Phát triển đội ngũ giáo viên trung học cơ sở huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội đến năm 2020 (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HOÀNG VIỆT CƯỜNG

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ
HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
MÃ SỐ: 60.14.01.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN CÔNG GIÁP

HÀ NỘI, NĂM 2016


i

LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Học viện Quản lý giáo
dục đã tận tình giảng dạy, cung cấp kiến thức cơ bản, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả
hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kĩ năng nghiên cứu
khoa học cần thiết để hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS. TS Nguyễn Công
Giáp người đã tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới Huyện ủy –
HĐND – UBND huyện Gia Lâm, Ban Tổ chức Huyện ủy, phòng Nội vụ, phòng
Giáo dục- Đào tạo huyện Gia Lâm, các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện
Gia Lâm, đồng nghiệp và gia đình đã khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quản lý giáo dục
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Ngoài giờ lên lớp
Cao đẳng Sư phạm
Đại học Sư phạm

Chữ viết tắt
GD
GD&ĐT
GV
CNH-HĐH
QLGD
THCS
THPT
NGLL
CĐSP
ĐHSP


iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................
NHỮNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN.............................................
MỤC LỤC...............................................................................................................
MỞ ĐẦU...................................................................................................................
Chương 1...................................................................................................................
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ......................................

lượng đội ngũ, không đáp ứng được yêu cầu đa dạng trước thực tiễn GD đầy biến
động. Nhất là khi mà thực tiễn phát triển càng nhanh chóng, thì mâu thuẫn đó càng trở
nên sâu sắc, nếu không có những giải pháp để khắc phục kịp thời. Mâu thuẫn đó hiện
nay đang trở nên gay gắt trước yêu cầu của đổi mới GD để đáp ứng nhu cầu phát triển
của xã hội. Vấn đề chuẩn hóa, đồng bộ hóa cả về số lượng, cơ cấu, chất lượng của đội
ngũ; trong đó nâng cao chất lượng đội ngũ là trọng tâm đang trở thành một vấn đề
mang tính thời sự trong GD. Tìm ra các biện pháp phát triển đội ngũ GV sát, đúng,
đảm bảo tính cách mạng và khoa học; đưa vào áp dụng thành công trong thực tế, là
một yêu cầu thiết thực và thực sự bức thiết trong giai đoạn hiện nay.
Phát triển đội ngũ GV là một phạm trù động phải đáp ứng những yêu cầu đầy
biến động của cả hiện tại và tương lai. Do đó, cần phải quán triệt quan điểm thực tiễn,
quan điểm lịch sử và toàn diện; kết hợp hài hòa với khoa học dự báo thì mới có thể
giải quyết được vấn đề nghiên cứu. Hơn nữa, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa (CNH - HĐH) đất nước trong điều kiện hội nhập, yêu cầu nguồn nhân lực xã
hội đang bao hàm nội dung rất mới mẻ. Đội ngũ nhà giáo là một bộ phận góp phần
quyết định đào tạo nguồn nhân lực đó, vì vậy lại càng phải đổi mới mạnh mẽ. Những
vấn đề đặt ra là mối quan hệ giữa đội ngũ nhà giáo với phát triển nguồn nhân lực xã


2

hội. Các nội dung về đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hoá, hiện đại hóa, đổi mới về nội dung
và phương pháp GD... đều mang tính thời sự, cấp thiết trong lý luận cần được nghiên
cứu, phát triển lên một tầm cao mới.
1.2. Về mặt thực tiễn
Huyện Gia Lâm nằm ở phía Đông của Thủ đô Hà Nội. Toàn huyện có 22 trường
THCS. Trong những năm qua ngành GD&ĐT Gia Lâm nói chung và giáo dục THCS
nói riêng đã đạt được một số thành tựu quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương nói riêng và của thành phố Hà Nội nói chung, đáp ứng được phần lớn
nhu cầu của nhân dân trong huyện. Đội ngũ giáo viên THCS của huyện cũng từng

2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất một số biện pháp phát
triển đội ngũ GV THCS trong giai đoạn tới nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT ở
huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiêu cứu
Công tác phát triển đội ngũ giáo viên THCS
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển đội ngũ GV THCS huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội
4. Giả thuyết khoa học
Công tác phát triển đội ngũ GV THCS huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội đã
có những kết quả nhất định. Tuy nhiên vẫn còn một số những hạn chế như về số
lượng, về cơ cấu giáo viên và về năng lực trình độ chuyên môn ở các trường
THCS… Nếu đề xuất được các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS cụ thể
sát với thực tiễn của Huyện trong thời gian tới sẽ góp phần xây dựng đội ngũ giáo
viên THCS phát triển cân đối, toàn diện, đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng
bộ về cơ cấu đáp ứng nhu cầu của phát triển giáo dục THCS của huyện đến năm
2020.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên THCS.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên THCS và thực trạng
phát triển đội ngũ giáo viên THCS của huyện Gia Lâm, lí giải nguyên nhân của thực
trạng đó.
- Xây dựng và đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS
huyện Gia Lâm đến năm 2020.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Các trường THCS huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội.
6.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu


khái niệm công cụ về phát triển đội ngũ GV THCS làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên
cứu.
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phối hợp các phương pháp sau để phân tích, tổng hợp, đánh giá thực
trạng vấn đề nghiên cứu.


5

- Phương pháp điều tra: Xây dựng phiếu điều tra để điều tra về thực trạng phát
triển đội ngũ GV THCS các trường THCS huyện Gia Lâm.
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn GV, CBQL, các lực lượng tham gia liên
quan đến công tác quản lý giáo dục thông qua một số câu hỏi để tìm hiểu về thực trạng
phát triển GV THCS các trường THCS huyện Gia Lâm.
- Phương pháp chuyên gia để khảo nghiệm các biện pháp đề xuất: đối tượng là
các nhà khoa học, các chuyên gia về giáo dục, những cán bộ quản lý giáo dục có kinh
nghiệm.
7.2.3. Các phương pháp hỗ trợ
Phương pháp toán thống kê toán học để phân tích kết quả khảo sát thực trạng và
kết quả khảo nghiệm. Sử dụng phần mềm SPSS để xử lí kết quả điều tra từ các phiếu
điều tra.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lí luận của vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên THCS.
Chương 2. Thực trạng giáo dục THCS và việc phát triển đội ngũ giáo viên THCS
huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2016.
Chương 3. Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS huyện Gia Lâm thành
phố Hà Nội đến năm 2020.


GV luôn được lựa chọn, đào tạo khoa học, bài bản cùng với đó là chính sách đãi ngộ
xứng đáng về vật chất và tinh thần đối với những cống hiến của họ.
Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và truyền thống văn hoá GD mà
mỗi nước có những đặc điểm khác nhau về cơ cấu hệ thống loại hình đào tạo, phân


7

chia thời gian các bậc học, trong đó có bậc THCS. Song nhìn chung hệ thống GD các
nước đều đã và đang phát triển theo hướng hiện đại hoá, hội nhập với xu hướng phát
triển chung của thế giới, nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, hợp
tác trong các lĩnh vực GD&ĐT và kinh tế xã hội giữa các nước, các khối nước khác
nhau.
Nhật Bản hiện có đội ngũ GV phổ thông gần 1 triệu người, trong đó GV THCS
khoảng 260 nghìn người. Sinh viên tốt nghiệp CĐ, ĐH để trở thành GV phải có bằng
chứng nhận GV do một cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp. Bằng chứng nhận
GV được cấp cho từng cấp, bậc học. Để nhận được bằng, mỗi thí sinh phải học thêm
các đơn vị học trình trong ba chương trình khác nhau là: Trình độ cơ sở; chuyên môn
sẽ giảng dạy; các chương trình nghiệp vụ, kể cả thực tập. Bằng GV được cấp cho các
thí sinh có hiệu lực trên toàn đất nước Nhật Bản, ở tất cả các loại hình trường của mọi
tổ chức (Chính phủ, phi Chính phủ...). Tuy nhiên sau 12 tháng được cấp bằng, nếu thí
sinh không được tuyển dụng thì bằng GV sẽ hết hiệu lực; muốn trở thành GV, thí sinh
phải tiếp tục thi lấy bằng mới.
Malaysia là nước rất chú trọng đến xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, đặc biệt là
lĩnh vực GD&ĐT. Bộ GD là bộ lớn nhất được đầu tư kinh phí, ngân sách lớn nhất.
Trong GD đã đề cao kiến thức khoa học công nghệ đào tạo tay nghề, đặc biệt tiếng
Anh được sử dụng là ngôn ngữ chính trong trường học. Chính sách phát triển GD thoả
mãn nhu cầu đa dạng của các thành phần dân tộc trong cộng đồng. Phát triển GD&ĐT
nguồn nhân lực lao động kĩ thuật cho phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Đến nay Malaysia là nước có trình độ

khác nhau. Nhiệm vụ của GD trung học là chuẩn bị nguồn tuyển sinh có chất lượng
cao cho GD đại học và đào tạo nguồn nhân lực dự trữ cho thị trường lao động. GD
Trung Quốc đang cải cách mạnh mẽ theo hướng hiện đại hoá. Phát triển mạnh mẽ các
loại hình GD kĩ thuật nghề nghiệp, tập trung xây dựng các trường đại học trọng điểm,
đào tạo chuyên gia ở một số ngành khoa học - công nghệ mũi nhọn tiếp cận với trình
độ của thế giới. Trong chiến lược phát triển GD đến năm 2050, Trung Quốc xác định:
“Tăng cường xây dựng đội ngũ GV, nâng cao tố chất và địa vị xã hội của GV”.
Qua việc nghiên cứu xu thế phát triển GD, GD phổ thông trong đó có bậc học
THCS trong khu vực và thế giới là cơ sở góp phần phát triển và hoàn thiện cơ cấu hệ
thống GD Việt Nam trong quá trình CNH – HĐH, phù hợp với xu hướng phát triển của
khu vực và quốc tế.
1.1.2. Ở Việt Nam
Việt Nam là đất nước có nền văn hiến lâu đời, người Việt rất hiếu học, quý trọng
nghề dạy học cũng như người thầy. Ngay từ thời xa xưa, ông cha ta đã rất coi trọng vai
trò của người thầy giáo như: "Không thầy đố mày làm nên", không có thầy giáo thì sẽ


9

không có giáo dục. Điều đó nhắc nhở mọi người phải quan tâm mọi mặt và toàn diện
đến giáo dục mà chủ thể đóng vai trò quan trọng nhất đó chính là đội ngũ giáo viên.
Vấn đề phát triển giáo dục và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đã được
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra trong thư gửi các cán bộ, các thầy giáo, cô giáo, công
nhân viên, học sinh, sinh viên nhân dịp năm học mới ngày 16 tháng 10 năm 1968
rằng:" Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của
Đảng và nhân dân, do đó các ngành các cấp Đảng, chính quyền địa phương phải thực
sự quan tâm đến sự nghiệp này, phải chăm sóc nhà trường về mọi mặt, đẩy sự nghiệp
giáo dục của ta những bước phát triển mới" [20], "Cán bộ và giáo viên cũng phải tiến
bộ cho kịp thời đại thì mới làm được nhiệm vụ, chớ tự túc tự mãn cho là giỏi rồi thì
dừng lại" [20].

đặc thù, ở bậc PTTH. Hơn nữa, ở mỗi địa phương, mỗi đơn vị có những điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau nên công tác quản lý xây dựng phát triển đội ngũ trong
giáo dục cũng khác nhau.
Huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội là một trong những huyện đang có tốc độ đô
thị hóa nhanh, kinh tế - xã hội trong những năm qua có nhiều tiến bộ. Một số xã, thị trấn
của Huyện có sự tăng cơ học về dân cư nên quy mô trường lớp tăng. Vì vậy, những hạn
chế, bất cập của đội ngũ giáo viên cũng dễ bộc lộ hơn, đòi hỏi phải có những biện pháp
quản lý để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH, đáp ứng
yêu cầu chuẩn nghề nghiệp. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có đề tài nghiên cứu nào
về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên THCS dựa trên chuẩn để đáp ứng yêu cầu chuẩn
nghề nghiệp. Đây cũng chính là lý do tôi lựa chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sĩ của mình.
1.2. Một số khái niệm công cụ của đề tài
1.2.1. Phát triển
Thuật ngữ “phát triển” theo triết học là: “biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến
nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”. Phát triển là quá trình nội
tại, là bước chuyển hoá từ thấp đến cao theo đường xoáy trôn ốc. Lý luận của phép
Biện chứng duy vật khẳng định: Mọi sự vật, hiện tượng không phải chỉ là sự tăng lên
hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hóa từ sự vật hiện
tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai
đoạn trước tạo thành quá trình phát triển, tiến lên mãi mãi.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Phát triển là sự biến đổi hợp quy luật theo
phương hướng không thể đảo ngược, được đặc trưng bởi sự chuyển biến chất lượng,
bởi sự chuyển biến sang một trình độ mới. Phát triển là đặc điểm cơ bản của vật chất,
là nguyên tắc giải thích về sự tồn tại và hoạt động của các hệ thống bất cân bằng, lưu
động, biến đổi. Khái niệm phát triển đề cập ở đây là phát triển con người; phát triển
thể chất (sinh thể, thể lực, thể hình, gọi chung là thể năng); phát triển lý trí và trí tuệ


11

đội ngũ CBGV ở trường THCS bao gồm GV dạy 14 môn học, tổng phụ trách và cán
bộ QLGD (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng) đều có tham gia hoạt động giảng dạy nên
cũng được tính là GV. Tập hợp những GV trong một trường gọi là đội ngũ GV của


12

trường đó. Tập hợp GV toàn ngành của một thị xã, tỉnh, cả nước gọi là đội ngũ GV
THCS của thị xã, tỉnh, nước...
Khi nói đến đội ngũ GV THCS, ta phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện
và hệ thống. Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong đó có mối
quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế, quy ước nhất định. Vì vậy, mỗi tác
động vào các thành tố đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ, vừa có ý nghĩa trên
toàn thể. Nếu xét trên phương diện nguồn nhân lực thì đội ngũ GV chính là nguồn
nhân lực của cấp học.
1.2.2. Quản lý
Trong thời đại ngày nay, quản lý đã trở thành một nhân tố của sự phát triển xã
hội. Quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực ở mọi cấp
độ và có liên quan đến tất cả mọi người. Khái niệm quản lý là một khái niệm rất chung
và rộng. Nó được dùng cho cả quá trình quản lý xã hội, quản lý giới vô sinh cũng như
quản lý giới sinh vật. Có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về khái niệm
quản lý.
Theo từ điển tiếng Việt quản lý là: "Tổ chức điều khiển hoạt động của đơn vị,
cơ quan" [46].
Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: Quản lý là một quá trình có định
hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống
nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới
của hệ thống mà người quản lý mong muốn.
Tác giả Bùi Văn Quân quan niệm: Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm

những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Đây là khâu quan trọng
tạo nên thành công của kế hoạch dự kiến.
- Kiểm tra: Là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tìm ra những mặt ưu
điểm, mặt hạn chế, qua đó đánh giá, điều chỉnh và xử lý kết quả của quá trình vận
hành tổ chức, làm cho mục đích của quản lý được hiện thực hóa một cách đúng hướng
và có hiệu quả.
Các chức năng quản lý có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đan xen và
ảnh hưởng lẫn nhau. Khi thực hiện chức năng này thường liên quan đến các chức năng
khác và ở mức độ khác nhau. Các chức năng đều cần đến yếu tố thông tin để hoạch
định kế hoạch; cơ cấu tổ chức; chuyển tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi và thông tin
kết quả hoạt động.
1.2.3. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một quá trình, một hoạt động của xã hội,
vì thế nó cần và phải được quản lý. Từ đó, hình thành một dạng quản lý trong hệ
thống quản lý xã hội. Dạng quản lý này có tên gọi là "Quản lý giáo dục".
Quản lý giáo dục cũng được biểu đạt một cách rất đa dạng tùy theo phương tiện
nghiên cứu và cách tiếp cận của nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục. Dưới đây là một
số quan niệm về quản lý giáo dục:


15

* Ở cấp vĩ mô
- Theo tác giả Bùi Văn Quân: "Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự
giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản
lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà
trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào
tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội" [29]
- Theo tác giả Trần Kiểm: "Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính vượt trội

của mình để huy động và quản lí các nguồn lực, tạo ra những thành quả bền vững…
nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ" [2].
Theo quan điểm này thì phát triển là sự tăng trưởng, hoàn thiện khả năng, tạo ra
sự phù hợp của bản thân bằng cách sử dụng mọi nguồn lực có thể được. Tiến trình đó


18

không phải của riêng ai mà của các thành viên một tổ chức, một xã hội. Khái niệm này
phù hợp với quan điểm phát triển đội ngũ giáo viên, phát triển giáo dục.
Làm cho sự vật, hiện tượng biến đổi lại thuộc khái niệm "phát triển". Do vậy
khái niệm "xây dựng, phát triển" tự bản thân nó đã bao hàm nhau, không tách rời nhau,
có mối quan hệ biện chứng với nhau. Thực tiễn chứng minh rằng, trong xây dựng có
phát triển, trong phát triển có xây dựng.
Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội hoặc là biến đổi để tăng tiến
số lượng, thay đổi chất lượng hoặc dưới tác động của bên ngoài làm cho biến đổi tăng
lên đều được coi là phát triển.
Phát triển đội ngũ giáo viên trong giáo dục là quá trình tổ chức, điều khiển, tác
động của nhà quản lý vào đội ngũ giáo viên, làm cho đội ngũ giáo viên tăng trưởng về
số lượng, chất lượng và cơ cấu phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ giáo dục của nhà
trường, phát huy được thế mạnh của cá nhân và tập thể giáo viên.
Phát triển đội ngũ giáo viên thực chất là việc thực hiện các chức năng quản lý
như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm xây dựng đội ngũ giáo viên ổn
định có đủ về số lượng; mạnh về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu, có tính kế thừa góp
phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
* Về số lượng đội ngũ giáo viên.
Số lượng đội ngũ giáo viên trường THCS được xác định bởi số lớp học và định
mức biên chế giáo viên theo thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT- BGD&ĐT - BNV
ngày 23/8/2006, định mức biên chế đối với cấp THCS là không quá 1,9 giáo viên/lớp,
số lượng lớp trong trường được tính theo số học sinh/lớp (mỗi lớp không quá 45 học

năng giao tiếp, xử lí tình huống sư phạm…
- Chuẩn về đạo đức tư cách người giáo viên: Được thể hiện ở đạo đức, tư tưởng
tốt, có nhân cách xã hội chủ nghĩa, có tâm hồn cao thượng, yêu nghề, mến trẻ, có lý
tưởng nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, trung thực, giản dị. Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về đạo đức người cán bộ đó phải là: "Cần, Kiệm, Liêm,
Chính, Chí công vô tư" [20].
* Về cơ cấu đội ngũ giáo viên
Cơ cấu đội ngũ giáo viên THCS được xem xét trên các yếu tố sau:
- Cơ cấu về giảng dạy theo bộ môn: Là tổng thể về tỉ lệ giáo viên của các môn
học hiện có, sự thừa thiếu giáo viên ở mỗi môn học. Tỉ lệ này phải phù hợp với định
mức qui định thì nhà trường mới có được cơ cấu chuyên môn hợp lí là điều kiện cần
và đủ để nâng cao chất lượng giáo dục.
- Cơ cấu về trình độ nghiệp vụ sư phạm: Là sự phân chia giáo viên theo tỉ lệ
của trình độ đào tạo như cao đẳng, đại học, thạc sĩ (Bậc THCS hầu như không có tiến
sĩ) và trình độ tương đương ở các chuyên ngành không phải sư phạm. Việc xác định


20

một cơ cấu trình độ hợp lí cũng là một biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên, số giáo viên chưa đạt chuẩn cần phải chuẩn hóa, nhưng để có tỉ lệ vượt chuẩn cần
xem xét thực trạng của nhà trường để vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế, vừa nâng cao chất
lượng đội ngũ. Rõ ràng, trong điều kiện hiện nay thì một đội ngũ có phẩm chất tốt và
đủ năng lực đáp ứng việc giảng dạy và giáo dục có lẽ tốt hơn một đội ngũ trên chuẩn
mà không phát huy được hết khả năng của họ trong công việc.
- Cơ cấu về tuổi đời: Việc phân tích đội ngũ giáo viên theo độ tuổi nhằm xác
định cơ cấu đội ngũ theo từng nhóm tuổi, là cơ sở để phân tích thực trạng, chiều hướng
của tổ chức và khoảng cách chuyên môn để từ đó có cơ sở khoa học cho việc xây dựng
kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng, sử dụng…
- Cơ cấu về giới tính: Xem xét cơ cấu về giới tính của đội ngũ giáo viên để có

8. Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục
của cơ quan có thầm quyền kiểm định chất lượng giáo dục.
9. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Đứng
đầu nhà trường là Hiệu trưởng. Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt
động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và công nhận.
Hiệu trưởng trường THCS chịu trách nhiệm quản lý nhiều nội dung như: Quản
lý hoạt động dạy học, giáo dục; quản lý nguồn nhân lực; quản lý cơ sở vật chất, tài
chính; quản lý văn hóa nhà trường…Các nội dung quản lý này có mối quan hệ tương
hỗ, gắn bó với nhau, hướng tới kết quả học tập của học sinh.
1.3. Vị trí, vai trò, chức năng và trách nhiệm của Hiệu trưởng trường THCS
trong quản lý phát triển đội ngũ giáo viên
1.3.1. Vị trí, vai trò người Hiệu trưởng trường trung học cơ sở
Hiệu trưởng trường THCS có vị trí, vai trò rất lớn trước xã hội, vừa là người
quản lý (nhận trách nhiệm với cấp trên) cũng đồng thời là người lãnh đạo (điều hành
giáo viên, học sinh và cán bộ công nhân viên của nhà trường) thực hiện nhiệm vị
giáo dục học sinh theo chương trình, kế hoạch của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiệu
trưởng là người chịu trách nhiệm trước cấp trên, trước phụ huynh học sinh và cộng
đồng xã hội về việc đảm bảo chất lượng giáo dục và đào tạo "nhân cách - sức lao
động" cho xã hội, làm tăng nguồn vốn con người, vốn tổ chức và vốn xã hội, nơi tạo
ra con người mới, tri thức mới. Để hoàn thành được công việc tinh tế phức tạp này,
người Hiệu trưởng phải cần có trình độ chính trị, có lối sống theo các chuẩn mực xã
hội, là người giỏi chuyên môn và phải có nghệ thuật - khoa học trong quản lý;
thường xuyên phát triển kĩ năng xây dựng phong cách tốt; tầm nhìn sâu sắc và có
kiến thức về tâm lý - xã hội, khi đó người Hiệu trưởng mới giám sát, đôn đốc các
công việc và liên kết được các lực lượng trong nhà trường để cùng họ hoàn thành
mục tiêu đề ra.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status