1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
====***====
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM SỬA CHỮA NHỮNG SAI
LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT ĐÁNH CẦU CAO SÂU
THUẬN TAY MÔN CẦU LÔNG CHO HOC SINH KHỐI 11 TRƯỜNG
THPT NGUYỄN TRÃI - TP ĐÀ NẴNG
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Võ Đình Hợp
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Xuân Bách
Lớp : 10STQ
Ngành : Giáo dục thể chất-GDQP
Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014
2
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 12
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 12
1.1. Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trong trường học12
1.2. Vai trò của GDTC trong trường học 15
1.3. Công tác GDTC trong các trường học hiện nay. 17
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT 18
1.5. Đặc điểm môn cầu lông…………………………… …… ….16
1.4.1.Về mặt tâm lý: 19
1.4.2.Về mặt sinh lý: 19
1.6. Quá trình phát triển môn cầu lông trên thế giới. 27
1.7. Quá trình phát triển môn cầu lông Việt Nam 30
3.1.5.1. Nhận thức của học sinh 42
3.1.5.2. Cơ sở vật chất 43
3.1.5.3. Số lượng và trình độ của giáo viên chuyên môn cầu lông 43
3.1.6. Những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay
môn cầu lông …………………………………………………………………………….43
3.1.7. Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm trong khi thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu
thuận tay môn cầu lông 47
3.2. Lựa chọn, ứng dụng và đánh giá hiệu quả một số bài tập sửa chữa những sai lầm
thường mắc trong kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông cho học sinh trường
THPT Nguyễn Trãi. 48
3.2.1. . Lựa chọn, ứng dụng các bài tập………………………………………………….42
3.2.1.1. Cơ sở lựa chọn bài tập 48
3.2.1.2. Lựa chọn bài tập 49
3.2.1.3. Ứng dụng bài tập đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông: 51
3.2.2. Test kiểm tra đánh giá thực hiện kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu
lông ……………………………………………………………………………………52
3.2.2.1. Cơ sở lý luận để đưa ra test kiểm tra kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu
lông 52
3.2.2.2. Đánh giá độ tin cậy của test: 54
3.2.3. Đánh giá hiệu quả các bài tập đã lựa chọn 56
3.2.3.1. Tổ chức thực nghiệm 56
4
3.2.3.2. Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm đối chứng (nhóm A) và nhóm
thực nghiệm (nhóm B) 59
3.2.3.3. Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm đối chứng (nhóm A) và nhóm thực
nghiệm (nhóm B)……………………………………………………………………… 55
3.2.3.4. Đánh giá sự tăng trưởng của 2 nhóm thực nghiệm, đối chứng 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
5
Bảng 3.17. So sánh kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông trước và
sau thực nghiệm của nhóm thực nghiệm (nhóm B)
6
Bảng 3.18. So sánh nhịp độ tăng trưởng của 2 nhóm đối chứng (nhóm A) và
nhóm thực nghiệm (nhóm B)
DANH MỤC BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 1: Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm của 2 nhóm đối chứng (nhóm A)
và nhóm thực nghiệm (nhóm B).
Biểu đồ 2: Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm của 2 nhóm đối chứng ( nhóm A) và
nhóm thực nghiệm (nhóm B)
Biểu đồ 3: So sánh kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông ở các lần
kiểm tra của nhóm đối chứng (nhóm A)
Biểu đồ 4: So sánh kỹ thuật đánh cầu cao sâu thuận tay môn cầu lông ở các lần
kiểm tra của nhóm thực nghiệm (nhóm B)
Biểu đồ 5: So sánh nhịp độ tăng trưởng (W%) của nhóm đối chứng (nhóm A) và
nhóm thực nghiệm (nhóm B) sau thực nghiệm
DANH MỤC HÌNH:
Hình 1: Sân thi đấu cầu lông
Hình 2: Cúp Thomas
Hình 3: Cúp Uber
Hình 4: Cúp Xudiman
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT:
- Thể dục thể thao: TDTT
- Trung học phổ thông: THPT
- Giáo dục thể chất: GDTC
- Giáo dục quốc phòng: GDQP
- Chủ nghĩa xã hội: CNXH
- Đại học Đà Nẵng: ĐHĐN
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
cao”.
Để phát triển, bồi dưỡng, lựa chọn và cung cấp tài năng thể dục thể thao cho đất
nước, tạo ra thế hệ kế tục không ngừng cho sự nghiệp thể dục thể thao xã hội chủ
nghĩa, cần phát triển rộng rãi hơn nữa phong trào thể dục thể thao quần chúng, đặc biệt
trong tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh. Trên cơ sở phát hiện những tài năng thể thao,
đào tạo bồi dưỡng thành lớp vận động viên có tài năng cho đất nước.
Tóm lại, để thực hiện mục tiêu xây dựng một đất nước phồn vinh giàu mạnh, một
“Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng quan
tâm đến mọi ngành, mọi người tạo mọi điều kiện cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá
nhân có cơ hội phát triển bền vững. Trước sự quan tâm như vậy, ngành thể dục thể
thao trên cả nước nói chung và ngành thể dục thể thao Tp Đà Nẵng nói riêng đã nhận
thức sâu sắc trách nhiệm của mình, không ngừng phấn đấu xây dựng một nền thể thao
quần chúng phát triển rộng rãi, đồng thời tăng cường phát triển thành tích cao trong
điều kiện hiện tại của Tp Đà Nẵng; Đến nay, nhiều môn thể thao dân tộc và hiện đại đã
được phổ biến rộng rãi trong quần chúng lao động của thành phố Đà Nẵng như bóng
đá, bóng bàn, cờ vua, đá cầu … và trong đó không thể không nhắc đến môn Cầu lông.
Cầu lông ra đời từ giữa thế kỷ 18 tại British India (vùng thuộc địa cũ của Anh bao
gồm Ấn Độ và Myanma), do một sĩ quan quân đội Anh đóng ở Ấn Độ sáng tạo. Kể từ
đó đến nay môn thể thao này là môn thể thao phát triển mạnh trên thế giới, nó được du
nhập vào Việt Nam qua hai con đường thực dân hoá và Việt kiều về nước. Mãi đến
năm 1960 mới xuất hiện một vài Câu lạc bộ ở các thành phố Hà Nội, Sài Gòn, năm
1961 Hà Nội tổ chức thi đấu giao hữu lần đầu tiên tại vườn Bách Thảo Hà Nội, nhưng
số người tham gia còn ít, trình độ chuyên môn còn thấp, những năm sau đó đất nước bị
chiến tranh, phong trào bị lắng xuống.
Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, phong trào tập luyện Cầu lông mới
thực sự phát triển cả bề rộng và chiều sâu, nhưng phong trào chỉ phát triển chủ yếu ở
9
một số thành phố, thị xã như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh, Bắc Giang… Để lãnh đạo phong trào đúng hướng và cung cấp đội ngũ cán bộ,
giáo viên, huấn luyện viên, trọng tài…nhằm phát triển lực lượng vận động viên và
- Đối với những người cao tuổi tập luyện và thi đấu cầu lông có tác dụng củng cố
tăng cường sức khoẻ, chống sự thoái hoá của một số bộ phận cơ thể qua đó có thể
phòng chống được một số bệnh thường xuất hiện ở lứa tuổi này như suy nhược cơ thể,
cao huyết áp,….
- Đối với những người làm việc trí óc, công chức Nhà nước, sau thời gian lao
động căng thẳng mệt mỏi, tập luyện và thi đấu Cầu lông có tác dụng làm thay đổi trạng
thái mệt mỏi sang hưng phấn tạo cảm giác thoải mái dễ chịu bớt đi căn thẳng đưa cơ
thể dần trở về trạng thái bình thường.
- Đối với những người lao động chân tay tập luyện Cầu lông có tác dụng làm
tăng cường sức khoẻ, phát triển sức mạnh cơ bắp hoạt động linh hoạt nhanh nhẹn, xử
lý mọi tình huống trong cuộc sống một cách có hiệu quả nhất, chuẩn bị bước vào lao
động với hiệu quả cao mang lại giá trị vật chất cho mình và xã hội.
Đặc điểm nổi bật của môn Cầu lông là tạo lối sống sôi động và tốc độ, kết hợp
với điểm rơi biến hoá, sự điêu luyện kỹ thuật phối hợp ở mọi vị trí. Cơ sở của một trận
đấu là nhịp độ nhanh, năng lực tốc độ, phản ứng kịp thời, khả năng phối hợp vận động
với ý chí tập trung cao và sự ổn định về tâm lý. Thành tích thi đấu gắn liền với quá
trình diễn biến tâm lý của vận động viên. Quyết đoán, dũng cảm, mưu trí, vững vàng là
những phẩm chất tâm lý chủ yếu của vận động viên cầu lông.
Đối với thể thao Việt Nam môn cầu lông cũng có những bước phát triển và tiến bộ
rõ rệt. Chỉ sau một thời gian đã có vị trí quan trọng trong hệ thống các môn thể thao
đỉnh cao, là môn thu hút được đông đảo người tham gia tập luyện với mọi lứa tuổi, vì
thế từ lâu chúng ta rất coi trọng môn thể thao này.
11
Có nhiều người cho rằng: môn cầu lông là môn thể thao dễ tập, chỉ cần có sự say
mê và có một vài buổi tập là có thể đánh được. Song trên thực tế muốn đạt được hiểu
quả cao của từng kỹ thuật đòi hỏi người tập không những có lòng kiên trì mà còn có sự
say mê sáng tạo để đạt được một trình độ nhất định.
Một trong những kỹ thuật cơ bản quan trọng nhất trong môn cầu lông là đánh cầu
cao sâu thuận tay. Đánh cầu cao sâu thuận tay được coi là phương tiện cơ bản là tiền
đề cho sự phát triển đỉnh cao trong cầu lông hiện nay.
nói riêng, coi con người là tài sản của đất nước, các văn bản pháp lý của Đảng và nhà
nước ta đều nhấn mạnh TDTT là công tác cách mạng, là công cụ tác động tích cực đến
đời sống xã hội, là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục con người phát triển
toàn diện về mọi mặt.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng
công tác GDTC trong trường học nhằm đào tạo những lớp người mới phát triển cao về
trí tuệ, cường tráng về thể chất, nâng cao về tinh thần và đạo đức…Đó là mục tiêu của
Đảng và nhà nước, là ước nguyện của Bác Hồ đối với thế hệ trẻ của Việt Nam - những
con người sẵn sang kế tục sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa.
Những quan điểm của Đảng và nhà nước ta về Giáo dục và Đào tạo nói chung và
GDTC nói riêng đều xuất phát từ những cơ sở tư tưởng, lý luận của học thuyết Mác –
Lê Nin về con người và sự phát triển con người toàn diện, về giáo dục thế hệ trẻ trong
xã hội xã hội chủ nghĩa, những nguyên lý giáo dục thể chất Mác xít, cũng như tư
tưởng quan điểm của Hồ Chí Minh về TDTT nói chung và GDTC cho thế hệ trẻ nói
13
riêng. Những tư tưởng, cơ sở lý luận, đó đều được Đảng quán triệt trong đường lối
phát triển TDTT trong suốt thời kỳ lãnh đạo cách mạng dân chủ nhân dân và tiến lên
xây dựng CNXH ngày nay. Tuỳ theo yêu cầu nhiệm vụ và tình hình cụ thể, Đảng ta
luôn có những chỉ thị, nghị quyết lãnh đạo kịp thời đề ra những chủ trương thúc đẩy
phong trào TDTT của nước nhà. Hàng loạt các chỉ thị về công tác TDTT được Đảng
và Nhà nước ban hành như:
Chỉ thị số 106/CT/TW ngày 02/01/1958 của Ban bí thư TW Đảng về công tác
TDTT đã đề cập đến những vấn đề quan trọng như: Vai trò tác dụng của công tác của
công tác GDTC về thể thao quốc phòng và phát triển phong trào TDTT quần chúng
nhất là ở trường học.
Chỉ thị số 131/CT/TW ngày 13/01/1960 về công tác TDTT và chỉ thị số
158/CT/TW về tăng cường xác định vị trí và tầm quan trọng của TDTT trong những
năm tới của Ban Bí Thư TW Đảng đã xác định được vị trí và tầm quan trọng của
TDTT, coi TDTT là yêu cầu của quần chúng, là một mặt của sự nghiệp xây dựng
thành nếp sống hằng ngày của học sinh, sinh viên…”. Công tác TDTT được đề cập
một cách cấp thiết trong các văn bản pháp luật do Quốc hội thông qua như: Luật bảo
vệ sức khỏe nhân dân, luật chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho các em nhỏ phát triển thể
chất trở thành trách nhiệm của Đảng, nhà nước và nhân dân.
Điều 15 của pháp lệnh TDTT ngày 25/09/2002 quy định “Bộ GD&ĐT phối hợp
với Ủy ban TDTT thực hiện các nhiệm vụ: Xây dựng, chỉ đạo, thực hiện chương trình
GDTC theo quy định tiêu chuẩn RLTT và đánh giá kết quả RLTT của người học, quy
định hệ thống thi đấu TDTT trường học:.
Việc chăm lo sức khỏe, phát triển thể chất cho thế hệ trẻ được Đảng và Nhà nước
ta hết sức quan tâm và coi đó là nhiệm vụ hàng đầu trong suốt quá trình xây dựng và
bảo vệ đất nước. Đây cũng là mục tiêu cơ bản quan trọng nhất trong giáo dục con
15
người phát triển toàn diện, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
1.2. Vai trò của GDTC trong trường học
Giáo dục thể chất là một trong mục tiêu giáo dục toàn diện của Đảng và Nhà
nước ta. GDTC còn được hiểu là : “Quá trình sư phạm nhằm giáo dục và đào tạo thế
hệ trẻ, hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng làm việc, và kéo dài
tuổi thọ của con người”. Giáo dục thể chất trong trường học có vai trò vô cùng quan
trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền thể thao nước nhà. TDTT trường học
được xác định là một bộ phận quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và thể lực, bồi
dưỡng phẩm chất, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh góp phần vào sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thể dục thể thao trường học còn là môi
trường giàu tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao. Nó còn có tác dụng
quan trọng đối với việc đẩy mạnh phong trào TDTT quần chúng phát triển và có ý
nghĩa chiến lược đối với việc phát triển TDTT nước nhà, có tác dụng lâu dài, cơ bản
và toàn diện.
Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với
đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của
nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm. Giáo dục thể chất chia
Là nhu cầu và ham thích trong khi nhàn rỗi của 1 bộ phận học sinh sinh viên với
mục đích và nhiệm vụ là góp phần phát triển năng lực, thể chất một cách toàn diện,
đồng thời góp phần nâng cao thành tích thể thao của học sinh sinh viên. Giờ học ngoại
khoá nhằm củng cố và hoàn thiện các bài học chính khoá và được tiến hành vào giờ tự
học của học sinh sinh viên, hay dưới sự hướng dẫn của giáo viên TDTT, hướng dẫn
viên. Ngoài ra còn các hoạt động thể thao quần chúng ngoài giờ học bao gồm: Luyện
tập trong các câu lạc bộ, các giải thi đấu trong và ngoài trường được tổ chức hàng
năm, các bài tập thể dục vệ sinh chống mệt mỏi hàng ngày, cũng như giờ tự luyện tập
17
của học sinh sinh viên, phong trào tự tập luyện rèn luyện thân thể. Hoạt động ngoại
khoá với chức năng là động viên lôi kéo nhiều người tham gia tập luyện các môn thể
thao yêu thích, góp phần nâng cao sức khoẻ phục vụ học tập và sinh hoạt.
Tác dụng của giáo dục thể chất và các hình thức sử dụng TDTT có chủ đích áp
dụng trong các trường học là toàn diện, là phương tiện để hợp lý hoá chế độ hoạt động,
nghỉ ngơi tích cực, giữ gìn và nâng cao năng lực hoạt động, học tập của học sinh sinh
viên trong suốt thời kỳ học tập trong nhà trường, cũng như đảm bảo chuẩn bị thể lực
chung và chuẩn bị thể lực chuyên môn phù hợp với những điều kiện của nghề nghiệp
trong tương lai.
1.3. Công tác GDTC trong các trường học hiện nay.
Trong những năm qua, thực hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước, công tác GDTC và Thể thao trong nhà trường đã đạt được nhiều kết quả
đáng khích lệ trên cả 2 lĩnh vực: thực hiện chương trình môn học thể dục bắt buộc và
tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa tự nguyện cho học sinh.
Theo số liệu của Bộ, hiện nay trong cả nước có trên 87% số trường phổ thông
dạy đủ tiết thể dục chính khóa một tuần theo chương trình đổi mới ( do Bộ ban hành từ
năm học 2005 – 2006 ) theo hướng dạy cho học sinh kiến thức, kỹ năng vận động để
phát triển thể chất và góp phần hình thành nhân cách, trong đó ưu tiên số 1 là sự vận
động thể lực tích cực của học sinh trong mỗi giờ học. Nội dung chương trình có phần
bắt buộc và phần tự chọn, gồm các bài tập về đội hình, đội ngũ, điền kinh, thể dục, bơi
lội, cầu lông, bóng đá, đá cầu, trò chơi vận động, bóng rổ, bóng chuyền Việc đánh
trong quá trình phát triển của cơ thể người. Trong đó lứa tuổi 17 là lứa tuổi cơ thể phát
triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ phận vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ sẽ chậm
dần. Ở lứa tuổi THCS cơ thể các em phát triển theo chiều cao nhiều hơn nhưng ở lứa
tuổi THPT lại phát triển chiều ngang nhiều hơn.
19
1.4.1. Về mặt tâm lý:
Ở lứa tuổi này các em tỏ ra mình là người lớn, đã đòi hỏi mọi người xung quanh
tôn trọng mình, đã có một trình độ hiểu biết nhất định, có khả năng phân tích tổng hợp,
muốn hiểu biết nhiều, có nhiều hoài bão. Do quá trình hưng phấn chiếm ưu thế hơn
nên các em tiếp thu cái mới rất nhanh, nhưng cũng rất nhanh nhàm chán khi bị môi
trường bên ngoài tác động tạo nên sự đánh giá cao về bản thân, trái lại chỉ thất bại một
là là tạm thời tự ti, rụt rè và dễ bỏ cuộc. Ở lứa tuổi này các em bắt đầu muốn tự lập và
có quan hệ đặc biệt đến sự phát triển ý thức, hình thành tính cách và hướng về tương
lai. Đó cũng là lứa tuổi lãng mạn, có nhiều mơ ước độc đáo và mong cho tương lai tốt
đẹp hơn.
Sự hưng phấn của các em trong lứa tuổi này xuất hiện thêm nhiều mệt mỏi và đã
được xác định rõ ràng hơn, mang tính chất bền vững sâc sắc và phong phú hơn. Hưng
phấn của các em rất năng động, các em sẵn sàng đi vào các lĩnh vực tri thức mà các em
ưa thích và coi thường những môn học mà các em không thích. Vì vậy khi tiến hành
công tác GDTC cho lứa tuổi này chúng ta cần uốn nắn, nhắc nhở, chỉ bảo, động viên,
giúp đỡ các em hoàn thành tốt bài tập trong điều kiện các em tiếp thu chậm, từ đó các
em không tỏ ra chán nản, có định hướng đúng đắn và hiệu quả của bài tập được nâng
cao giúp các em tự tin trong học tập.
1.4.2. Về mặt sinh lý:
* Hệ thần kinh:
Hệ thần kinh tiếp tục phát triển đi đến hoàn thiện khả năng tư duy, khả năng phân
tích tổng hợp và trừu tượng hóa được phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình
thành nhanh chóng phản xạ có điều kiện. Đây là đặc điểm thuận lợi cho các em nhanh
chóng tiếp thu và hoàn thiện kỹ thuật động tác. Tuy nhiên đối với một số bài tập mang
tính đơn điệu, không hấp dẫn cũng làm cho các em chóng mệt mỏi. Cần thay đổi hình
tiết ra nhiều sẽ làm rối loạn sự chi phối của hệ thần kinh đối với nội tạng, dẫn đến hiện
tượng cao huyết áp tạm thời của tuổi dậy thì. Vì vậy trong khi bố trí các bài tập có
khối lượng cường độ vận động lớn hoặc các bài tập phát triển sức bền cần phải hết sức
thận trọng nếu không sẽ có hại cho sức khỏe.
* Hệ xương:
Xương bắt đầu giảm tốc độ phát triển khi ở lứa tuổi THPT, sụn ở hai đầu xương
vẫn còn dài nhưng sụn chuyển thành xương ít. Mỗi năm, nữ cao thêm từ 0,5 – 1cm
và nam từ 1 – 3cm, nếu không rèn luyện thân thể, luyện tập TDTT thì nữ sau 20 tuổi
và nam sau 25 tuổi hầu như không cao lên nữa. Việc tập luyện TDTT sẽ làm cho
xương phát triển thêm về chiều dài và nhất là phát triển mạnh theo chiều ngang. Các
xương nhỏ từ xương cổ tay, bàn tay đã kết thành xương nên các em có thể tập một số
động tác trèo chống, mang vật nặng mà không làm tổn hại hoặc đưa đến sự chênh lệch
của cơ thể. Cột sống đã ổn định hình dáng, nhưng vẫn chưa được củng cố, vẫn dễ bị
cong vẹo nên việc tiếp tục tập luyện tư thế chính xác trong đi, chạy, ngồi, nhảy, cho
các em vẫn rất cần thiết và không thể xem nhẹ. Riêng các em nữ sinh do xương xốp
hơn nam, lỗ tủy rộng hơn, chiều dài kém hơn, bắp thịt cũng nhỏ và yếu hơn nên không
khỏe bằng nam và thường chỉ khoảng 20 tuổi là không lớn được nữa. Xương chậu nữ
to và yếu hơn nam, bị chấn động mạnh dễ ảnh hưởng đến các cơ quan nằm trong
khung chậu như dạ con, buồng trứng, Vì thế không thể vận dụng khối lượng và
cường độ nặng hơn nam mà phải có sự lựa chọn nhất định cho thích hợp với các em.
* Hệ cơ:
Trong quá trình phát triển cơ thể, các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương. Nói
chung cấp 2 và đầu cấp 3 (nữ từ 13 – 15 tuổi, nam từ 14 – 16 tuổi) là thời kỳ các cơ
bắp phát triển nhanh nhất. Đặc điểm cơ bắp ở lứa tuổi THPT là cơ co vẫn còn tương
đối yếu, các bắp cơ lớn như cơ đùi, cơ cánh tay phát triển tương đối nhanh còn các cơ
nhỏ như các cơ bàn tay, ngón tay, các cơ xoay ngoài, xoay trong phát triển chậm hơn.
Các cơ co phát triển sớm hơn các cơ duỗi, nhất là cơ duỗi của nữ lại càng tương đối
22
yếu. Đặc biệt vào khoảng 16 tuổi, các tổ chức mỡ dưới da của nữ phát triển mạnh, do
đó phần nào ảnh hưởng đến sức mạnh của cơ thể.
lông đòi hỏi một thể lực cực tốt: vận động viên cần có sự dẻo dai, nhanh nhẹn, sức
khỏe tốt, tốc độ và sự chuẩn xác. Đây còn là môn thể thao có liên quan nhiều đến kỹ
thuật, yêu cầu sự kết hợp tốt và sự phát triển các di chuyển phức tạp của cây vợt.
Khởi nguồn của cầu lông có vết tích từ giữa thế kỷ 18 tại British India (vùng
thuộc địa cũ của Anh bao gồm Ấn Độ và Myanma), do một sĩ quan quân đội Anh đóng
ở Ấn Độ sáng tạo. Các bức ảnh đầu tiên cho thấy người Anh thêm vào cái lưới vào trò
chơi cầu lôngtruyền thống của người Anh. Môn thể thao này có liên quan đến ball
badminton, trò chơi dùng vợt và quả bóng bằng len màu vàng có nguồn gốc từ Tamil
Nadu, và tương tự như trò Hanetsuki có nguồn gốc từ Nhật Bản. Trở nên rất phổ biến
tại đơn vị đồn trú của quân Anh ở thị trấn Poona (nay là Pune), trò chơi còn biết đến
với tên Poona. Năm 1867 thì người ta bắt đầu ghi lại thành văn các luật chơi. Ban đầu,
quả bóng len đề cập tới ở ball badminton được tầng lớp thượng lưu yêu thích hơn khi
trời gió hoặc ẩm ướt, nhưng đa số lại thích dùng quả cầu lông. Trò chơi được một sĩ
quan về hưu đem về Anh nơi mà nó được phát triển và xây dựng luật chơi.
Dù có một điều rõ ràng là ngôi nhà Badminton House, ở vùng Gloucestershire,
thuộc quyền sở hữu của Duke of Beaufort, đã nguồn gốc cho tên gọi của môn thể thao
này, nhưng vẫn chưa có bằng chứng nào chỉ ra được khi nào và tại sao cái tên đó được
chấp nhận và sử dụng rộng rãi. Vào đầu năm 1860, Isaac Spratt, một nhà buôn bán đồ
chơi ở Luân Đôn, xuất bản trong một cuốn sách nhỏ, Badminton Battledore – a new
game (cầu lông - trò chơi mới), nhưng không may là không còn bản lưu nào sót
lại. Một bài viết năm 1863 trong tạp chí The Cornhill Magazine miêu tả cầu lông như
là "battledore and shuttlecock played with sides, across a string suspended some five
feet from the ground" (trò chơi cầu lông chơi trên sân chia đội, một sợi dây vắt ngang
sân với độ cao 5 feet). Cách chơi này có nhiều sự nghi ngờ vì nguồn gốc du nhập từ
Ấn Độ, dù trò chơi đã rất phổ biến ở đó vào thập niên 1870 và bộ luật đầu tiên được
xây dựng ở Poonah năm 1873. Một nguồn tin khác ghi lại rằng vào năm 1877
24
tại Karachi Ấn Độ (lúc này vẫn là thuộc địa của Anh), có một số nỗ lực trong việc lập
ra bộ luật hoàn chỉnh.
Đến đầu năm 1875, những cựu binh trờ về từ Ấn Độ lập ra một câu lạc bộ
học và tập luyện để phát triển thành kỹ năng kỹ xảo đối với môn cầu lông.
Kỹ thuật cơ bản trong cầu lông rất đa dạng và phong phú. Nó bao gồm các bước
di chuyển của chân và động tác đánh cầu của tay. Sự phối hợp hài hòa các kỹ thuật của
chân và tay sẽ góp phần tích cực tạo nên hiệu quả của mỗi lần đánh cầu. Để tập luyện
và thi đấu cầu lông tốt, người tập phải hoàn thiện tất cả các bài tập kỹ thuật đề làm
tiền đề cho việc sử dụng các chiến thuật thi đấu một cách hợp lí và hiệu quả.
Hiện nay thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau ở trong và ngoài nước, chúng
tôi đã thu thập được các khái niệm về bài tập bổ trợ như sau: Các nhà khoa học trong
và ngoài nước như Nôvicốp, Mátvêép (Nga), Harre (Đức), Nguyễn Văn Trạch, Lê Văn
Lẫm (Việt Nam)…Cho rằng: “ bài tập bổ trợ là một trong những phương tiện dùng để
giảng dạy, huấn luyện TDTT. Trong đó bao gồm các bài tập mang tính chuẩn bị cho
VĐV, bài tập mang tính dẫn dắt, bài tập mang tính chuyển đổi và bài tập mang tính
tăng cường các tố chất thể lực. Còn bài tập bổ trợ chuyên môn là bài tập mang tính
chuyên biệt cho từng môn thể thao, từng kỹ thuật riêng biệt cho môn thể thao”. Cũng
có cùng quan điểm với học giả nước ngoài, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn cho rằng: “
bài tập bổ trợ chuyên môn là các bài tập phối hợp các yếu tố các động tác thi đấu và
các biến dạng của chúng cũng như bài tập dẫn dắt động tác có chủ đích và có hiệu quả
đến sự nắm vững kỹ năng kỹ xảo và sự phát triển các tố chất thể lực của VĐV ngay ở
chính những môn thể thao đó”.
Các khái niệm của tác giả trên tuy có khác nhau về cách trình bày cũng như ngôn
ngữ sử dụng nhưng đều có sự nhất trí cao về nội hàm. Như vậy bài tập bổ trợ chuyên
môn có thể được hiểu là bài tập mang tính chuẩn bị ,tính dẫn dắt, tính chuyển đổi và