UBND HUYỆN KRÔNG ANA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Tên đề tài: Một số biện pháp sử dụng ứng dụng công nghệ
thông tin trong công tác giảng dạy trẻ mầm non
Lĩnh vực: Công nghệ thông tin
Họ và tên tác giả: Trương Thị Hạnh
Đơn vị: Trường Mầm non Sơn Ca
Dray Sáp, tháng 01 năm 2018
1
Đề tài : Một số biện pháp sử dụng ứng dụng công nghệ thông tin trong công
tác giảng dạy trẻ mầm non
I. Phần mở đầu:
1. Lý do chọ đề tài:
Đất nước ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
nền kinh tế phát triển không ngừng, nền khoa học tiến bộ và phát triển càng cao
đặc biệt là ngành khoa học công nghệ thông tin, hơn thế nữa thực tế nước ta đã gia
nhập WTO đánh dấu một mốc son lịch sử trong thời kỳ đổi mới đất nước.
Trên con đường hội nhập WTO Đảng và nhà nước ta cũng đã điểm lại những sự
kiện thành công trong quá trình hội nhập về kinh tế, chính trị văn hoá, an ninh quốc
phòng. Đồng thời chỉ ra những tồn tại yếu kém thì việc đầu tiên đó là đòi hỏi đất
nước ta có một đội ngũ các nhà tri thức, các nhà khoa học có trình độ kiến thức về
chuyên môn quản lý cũng như trong nghề giàu tâm huyết, giàu nghị lực. Để đạt
được điều kiện này thì ngành giáo dục đóng một vị trí vô cùng quan trọng không
thể thiếu được trong thời kỳ đổi mới đất nước. Chính vì vậy mà ngành giáo dục
của nước ta nói chung và ngành dục của Huyện Krông Ana nói riêng cần có kế
hoạch rõ ràng cho từng ngành học, bậc học bằng kết quả cụ thể nhằm đưa đất nước
vào chương trình giáo án điện tử, bài soạn có ứng dụng phần mềm vào việc tổ chức
các hoat động cho trẻ” Hiện nay việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng
dạy rất phổ biến trong tất cả các cấp học từ đại học đến mầm non, ứng dụng công
nghệ thông tin vào giảng dạy đã góp phần mang lại hiệu quả chất lượng rất cao.
Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên, bản thân tôi đã nhận thức được rằng, việc ứng
dụng công nghệ thông tin phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học là một
trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhất trong việc đổi mới phương pháp
dạy học.
Chình vì thế tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:“Sử dụng, ứng dụng công
nghệ thông tin trong công tác giảng dạy trẻ mầm non” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài:
Mục tiêu: Ai cũng biết, trẻ mầm non đang trong giai đoạn phát triển mạnh về
thể chất và tinh thần lẫn trí tuệ. Lúc này trẻ rất tò mò, thích tìm tòi và khám phá
mọi vật xung quanh. Chúng luôn hỏi “Tại sao phải thế này, tại sao phải thế kia” Vì
thế có yêu trẻ, có hoà mình vào thế giới của trẻ thì chúng ta mới hiểu được những
gì trẻ quan tâm và cần được giúp đỡ. Mỗi chúng ta ai cũng mong muốn mang lại
3
những điều tốt đẹp cho các em bằng những cách thức riêng của mình: cùng học
tập, vui chơi, trò chuyện, tạo ra những đồ dùng đồ chơi sinh động, màu sắc sặc
sỡ… làm cho thế giới của trẻ thêm phong phú. Bên cạnh đó những hình ảnh ngộ
nghĩnh đầy màu sắc và sống động của thiên nhiên có một sự lôi cuốn trẻ đến kì lạ
mà điều này chỉ được thể hiện qua các phim hoạt hình hay trong các bài giảng điện
tử của giáo viên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo trẻ sẽ lĩnh hội kiến thức được
chính xác, đầy đủ hơn. Bên cạnh đó hình thức tổ chức cũng rất quan trọng trong
quá trình giảng dạy trẻ, hình thức càng phong phú, hấp dẫn càng gây hứng thú thu
hút trẻ, trẻ càng dễ tiếp thu, dễ nhớ, nhẹ nhàng lĩnh hội kiến thức. Vì thế hãy dành
những gì tốt đẹp nhất cho trẻ, thế hệ tương lai của đất nước.
phát triển toàn diện tạo cơ sở bước đầu vững chắc cho tương lai của trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Trong phạm vi khả năng và trách nhiệm của mình, tôi đã mạnh dạn lựa chọn
một số biện pháp, kinh nghiệm trong Sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin trong
công tác giảng dạy trẻ mầm non nhằm tăng cường nâng cao chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ.
4. Giới hạn của đề tài
Trẻ 3-5 tuổi trường mầm non Sơn ca
Do điều kiện về thời gian và khả năng của bản thân còn hạn chế nên tôi chỉ
nghiên cứu một số biện pháp, kinh nghiệm trong việc thực hiện ứng dụng CNTT
vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ ở trường Mầm non nhằm tăng cường
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của trường Mầm non Sơn ca
Với đề tài này tôi xin mạnh dạn chia sẻ một số kinh nghiệm về phạm vi ứng
dụng phần mềm tin học trong tổ chức một số hoạt động của trẻ như:
- Hoạt động tạo hình
- Hoạt động làm quen toán
- Hoạt động làm quen âm nhạc
- Hoạt động khám phá khoa học
- Hoạt động làm quen chữ cái
- Hoạt động làm quen văn học
- Cách làm phim
- Cách chèn âm thanh, bài hát cho các slide
- Vẽ một số hình ảnh đơn giản ứng dụng dạy tạo hình
5
5. Phương pháp nghiên cứu:
a) Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu
b) Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiển
website nói về chủ đề đang học...(điều này một giáo án thông thường không thể có)
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
Chắc hẳn rằng chúng ta còn nhớ năm học 2008- 2009 Bộ Giáo Dục Và Đào
Tạo đã triển khai cuộc vận động “Năm học ứng dụng công nghệ thông tin trong
giảng dạy” ở tất cả các cấp học. Mặc dù trường chúng tôi là một trường nằm cách
xa trung tâm huyện và có rất nhiều khó khăn, tuy nhiên những năm về trước bản
thân tôi và tất các các động nghiệp chưa có một khái niệm gì gọi là “giáo án điện
tử” chỉ mới biết đánh văn bản. Nhưng cho đến nay đã thực hiện và áp dụng chương
trình công nghệ thông tin trong giảng dạy áp dụng dạy giáo án điện tử trong các
hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ.
Trong quá trình làm việc chăm sóc giáo dục trẻ tại các lớp và nhìn chung
vào thực tế khi làm việc bản thân tôi cũng thấy được một số ưu điểm và hạn chế
nhất định:
* Ưu điểm:
- Giờ học lôi cuốn trẻ, tạo được hứng thú và gây được sự tập trung chú ý cao
nhất ở trẻ.
- Nội dung truyền đạt hấp dẫn và phong phú sinh động hơn, những hình ảnh
tưởng chừng như rất trừu tượng trẻ chưa được nhìn thấy bao giờ nay trở nên gần
gũi và giúp trẻ khắc sâu ghi nhớ.
- Trẻ tích cực hứng thú tham gia học tập, hăng say phát huy tính tích cực chủ
động tham gia vào các hoạt động.
* Hạn Chế
- Thực hiện giáo án điện tử mất nhiều thời gian công sức trong tìm tư liệu
lẫn thiết kế.
- Máy móc đôi khi nhiễm vi rút dẫn đến mất dữ kiệu, có một số tình huống
xảy ra như mất điện, treo máy…
- Cách lựa chọn đề tài và xử lý tình huống khi máy gặp sự cố, thao tác vụng
về làm gián đoạn quá trình tổ chức
7
thể hoàn toàn chủ động điều khiển tiến trình bài giảng theo như ý muốn.
8
- Từ những thực trạng nêu trên, bên cạnh những ưu điểm và hạn chế mà
CNTT mang lại thì lòng yêu trẻ, yêu nghề luôn thôi thúc tôi hãy làm một điều gì đó
để góp phần nhỏ bé của mình vào công việc “trồng người” của đất nước.
Muốn khắc phục dược những hạn chế nêu trên bản thân tôi bắt đầu thực hiện
nghiên cứu một số hình thức những giải pháp biện pháp như sau:
3. Nội dung và hình thức của giải pháp:
a. Mục tiêu của giải pháp
- Nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, giúp trẻ lĩnh hội tri thức
một cách trọn vẹn nhất.
- Nhằm cung cấp kiến thức một cách chính xác giúp trẻ hứng thú trong học
tập đồng thời phát triển toàn diện về thể chất cũng như trí tuệ cho trẻ.
- Nhằm góp phần tạo nên những chủ nhân tương lai của đất nước có đầy đủ
phẩm chất, nhân cách, tri thức con người mới xã hội chủ nghĩa.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
.
Hiểu và nắm bắt được những tiện ích mà công nghệ thông tin mang lại, vì
thế tôi đã mạnh dạn đưa ra một số kiến thức của mình về tin học vào việc soạn giáo
án điện tử, sử dụng một số ứng dụng phần mềm vào việc tổ chức các hoạt động cho
trẻ ở trường tôi
Sau đây là một số biện pháp mà tôi đã sử dụng trong quá trình công tác và
giảng dạy của mình trong những năm học vừa qua:
Sử dụng phần mềm Power Point
- Chuẩn bị: Lên mạng tìm phim về các con vật: voi, khỉ, gấu, hổ…down về, tiếp
theo vào trang “động vật sống trong rừng” tìm hình ảnh các con vật đó copy lại.
Vào phần power point chọn slide show tạo trang trình diễn cho từng con vật xuất
hiện có gắn tên tương ứng, lồng tiếng kêu của các con vật, vào costum animation
tạo hiệu ứng cho từng bộ phận xuất hiện có chữ tương ứng. Sau đó lồng nhạc bài
”Đố bạn biết”
- Tiến hành:
1. Hoạt động mở đầu: Bé biết con vật nào? Cho trẻ hát bài “Đố bạn biết”
trò chuyện cùng trẻ: Con vừa hát bài hát gì? Trong bài hát có những con vật gì?
Những con vật này sống ở đâu? Ngoài ra con còn biết những con gì nữa?
2. Hoạt động trọng tâm: Nào ta khám phá Cho trẻ xem phim về các con
vật sống trong rừng. Trình chiếu từng con vật một, cho trẻ nghe tiếng kêu hoặc
10
hoạt động của chúng và hỏi trẻ đó là con vật gì? Sống ở đâu? Có những đặc điểm
nổi bật gì? Nó đang làm gì? Thức ăn của chúng là gì?... Kết hợp giáo dục trẻ.
Hình ảnh minh họa:
11
Trò chơi: Thi xem ai giỏi Cho trẻ chơi một số trò chơi nhằm kiểm tra lại
kiến thức của trẻ: Phân loại nhóm theo đặc tình, thức ăn, môi trường sống…, Trò
chơi vận động đưa con vật về đùng môi trường sống của chúng…
3. Hoạt động kết thúc: Cho trẻ hát ”Chú voi con”
- Hoặc với đề tài “Gia đình của bé” không gì hấp dẫn và lôi cuốn trẻ bằng
chính hình ảnh thật về gia đình của trẻ thay bằng những hình ảnh cô vẽ hay hình
hứng thú cho trẻ không kém, như với trò chơi “Nhìn hình đoán tên bài hát” tôi vào
trang hình ảnh tìm những hình ảnh có nội dung phù hợp với bài hát copy về máy,
đưa qua power point vào slide show tạo hiệu ứng và trình chiếu với những hình
ảnh sống động đầy màu sắc trẻ rất hứng thú khi tham gia trò chơi.
* Kết quả:
- Thu hút 100% trẻ tham gia tích cực vào giờ hoạt động âm nhạc
- 100% trẻ hát thuộc bài hát.
- 95% trẻ vận động theo nhạc, biết vận đông sáng tạo bằng hình thể.
Với bộ môn làm quen với toán:
Toán học là một môn khoa học cần có độ chính xác cao. Do trẻ ở độ tuổi mẫu
giáo chưa có một biểu tượng khoa học nào. Nên nhiệm vụ của giáo viên là phải
hình thành cho trẻ các biểu tượng toán học, cung cấp những kỹ năng cơ bản nhất
14
để trẻ có thể vận dụng vào trong thực tế, để có sự phát triển và hướng tới một nền
giáo dục toàn diện. Hoạt động làm quen với toán cung cấp cho trẻ kỹ năng nhận
biết, so sánh, màu sắc, hình dạng, kích thước, tạo nhóm...đòi hỏi phải có sự chính
xác cao.
Vì thế đối với môn học này người giáo viên cần phải đầu tư thời gian, công
sức một cách công phu, khoa học để chuẩn bị đồ dùng mới mong tiết học đạt được
hiệu quả cao và khả năng tiếp thu kiến thức của trẻ đạt được ở mức độ cao nhất
trong quá trình tham gia các hoạt động của trẻ. Nhưng với thời đại này giáo viên
không phải vất vả chuẩn bị nhiều đồ dùng, thực hiện nhiều công đoạn tốn nhiều
thời gian mà chỉ bằng những cái “click chuột” là hình ảnh những con vật ngộ
nghĩnh, những bông hoa đủ màu sắc, những hàng chữ biết đi và những con số biết
nhảy theo nhạc hiện ngay ra với hiệu ứng của những âm thanh sống động.
Qua đó giáo viên đã có thể truyền tải được đến trẻ lưọng kiến thức mà yêu
- Trò chuyện dẫn dắt vào bài
2. Hoạt động trọng tâm: Ôn số lượng trong phạm vi 6.
- Cô mời cả lớp mình cùng đi chơi và tham quan làng văn hóa nha, trên
đường đi chúng ta cùng hát bài "Nhà của tôi" nha. (cho trẻ về ngồi hình chữ u)
Làng văn hóa có mấy nhà vậy? mỗi ngôi nhà mang ký hiệu chữ cái gì vậy con?
Chúng ta thăm ngôi nhà mang chữ cái gì đầu tiên nào? Cho trẻ đếm đọc các thành
viên trong mỗi ngôi nhà và lấy số tương ứng với thành viên. (cho trẻ lên sử dụng
chuột để gắn số tương ứng) Vd: nhà có 5 người thì gắn số 5…
*Nhận biết nhóm có số lương 7, đếm đến 7 và nhận biết số 7.
- Trước khi đến thăm làng văn hóa thì cô có chuẩn bị cho các con một số bó
hoa để tặng cho các gia đình. Có bao nhiêu bó hoa vậy? (6 bó hoa). Đếm đọc.
Muốn có 7 bó hoa thì ta phải làm sao? 6 thêm 1 là mấy? (đếm đọc) Mỗi bó hoa sẽ
cắm vào mỗi cái bình, các con nhìn xem thì con thấy có mấy cái bình vậy? (7 bình
hoa). Cả hai có bằng nhau không? (đếm đọc) Vậy để chỉ cho 7 bó hoa, 7 bình hoa
chúng ta dùng số mấy? Mời một trẻ lên lấy số 7 (lớp, cá nhân đọc số 7) Con nhìn
số 7 này con có nhận xét gì không? Cô nhắc nét lại cho cả lớp cùng nghe.(số 7 có 1
nét ngang và 1 nét xiên) Các gia đình có tặng cho cô 1 số ấm trà và cốc uống trà.
- Các con nhìn xem có bao nhiêu âm trà?
- Có bao nhiêu cốc uống trà?
16
- Dùng số mấy nào? - Cô cất dần vào giỏ từng cái 1. cô bớt dần và lấy số
tương ứng. - Cho đọc số xuôi ngược.
- Chơi trò chơi nhỏ: số nào biến mất ( cho các số biết mất và trẻ trả lời)
đọclại số 7.
Hình ảnh minh họa:
- Họ còn cho 1 số đồ dùng trong gia đình nữa nhưng cô không biết đó là cái
Với bộ môn làm quen văn học
- Văn học là môn học rất quan trọng đối với trẻ mầm non, là phương tiện
phát triển ngôn ngữ cho trẻ có đủ vốn từ để nói năng lưu loát, diễn đạt gãy gọn biết
sữ dụng từ đúng lúc, đúng chỗ, không những thế mà việc dạy trẻ làm quen với
những từ ngữ nghệ thuật như từ tượng hình, từ tượng thanh giúp trẻ phát triển trí
tưởng tượng, óc quan sát, khả năng tư duy độc lập trong suy nghĩ.
- Làm quen với tác phẩm văn học chỉ ra mức độ, giới hạn, yêu cầu của việc
cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm văn học qua nghệ thuật đọc và kể chuyện của cô
giáo. Hoạt động này nhằm dẫn dắt, hướng dẫn trẻ cảm nhận những giá trị nội dung,
nghệ thuật phong phú trong tác phẩm, khơi gợi ở trẻ sự rung động, hứng thú dối
với văn học, có ấn tượng về những hình tượng nghệ thuật, cái hay cái đẹp của tác
phẩm và thể hiện sự cảm nhận đó qua các hoạt động mang tính chất văn học nghệ
thuật như đọc thơ. Kể chuyện, chơi trò chơi đóng kịch. Cao hơn là tiến tới sáng tạo
18
ra những vần thơ, câu chuyện theo tưởng tượng của mình, góp phần hình thành và
phát triển toàn diện nhân cách trẻ.
- Làm quen văn học có tầm quan trọng trong việc phát triển nhận thức, giáo
dục đạo đức, giáo dục thẩm mỹ và qua đọc thơ kể chuyện làm giàu vốn từ cho trẻ,
rèn luyện khả năng phát âm và cách diễn đạt mạch lạc. Các tác phẩm thơ chuyện
chỉ có thể phát huy tác dụng của nó khi cô biết chuyển tải được tư tưởng cảm xúc
của tác giả và nội dung tác phẩm thông qua các hình thức nghệ thật hấp dẫn, phong
phú, đa dạng. Qua đó giúp trẻ phát huy được tính tích cực cá nhân- tự tin- độc lậpsáng tạo- hình thành tư duy- khả năng ghi nhớ có chủ đích, những tình cảm đạo
đức tốt đẹp có khả năng hoạt động nghệ thuật, sáng tạo.
- Thông qua nội dung các tác phẩm giáo dục trẻ biết yêu quý người hiền
lành, biết ơn và kính yêu ông bà, bố mẹ, anh chị, bạn bè, biết nhường nhịn em nhỏ.
Xuất phát từ những vai trò cụ thể đó cho nên hoạt động dạy trẻ làm quen với văn
học là môn học không thể thiếu trong trương trình chăm sóc giáo dục trẻ. Vì vậy
việc nâng cao chất lượng dạy trẻ làm quen với tác phẩm văn học là vấn đề quan
trưng của cây ăn quả. Biết chăm sóc, bảo vệ cây để cây ra nhiều quả.
* Chuẩn bị: Lên mạng vào trang “Nông nghiệp nông thôn” copy hình ảnh một
số loại cây ăn quả như: cây bưởi, cây khế, cây mít, cây ổi, cây dừa, cây chuối...
Cô vẽ cây bưởi, cây dừa tán lá rời, cây khế, cây mít tán lá tròn (vẽ trên painter)
Cho xuất hiện lần lượt từng bộ phận của cây: thân, cành, lá, quả, sau đó tô màu.
Lồng nhạc bài hát “Qủa” vào slide bằng cách sử dụng phần mềm Windows Media
Player hoặc sử dụng phần mềm Windows Movies Maker. Lưu và USB hay copy
qua đĩa CD.
*Tiến hành: Cô cho trẻ nghe bài hát “Qủa” và quan sát vườn cây ăn quả
Hỏi trẻ có những loại cây ăn qủa nào ở trong vườn? Đặc điểm của từng loại cây
(hình dáng lá, màu sắc, hình dáng quả...)
21
- Cho trẻ quan sát các bước vẽ cây ăn quả để tạo ra vườn cây ăn quả.
- Trẻ vẽ
- Trưng bày và nhận xét tranh
Các hình thức giáo dục trẻ:
- Song song với việc cho trẻ làm quen với các môn học chúng ta lồng vào
giáo dục trẻ biết bảo vệ môi trường sống của chính mình qua các việc làm đơn
giản, phù hợp với trẻ. Tôi đã dạy trẻ biết sắp xếp, lau chùi đồ dùng đồ chơi gọn
gàng sạch sẽ, biết lấy cất đúng nới quy định. Dạy trẻ biết chăm sóc, tưới nước, lau
lá cho cây những khi chơi ở hoạt động góc, cho trẻ cùng cô làm vệ sinh lớp
học...Trong các tiết học cũng nhờ công nghệ thông tin tôi đã lồng ghép giáo dục trẻ
về môi trường sống đạt hiệu quả cao.
- Chằng hạn như với đề tài “Các hiện tượng thiên nhiên” qua các đoạn phim
về mưa bão, lũ lụt hay hạn hán một cách gián tiếp tôi đã cho trẻ thấy được lợi ích
của việc trồng và bảo vệ rừng quan trọng như thế nào đối với cuộc sống con người
mẫu giáo làm quen với máy vi tính thông qua các phần mềm phát triển trí tuệ như:
Kismas, Kispix, Bút chì thông minh, Happy Kids nhằm hình thành cho trẻ thói
quen và kỹ năng sử dụng máy tính đơn giản cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho
hoạt động tương tác giữa trẻ và cô trong giờ học bằng giáo án điện tử.
- Giáo viên phải có một số kién thức cơ bản về vi tính ham học hỏi tìm tòi
nghiên cứu trau dồi chuyên môn
- Biết một số trang web để nghiên cứu thêm như: những phần mềm hữu ích
cho người giáo viên mầm non như Bộ Office, Lesson Editor/ Violet, Active
Primary, Flash, Photoshop, Converter, Kispix, Kismas,…
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp và biện pháp
23
- Giải pháp và biện pháp luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đề ra giải
pháp thì phải thực hiện các biện pháp đó như thế nào đạt hiệu quả
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy giúp giáo viên tiết
kiệm được thời gian và kinh phí cho việc làm đồ dùng còn trong quá trình thực
hiện tôi thấy mình được nâng cao hơn về chuyên môn, phương pháp, đặc biệt là
hình thức dạy trẻ linh hoạt, tự tin và sáng tạo hơn.Vì với giáo viên mầm non hiện
nay lượng công việc rất nhiều, vì vậy chúng ta phải tìm biện pháp, phương pháp để
giảm bớt thời gian và lượng công việc, nhưng hiệu quả và chất lượng giáo dục luôn
được đảm bảo thì việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là rất cần
thiết và mang lại hiệu quả cao. Đối với bản thân tôi đã biết tự mình làm một giáo
án điện tử ở mức độ đơn giản. Với trẻ, các cháu đã mạnh dạn với việc sử dụng
máy, 100% các cháu đều thực hiện trên máy vi tính, trong đó 60% các cháu thuần
thục với một số lệnh cơ bản.
Điều này quả đã mang lại cho trẻ sức hấp dẫn mới lạ, làm trẻ hứng thú
nhiều, tiếp thu được bài học tốt nhanh. Trẻ tích cực hoạt động hơn không còn nói
kiệm được chi phí cho nhà trường mà vẫn nâng cao được tính sinh động, hiệu quả
của giờ dạy. Đây có thể coi là một phương pháp ưu việt vừa phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên lý giáo dục của Vưgotxki “ Dạy
học lấy học sinh làm trung tâm” một cách dễ dàng. Có thể thấy ứng dụng của công
nghệ thông tin trong giáo dục mầm non đã tạo ra một biến đổi về chất trong hiệu
quả giảng dạy của ngành giáo dục mầm non, tạo ra một môi trường giáo dục mang
tính tương tác cao giữa giáo viên và học sinh.
2. Kiến nghị:
- Để thực hiện tốt được yêu cầu của nhiệm vụ “ứng dụng CNTT trong đổi
mới phương pháp dạy học.” không chỉ có sự nổ lưc một phía từ giáo viên mà cần
phải có sự phối hợp cả các ban ngành quản lý giáo dục và sự hợp tác của phụ
huynh.
* Đối với giáo viên:
- Luôn trau dồi, mở rộng khiến thức của mình
- Biết vận dụng những kỹ năng, kiến thức về công nghệ thông tin vào bài dạy
phù hợp với dặc điểm tâm sinh lý trẻ.
25