Tc cao
- Tp th lc chung: Phỏt trin c ựi, bng, lng; xen k trũ chi vn ng.
Các phơng pháp luyện tập
- Làm mẫu kết hợp với giảng giải.
- Phân đoạn và hoàn chỉnh.
- Luyện tập bắt chớc.
- Luyện tập lặp lại.
- Luyện tập nâng cao dần yêu cầu.
- Trò chơi và thi đấu.
- Trực quan gián tiếp: xem tranh ảnh
- Sửa sai và giúp đỡ.
Đặc biệt trong quá trình tập luyện cho học sinh hình thành k nng vn ng
tụi cho hc sinh thc hin ti ch ỏnh tay, chy lờn bc tam cp kt hp ỏnh tay,
thc hin ng tỏc p sau nhanh nhiu ln vi cng ln ( bng thi u ) . Trớc
khi chia nhóm tập luyện, tôi thờng đa ra yêu cầu về kỹ thuật và an toàn, hớng dẫn
Ngi vit: Trn Anh Tỳ / THCS Giang Biờn- Vnh Bo- Hi phũng
6
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng / năm học: 2011-2012
Chúng tôi tiến hành kiểm tra kết quả của 200 em học sinh phổ thông lứa tuổi
14 huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng dùng phương pháp lập phiếu phỏng vấn để tìm ra
những sai lầm căn bản nhất để tiến hành sửa chữa.
Sau khi đã tìm ra các sai lâm cơ bản chúng tôi lựa chọn các bài tập thích hợp
và tiến hành thực nghiệm trên 20 học sinh lớp 8 của trường THCS Giang Biên-Vĩnh
Bảo-Hải Phòng.
Nhóm thực nghiệm gồm 10 em áp dụng các bài tập mà chúng tôi đã lựa chọn.
Nhóm đối chiếu gồm 10 em tập luyện theo chương trình của Bộ GD & ĐT, Sở
GD & ĐT Hải Phòng
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành theo phương pháp so sánh thành tích
trước và sau thực nghiệm cho cả hai nhóm trong cùng điều kiện tập luyện như sau
chỉ khác về bài tập sử dụng. Kết quả kiểm tra được ghi vào văn bản để tổng hợp và
tính toán số liệu làm cơ sở để đánh giá bài tập mà chúng tôi lựa chọn và áp dụng.
5. Phương pháp toán học thống kê.
Sau khi thu thập số liệu chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh hiệu số của
hai nhóm đối chiếu và thực nghiệm, trước và sau thực nghiệm vì n
<
30 nên chúng tôi
đã áp dụng công thức sau:
Số trung bình cộng : Phương sai
Độ lệch chuẩn:
Nhằm giải quyết nhiệm vụ 2 của đề tài tính toán rút ra các kết quả cụ thể từ đó
đánh giá hiệu quả của việc áp dụng các bài tập sửa chữa.
+. Tổ chức nghiên cứu
1. Thời gian nghiên cứu: trong học kì 1 năm học: 2011- 2012
2. Đối tượng nghiên cứu: gồm 20 Học sinh lớp 8B và 8C chia thành 2 nhóm
( Nhóm đối chứng A1: 10 em Học sinh lớp 8C và nhóm thực nghiệm A2: 10 em Học
sinh lớp 8B )
3. Địa điểm nghiên cứu: Trường THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo - Hải Phòng
4.ĐO LƯỜNG VÀ THU THẬP DỮ LIỆU( Kết quả nghiên cứu).
a. Cơ sở nguyên lý kỹ thuật.
Chạy cự ly ngắn như chúng ta đã biết thành tích phụ thuộc vào nhiều yếu tố
chủ quan và khách quan, trong đó kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng. Giai đoạn
chạy lao sau xuất phát có mối quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng trực tiếp đến thành tích.
Hơn thế nữa đây là giai đoạn kỹ thuật tương đối khó, thời gian,quãng đường để thực
hiện kỹ thật rất ngắn và học sinh ít chú ý đến kỹ thuật này nên điều đó càng ảnh
hưởng đến thành tích của các em. Chạy lao tốt sẽ tạo điều kiện cho cơ thể nhanh
chóng bắt được tốc độ cao (nói cách khác là chạy lao tốt thì thành tích tốt và ngược
lại).
Kỹ thuật chạy ngắn chia làm 4 giai đoạn:
+ Giai đoạn xuất phát thấp.
+ Giai đoạn chạy lao sau xuất phát.
+ Giai đoạn chạy giữa quãng.
+ Giai đoạn chạy về đích.
Trong chạy cự ly ngắn thì thì Giai đoạn chạy lao sau xuất phát thường diễn ra
rất nhanh (khoảng 20-30 m) chạy lao sau xuất phát giúp cơ thể ổn định và bắt được
vào tốc độ tối đa sau khi xuất phát trong một thời gian ngắn và khoảng cách ngắn.
Mục đích của chạy lao sau xuất phát là tạo ra sự cân bằng về phương chiều,
chuyển động của cơ thể sau xuất phát. Nên chuyển động của tư thế thần người, độ
dài bước chạy, sự phối hợp giữa bước chạy và đánh tay, góc độ đạp của chân với mặt
đất nhằm tạo ra tư thế ổn định và thích hợp cho người tập có được tư thế thích hợp
khi chạy lao sau xuất phát.
Người viết: Trần Anh Tú / THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo- Hải phòng
8
Người viết: Trần Anh Tú / THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo- Hải phòng
9
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng / năm học: 2011-2012
4. Chạy không theo đường thẳng.
5. Góc độ đạp sau không hợp lý.
Trên đây là những sai lầm mà học sinh thường mắc phải. Một vấn đề đặt ra là
phải xác định được những sai lầm chung nhất, cơ bản nhất , phổ biến nhất mà người
tập thường mắc phải.
Tôi sử dụng phương pháp quan sát sư phạm trong các giờ lên lớp của học sinh
phổ thông lứa tuổi 14 trường THCS Giang Biên -Vĩnh Bảo-Hải Phòng (tổng số 200
em).
Bảng 1: Kết quả của phương pháp quan sát sư phạm
(n
=
200)
TT 1 2 3 4 5
1 200 200 180 20 50 15
2 Tỷ lệ: % 100 90 10 25 7,5
Qua bảng trên chúng tôi thấy:
- Ở sai lầm 1 có 200 em mắc phải sai lầm chiếm 100%
- Ở sai lầm 2 có 180 em mắc phải sai lầm chiếm 90%
- Ở sai lầm 3 có 20 em mắc phải sai lầm chiếm 10%
- Ở sai lầm 4 có 50 em mắc phải sai lầm chiếm 25%
- Ở sai lầm 5 có 15 em mắc phải sai lầm chiếm 7,5%
Như vậy, qua phương pháp quan sát sư phạm chúng tôi nhận thấy rằng những
sai lầm 1,2 là những trường hợp mắc phải sai lầm chiếm tỷ lệ nhiều nhất . Chúng tôi
cho rằng những sai lầm này thường mắc nhất, cơ bản nhất những sai lầm còn lại tỷ lệ
mắc phải còn ít không có nhiều, có thể giải thích rằng những sai lầm này không diễn
ra thường xuyên và phổ biến ở người tập.
Kết quả phương pháp phỏng vấn:
- Ở sai lầm 5 có 4 em mắc phải sai lầm chiếm 20%
Với kết quả trên ta thấy ở sai lầm 1-2 vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất. So sánh kết
quả 2 phương pháp quan sát sư phạm và phương pháp phỏng vấn kết quả của hai
phương pháp này được tính theo tỷ lệ phần trăm. Trong tất cả 5 sai lầm thường mắc
có 2 sai lầm là căn bản nhất,chung nhất,kết quả so sánh ta thấy sự trùng hợp giữa
phương pháp quan sát sư phạm và phương pháp phỏng vấn đó là các sai lầm 1-2.
Người viết: Trần Anh Tú / THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo- Hải phòng
11
Tên các sai lầm
Số người quan sát
Tên các sai lầm
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng / năm học: 2011-2012
Bảng 3: Kết quả 2 phương pháp quan sát sư phạm và phương pháp phỏng vấn
TT 1 2 3 4 5
1
Quan sát sư phạm
(n
=
200)
100% 90% 10% 25% 7,5%
2
Phỏng vấn
(n
=
20)
90% 100% 25% 15% 20%
Dựa vào bảng so sánh giữa hai phương pháp ta thấy các sai lầm 1-2 chiếm tỷ lệ
phần trăm cao nhất. Chúng tôi coi đó là những sai lầm căn bản nhất. Sai lầm 3-4-5
chiếm tỷ lệ phần trăm thấp, do vậy chúng tôi đi sâu nghiên cứu 2 sai lầm cơ bản
thường mắc nhất. Để khắc phục những sai lầm đó ta phải hiểu rõ những sai lầm và
- Hệ xương: Thời kì này bộ xương của các em lớn lên một cách đột ngột, cả về
chiều dài và chiều dày, đàn tính xương giảm độ dài xương tăng do hàm lượng Magiê,
phốt pho, can xi trong xương tăng. Xuất hiện sự cốt hóa một bộ phận của xương
như( mặt cột xương sống) các tổ chức sụn thay thế bằng các mô xương nên cùng với
sự phát triển về chiều dài cảu cột sống thì khả năng biến đổi của cột sống không
giảm đi mà còn tăng lên và có xu hướng dễ cong vẹo.
- Hệ cơ: Hệ cơ của các em ở giai đoạn này phát triển với tốt độ nhanh( nhưng
vẫn chậm hơn so với hệ xương) số lượng cơ tăng lên rất nhanh đặc biệt là số sợi tơ
cơ ác tyl nhiều hơn sợi Myôjin nên đàn tính của cơ tăng nhanh, tăng không đều chủ
là cơ nhỏ và dài.
Nên khả năng tích lũy năng lượng trong cơ bắp ít do đó khi hoạt động chóng dẫn tới
mệt mỏi.
- Hệ tuần hoàn: Đang trên đà phát triển mạnh để kịp thời với sự phát triển của
toàn thân( các hệ cơ quan khác) nhưng còn thiếu cân đối gây nên sự mất thăng bằng
tạm thời của bộ phận cơ thể.Như sự mất cân bằng giữa tim về hệ mạch máu. Dung
tích ở tim tăng lên gấp đôi so với ở lứa tuổi trước nhưng dung tích của hệ mạch chỉ
tăng gấp rưỡi nên hệ tuần hoàn không cung cấp đủ máu cho các cơ quan khi vận
động gây nên sự thiếu máu từng bộ phận trên vỏ não.
Người viết: Trần Anh Tú / THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo- Hải phòng
13
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng / năm học: 2011-2012
Đó là nguyên nhân gây nên huyết áp lứa tuổi này thường tăng cao đột ngột,
mạch máu không ổn định nên hoạt động mạnh mẽ chóng mệt sựu phục hồi của cơ thể
nhanh. Nói chung sự hồi phục tim mạch sau hoạt động thể lực nói chung phụ thuộc
vào cường độ vận động và độ lớn của lượng vận động.
Hệ hô hấp: Phổi của các em phát triển mạnh nhưng không đều, khoang ngực
nhỏ, hẹp nên các em thường thở nhanh và không ổn định. Dung tích sống không khí
phỏi còn ít nhu cầu ôxy cao trong khi đó khả năng cung cấp, ít đó chính là nguyên
nhân làm cho tần số hô hấp của các em tăng cao khi hoạt động và chóng dẫn tới mệt
mỏi.
giản, khối lượng không cao, kỹ thuạt đơn giản sau đó nâng dần độ khó của kĩ thuật
và bài tập lên.
Ở lứa tuổi 14 này chúng tôi phải dựa vào đặc điểm tâm sinh lí cúa các em mà
đưa ra các bài tập sao cho các em thích tập luyện tạo nên sự hưng phấn trong tập
luyện thí mới đạt kết quả cao trong công tác giảng dạy và đào tạo nhằm nâng cao
thành tích chạy 60 mét nói riêng và chạy ngắn nói chung.
d. -Lựa chọn áp dụng bài tập nhằm khắc phục những sai lầm thường mắc khi
học kỹ thuật chạy lao sau xuất phát
Qua 2 phương pháp quan sát sư phạm và phương pháp phỏng vấn chúng tôi đã
xác định ra 2 sai lầm chung nhất, cơ bản nhất để khắc phục những sai lầm này chúng
tôi sử dụng phương pháp sư phạm:
Phương pháp trực quan:
Cho người tập xem tranh ảnh, phim và động tác làm mẫu chuẩn( đúng kĩ thuật)
của giáo viên: Các động tác khi thực hiện làm mẫu phải đúng kĩ thuật, chính xác.
Phương pháp giảng giải:
Giảng giả và thi phạm lại kĩ thuật động tác giúp cho người tập hiểu và hình dung
được về kĩ thuật động tác để áp dụng cho từng sai lầm:
* Sai lầm 1: Thân dựng sớm
Biện Pháp tập luyện: Nắm lại kĩ thuật chạy lao
- Chạy hạ thấp trọng tâm(chạy với bước rộng)
- Tập dưới giàn giáo để giữ trọng tâm cơ thể theo chiều sau
- Tập với dây co buộc qua bụng có người giữ
Người viết: Trần Anh Tú / THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo- Hải phòng
15
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng / năm học: 2011-2012
- Xuất phát cao trên cát chạy 30 mét tốc độ cao
- Xuất phát thấp trên cát chạy 30 mét tốc độ cao
- Tập thể lực chung: Phát triển cơ đùi, bụng, lưng…….
- Trò chơi: Chạy thi dưới giàn giáo tính thời gian, đội nào chạy với thời gian
ngắn nhất- thắng. Đội thua phải cõng đội bạn.
Để làm rõ sự khác biệt về sự phát triển thành tích của hai nhóm thực nghiệm
và đối chiếu. Chúng tôi dùng toán học thống kê để tính t :
2 2
XA XB
t
nA nB
δ δ
−
=
+
Xi
X
n
=
∑
2 2
2
( ) ( )
2
xA xB xB xB
nA nB
δ
− + =
=
+ −
∑ ∑
Trước khi bước vào tập luyện chính thức chúng tôi tiến hành kiểm tra thành
tích của hai nhóm và thu được kết quả so sánh trước tập luyện như sau:
Bảng 4: Kết quả thành tích chạy 30m trước thực nghiệm (n=20).
Nhóm
2
δ
0,267
|t| tính 2,597
t (bảng) 2,101
Kết quả so sánh trên ta thấy:
Chạy 30 mét |t| tính 2,597 > t bảng 2,101.
Sự khác biệt có ý nghĩa ở ngưỡng sác xuất P=5% hay nói cách khác những bài
tập mà chúng tôi đưa ra thực nghiệm đã có kết quả tốt hơn hẳn phương pháp sử dụng
của giáo viên giảng dạy. Rõ ràng thành tích của nhóm thực nghiệm tốt hơn hẳn nhóm
đối chiếu chính là do tác động của các bài tập sửa chữa mà chúng tôi đưa ra.
Cần nhấn mạnh rằng kết quả này hoàn toàn khách quan bởi vì cùng điều kiện
tập luyện như nhau về sân bãi, dụng cụ, thời gian, số lượng buổi tập…chỉ khác nhau
về nội dung bài tập mà chúng tôi đã lựa chọn thì thành tích và kỹ thuật cũng khác
nhau, biểu hiện thành tích qua 2 bảng trên.
Người viết: Trần Anh Tú / THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo- Hải phòng
18
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng / năm học: 2011-2012
Vậy chứng tỏ rằng các bài tập các biện pháp tập luyện đưa lựa chọn một cách
có hệ thống và khoa học khi áp dụng vào giảng dạy thực hành sẽ thu được hiệu quả
cao.
Biểu đồ so sánh thành tích chạy 30 mét trước và sau thực nghiệm.
4,8xA =
4,2xA =
4,9xB =
4,8xA =
* Ghi chú: nhóm thực nghiệm
giảng dạy kỹ thuật chạy lao sau xuất phát cho học sinh phổ thông lứa tuổi 14 trường
THCS Giang Biên-Vĩnh Bảo-Hải Phòng.
B. Kiến nghị.
Qua việc nghiên cứu đề tài, xuất phát từ những suy nghĩ của bản thân tôi có
thể đưa ra một số kiến nghị sau:
1. Trong quá trình giảng dạy cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý, các
trường hợp đặc biệt từ đó lựa chọn các bài tập thích hợp với đặc điểm tâm sinh lý
lứa tuổi của các em đồng thời động viên được các em góp phần nâng cao hiệu quả
giờ học.
Người viết: Trần Anh Tú / THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo- Hải phòng
20
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng / năm học: 2011-2012
2. Do thời gian nghiên cứu có hạn, trình độ non yếu, tài liệu chuyên môn tham
khảo phục vụ cho đề tài còn hạn chế. Do đó việc áp dụng các bài tập vào sửa chữa
các sai lầm thường mắc trong quá trình học kỹ thuật sau xuất phát cho học sinh lứa
tuổi 14 trường THCS Giang Biên-Vĩnh Bảo-Hải Phòng còn thiếu sót.
Vậy mong các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp góp ý kiến bổ xung để tìm ra
các biện pháp, bài tập sửa chữa kỹ thuật hoàn chỉnh hơn để áp dụng vào công tác
giảng dạy TDTT trong nhà trường phổ thông đạt hiệu quả cao nhất.
Giang Biên, ngày 8 tháng 2 năm 2012
Người viết
Trần Anh Tú
Người viết: Trần Anh Tú / THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo- Hải phòng
21
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng / năm học: 2011-2012
PHẦN PHỤ LỤC
Thành tích của các em học sinh trước và sau thực nghiệm trong chạy 30m xuất phát
chạy lao
STT NHÓM THỰC NGHIỆM STT NHÓM ĐỐI CHỨNG
HỌ VÀ TÊN TRƯỚC SAU HỌ VÀ TÊN TRƯỚC SAU
5 4,1 -0,7 0,49 4,2 -0,7 0,49
6 5,5 -07 0,49 5,6 0,7 0,49
7 5,6 0,8 0,64 5,7 0,8 0,64
8 5,4 0,6 0,36 5,5 0,6 0,36
9 4,6 -0,2 0,04 4,6 -0,3 0,09
10 4,45 -0,35 0,123 4,5 -0,4 0,16
∑
47,65 2,643 48,65 2,833
4,8
4,9
XA
XB
=
=
2
2,643 2,833 5,476
0,304
10 10 2 18
δ
+
= = =
+ −
4,8 4,9 0,1
0,4
0,25
0,304 0,304
10 10
t
− −
∑
41,65 2,643 47,55 2,793
4,2
4,8
XA
XB
=
=
2
2,013 2,793 4,806
0,206
10 10 2 18
δ
+
= = =
+ −
4,2 4,8 0,6
2,597
0,231
0,267 0,267
10 10
t
− −
= = = −
+
|t| tính = 2,597 < t bảng = 2,101
Sự khác biệt có ý nghĩa ở ngưỡng sác xuất P = 5%
Người viết: Trần Anh Tú / THCS Giang Biên- Vĩnh Bảo- Hải phòng
24