tac đông của oda đến tăng trưởng kinh tế ở cac tỉnh vùng duyên hải miền trung - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
----------------------

NGÔ TẤN LỰC

TÁC ĐỘNG CỦA ODA ĐẾN TĂNG TRƯỞNG
KINH TẾ Ở CÁC TỈNH VÙNG DUYÊN HẢI
MIỀN TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng luận văn “Tác động của ODA đến tăng trưởng kinh

tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung” là bài nghiên cứu của chính tôi.
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi
cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được
công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác.
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong
luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định.
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các
trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác.

TP. Hồ Chí Minh, năm 2017

Ngô Tấn Lực


trưởng kinh tế, cùng các nghiên cứu trước. Luận văn đã đưa ra mô hình nghiên cứu
gồm: Biến phụ thuộc là GDP của các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung (lnGDP)
và 6 biến độc lập: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, Tổng vốn đầu tư
của tỉnh (TVDT), Lao động trên 15 tuổi (LAODONG), chi thường xuyên của khu
vực nhà nước từng tỉnh (CHI_TX), Phần trăm dân số trên 15 tuổi tốt nghiệp cấp
hai (GD), Lạm phát (LP).
Phương pháp nghiên cứu định lượng Pool OLS, REM sử dụng để ước lượng
hồi quy với bộ dữ liệu bảng cân bằng, thu thập từ niên giám thống kê có 8 tỉnh,
thành phố * 23 năm (giai đoạn 1993 – 2016) = 192 quan sát.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
có ý nghĩa thống kê và có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng
Duyên hải miền Trung giai đoạn 1993 – 2016; các yếu tố như: Nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức ODA, Tổng vốn đầu tư của tỉnh (TVDT), Lao động trên 15
tuổi (LAODONG), chi thường xuyên của khu vực nhà nước từng tỉnh (CHI_TX),
đều có có nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% và có tác động dương đến tăng trưởng
kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung giai đoạn 1993 – 2016. Một số kiến
nghị được đề xuất giúp gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các tỉnh vùng Duyên
hải miền Trung.

iii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
TÓM TẮT ............................................................................................................. iii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iv
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................... vii
DANH MỤC BẢNG ........................................................................................... viii
DANH MỤC HÌNH ............................................................................................. ix
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ...................................................... 1


Các khái niệm có liên quan ...................................................................... 5

2.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế ............................................................... 5
2.1.2 Nợ công ................................................................................................. 5
2.2

Tổng quan về ODA .................................................................................. 6

2.2.1 Khái niệm về ODA ................................................................................ 6
2.2.2 Vai trò của ODA .................................................................................... 7
iv


2.3

Mô hình tăng trưởng ................................................................................. 9

2.4

Mô hình tăng trưởng tân cổ điển .............................................................. 9

2.4.1 Mô hình tăng trưởng nội sinh .............................................................. 11
2.5

ODA tác động đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế ............................ 13

2.6

Một số nghiên cứu trước ........................................................................ 16

4.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội các tỉnh khu vực các tỉnh vùng Duyên hải miền
Trung ............................................................................................................ 37
4.2.2 Thực trạng thu hút ODA vào vùng Duyên hải Miền Trung ................ 38
v


4.2.3 Những kết quả đạt được vào phát triển kinh tế xã hội ........................ 40
4.3

Kết quả phân tích tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh

vùng Duyên hải miền Trung ............................................................................ 42
4.3.1 Phân tích thống kê mô tả các biến trong mô hình ............................... 42
4.3.2 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến .............................................. 43
4.3.3 Kiểm tra đa cộng tuyến theo hệ số VIF ............................................... 44
4.3.4 Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu .................................................. 45
Tóm tắt chương 4 ......................................................................................... 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ................................................................................... 53
5.1

Tóm tắt kết quả nghiên cứu .................................................................... 53

5.2

Kiến nghị ................................................................................................ 54

5.2.1 Vốn đầu tư trong nước ......................................................................... 54
5.2.2 Lực lượng lao động ............................................................................. 55
5.3


viii


DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Tình hình thu hút vốn ODA 1993 – 2014 ............................................. 41
Hình 4.2 Cơ cấu thu hút ODA 1993 – 2014 ........................................................ 42
Hình 4.3 Tỷ lệ ODA theo vùng giai đoạn 1993 – 2016 ....................................... 44

ix


Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 trình bày tổng quan về nghiên cứu như mục tiêu mà đề tài hướng
đến, phạm vi, phương pháp nghiên cứu đồng thời cũng nêu lên mức giới hạn và
giới thiệu bố cục đề tài.
1.1 Lý do nghiên cứu
Trong thời kì đầu của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, nguồn viện
trợ phát triển chính thức (ODA) như những ‘viên gạch’ đầu tiên giúp Việt Nam
xây dựng nền tảng để thu hút các nguồn lực khác. Trong 24 năm qua, các nhà tài
trợ đã cung cấp cho Việt Nam một nguồn tài chính đáng kể, góp phần thực hiện
cải cách kinh tế và hội nhập quốc tế. Hội nghị bàn tròn về việc viện trợ dành cho
Việt Nam diễn ra tại Paris (Pháp) từ ngày 9-10/11/1993 đã đặt nền tảng cho quan
hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và cộng đồng tài trợ quốc tế. Đến nay Việt
Nam đã có trên 50 nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động, cung
cấp nguồn ODA và vốn vay ưu đãi cho hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội.
Đây là nguồn ngoại tệ mạnh, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng
dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá trong nhiều năm qua.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch – Đầu tư (2012), các nhà tài trợ quốc tế đã
cam kết hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam lên tới 78 tỷ USD trong
giai đoạn 1993 – 2012. Tổng vốn ODA ký kết trong các điều ước quốc tế cụ thể từ

1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn phải trả lời được
các câu hỏi sau:
 ODA có đóng góp vào tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực các tỉnh vùng
Duyên hải miền Trung hay không?
 Mức độ đóng góp của ODA vào tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực các
tỉnh vùng Duyên hải miền Trung như thế nào?

2


1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: tác động của ODA đến tăng trưởng kinh tế ở các
tỉnh vùng Duyên hải miền Trung.
 Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: các tỉnh vùng Duyên hải miền Trung (trường hợp
các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi,
Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng).
+ Về thời gian: Tập trung phân tích, nghiên cứu số liệu trong giai đoạn
từ năm 1993 đến năm 2016
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Có hai phương pháp nghiên cứu được sử dụng:
Thứ nhất, phương pháp phân tích thống kê được dùng để đánh giá, phân
tích thực trạng thu hút ODA tại các tỉnh Duyên hải miền Trung.
Thứ hai, phương pháp phân tích định lượng. Nghiên cứu sử dụng phần mềm
kinh tế lượng STATA để phân tích mô hình hồi quy yếu tố ODA ảnh hưởng đến
tăng trưởng kinh tế các tỉnh Duyên hải miền Trung.
1.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Hiện nay để phát triển kinh tế khu vực Duyên hải miền Trung nếu chỉ sử
dụng các nguồn vốn trong nước là không đủ, do đó ODA là nguồn vốn bổ sung

sự gia tăng về sản lượng hay thu nhập trong nền kinh tế trong một khoảng thời
gian nhất định. Tổng sản lượng quốc gia (GDP) hoặc tổng thu nhập quốc gia
(GNP) thường được dùng để đo lường sản lượng hay thu nhập được tạo ra trong
nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Thời gian thường được báo
cáo theo năm, nhưng cũng có thể được tính theo tháng, quý hay nhiều năm tùy
theo mục đích nghiên cứu. Sự tương tác giữa các bộ phận cấu thành GDP như
tiêu dùng nội địa, đầu tư, chi tiêu chính phủ, cán cân thương mại,… sẽ làm thay
đổi quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Quá trình tăng trưởng kinh tế thể hiện các nguồn lực như tài nguyên thiên
nhiên, vốn, lao động, công nghệ, trình độ quản lý, quan hệ thị trường... được
khai thác và sử dụng có hiệu quả cao nhất. Tăng trưởng kinh tế bao hàm cả tăng
trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng, ngắn hạn và dài
hạn... Quá trình tăng trưởng kinh tế có thể bao gồm tăng trưởng hướng nội, tăng
trưởng hướng ngoại hoặc là sự kết hợp của cả hai tùy điều kiện và sự lựa chọn
chiến lược của các quốc gia. (Nguyễn Văn Phúc, 2014)
2.1.2 Nợ công
Nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách
nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó. Vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được
5


sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ. Tuy
nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản
nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ
của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ
phận của nợ quốc gia. (Nguyễn Văn Phúc, 2014)
Theo Quốc hội (2009), Điều 3 - Luật Quản lý nợ công Việt Nam, nợ công
bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa
phương. Theo đó, nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong
nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh

Tóm lại ODA có thể hiểu một cách chung nhất như sau: ODA là các
khoản cho vay ưu đãi kết hợp với nguồn cho không mà quốc gia này dành cho
quốc gia khác có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Tính ưu đãi của ODA thể hiện
ở phần ODA cho không cộng với các ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, thời
gian ân hạn, lịch trả nợ với phần cho vay. Quốc gia tiếp nhận nguồn hỗ trợ chính
thức sẽ được hưởng ít nhất là 25% so với tổng giá trị nguồn hỗ trợ đó. (Nguyễn
Thị Lan Anh, 2015)
2.2.2 Vai trò của ODA
Vai trò của ODA đối với các quốc gia đang và chậm phát triển là không
thể phủ nhận:
(1) Bổ sung nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế
ODA có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của các
nước đang và chậm phát triển. Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
(CNH- HĐH), vốn đầu tư để tạo cơ sở vật chất nhằm nâng cấp, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội là một vấn đề lớn được đặt ra đối
với nước này. Nguồn lực hạn chế trong nước không cho phép các nước này dễ
dàng thực hiện những mục tiêu phát triển của mình. Trong nghiên cứu của rất
nhiều các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng viện trợ nước ngoài đã có một tác
7


động tích cực trong ngắn hạn và tác động tiêu cực trong dài hạn (Adams & Atsu,
2014). Và không thể bác bỏ giả thiết không có mối quan hệ nhân quả giữa viện
trợ và hiệu quả kinh tế (Burhop, 2005). Feeny, (2007) khẳng định rằng viện trợ
nước ngoài có hiệu quả trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước tiếp nhận,
nhưng hiệu quả của nó có thể phụ thuộc vào một số yếu tố. Một nửa trong tổng
số tác động của viện trợ phát triển có tác động trong vòng hai năm sau khi nó
giải ngân (Feeny & Fry, 2005).
(2) ODA mang lại nguồn lực cho đất nước thông qua những tác động tích
cực của nó đối với sự phát triển kinh tế xã hội ở những nước đang và chậm phát

hội của đầu tư bởi mục tiêu chính của họ là lợi nhuận.
Yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư là sự hoàn chỉnh và
đồng bộ của cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, thể chế pháp luật, ... Tuy nhiên, vốn
đầu tư để thực hiện điều này rất lớn, nếu chỉ dựa vào nguồn vốn hạn chế của
Nhà nước thì không thể đáp ứng được. Bởi vậy, ODA là nguồn vốn bổ sung
quan trọng để xây dựng môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút nguồn vốn
FDI. (Hà Thị Thu, 2014)
2.3 Mô hình tăng trưởng
2.3.1 Mô hình tăng trưởng tân cổ điển
Công trình của Solow (1956) là một công trình tiên phong về mô hình
tăng trưởng tân cổ điển. Mặc dù những mô hình tăng trưởng tân cổ điển khác
được phát triển sau đó nhưng mô hình Solow vẫn là mô hình đặc trưng nhất. Mô
hình này chứa đựng những thành tố cơ bản của những mô hình tăng trưởng tân
cổ điển và các mô hình tân cổ điển khác đều cho ra những kết luận tương tự.
Mô hình Solow bắt đầu với một hàm sản xuất tổng thể gồm ba yếu tố đầu
vào: Vốn, lao động và tiến bộ kỹ thuật. Hàm sản xuất có dạng hàm Cobb Douglas và có hiệu suất không đổi theo quy mô. Hàm này thể hiện hiệu suất
biên giảm dần đối với từng yếu tố đầu vào. Trong dài hạn nền kinh tế đạt đến
9


trạng thái cân bằng dài hạn tại đó vốn trên mỗi đơn vị lao động đang làm việc
là không đổi và do đó, sản lượng đầu ra trên mỗi đơn vị lao động đang làm việc
cũng cố định; nói cách khác tổng vốn và sản lượng đầu ra tăng cùng tốc độ với
tốc độ tăng của lực lượng lao động và tiến bộ kỹ thuật. Sản lượng đầu ra và vốn
bình quân đầu người tăng cùng tốc độ với tốc độ của tiến bộ kỹ thuật ở trạng
thái cân bằng dài hạn. Tiến bộ kỹ thuật được xem như biến ngoại sinh cho trước
của mô hình.
Với những tham số tham chiếu cho trước (tiết kiệm, tốc độ tăng dân số)
và khoa học công nghệ (A), lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển của Robert Solow
(1956) dự báo rằng các quốc gia sẽ hội tụ tại cùng một mức cân bằng chung của

Các mô hình này đều đi đến kết luận giống mô hình Solow. Tại trạng thái cân
bằng ổn định, sản lượng và thu nhập bình quân đầu người tăng cùng vói tốc độ
của tiến bộ kỹ thuật. Hay nói cách khác, tiến bộ kỹ thuật là nhân tố duy nhất của
tăng trưởng dài hạn.
Hạn chế của mô hình tân cổ điển là: nếu tiến bộ kỹ thuật là nhân tố duy
nhất của tăng trưởng dài hạn, vậy cái gì ảnh hưởng đến tiến bộ kỹ thuật? Mô
hình tân cổ điển không trả lời câu hỏi này. Đây là mối quan tâm của trường phái
lý thuyết tăng trưởng nội sinh. (Nguyễn Văn Phúc, 2014)
2.3.2 Mô hình tăng trưởng nội sinh
Không hài lòng với giải thích của trường phái tân cổ điển là tiến bộ kỹ
thuật ngoại sinh là yếu tố duy nhất giải thích tăng trưởng trong dài hạn, từ giữa
những năm 1980, một số nhà kinh tế học đã tìm cách giải thích tiến bộ kỹ thuật
và phát triển những mô hình mà trong đó tăng trưởng dài hạn có thể được tạo ra
từ những yếu tố nội sinh. Mô hình tăng trưởng nội sinh Romer (1994) loại bỏ
giả thuyết của trường phái tân cổ điển về lợi tức biên giảm dần của vốn, theo
cách đó vốn được tích lũy và nhờ vậy tăng trưởng có thể đạt được ngay cả trong
điều kiện không có tiến bộ kỹ thuật. Hiện nay có rất nhiều mô hình tăng trưởng
nội sinh. Chúng ta có thể tạm chia thành các mô hình này thành 3 nhóm chính:
1) mô hình AK; 2) mô hình ngoại tác; 3) mô hình R&D.
11


Trong mô hình AK, giải pháp đầu tiên để tránh được quy luật lợi tức biên
của vốn giảm dần trong lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển là xây dựng hàm sản
xuất tổng thể dưới dạng sau (xem Barro và Salai-Martin 1995, tr. 39-42):
Y = A.K
Với: Y: là sản lượng, K: vốn (bao gồm vốn vật chất và vốn con người)
và A là một hằng số đương thể hiện trình độ kỹ thuật.
Trong phương trình trên, vốn có lợi tức không đổi. Vì thế, mô hình cho
phép tích lũy vốn không giới hạn và tăng hưởng kinh tế dài hạn được đảm bảo.

2.4 ODA tác động đến sự tăng trưởng, phát triển kinh tế
Về mặt lý thuyết, nợ công có tác động cả tích cực lẫn tiêu cực lên tăng
trưởng kinh tế. Về mặt tích cực, theo lý thuyết Keynes (Keynes, 1936), khi chính
phủ tăng chi tiêu thì làm gia tăng tổng cầu, tác động có thể là trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua hệ số nhân trong hàm tổng cầu. Ngoài ra, chi tiêu công còn tác
động lên tổng cung vì nhiều khoản chi tiêu công là chi cho đầu tư, đặc biệt là
chi phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho nền kinh tế. Do sự thất bại của thị
trường trong việc cung cấp hàng hoá công, một số nhà kinh tế ủng hộ sự tham
gia của chính phủ trong việc cung ứng các hàng hoá thiết yếu này. Theo quan
điểm này, đầu tư công có thể bổ sung cho đầu tư tư nhân vì cung cấp các cơ sở
hạ tầng và các hàng hoá quan trọng cho nền kinh tế. Sự phát triển của khu vực
công cũng tạo ra nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cho khu vực tư phát triển. Hiện
nay, tại Việt Nam thì ODA chủ yếu là dạng đầu tư công nhằm phát triển kết cấu
hạ tầng thiết yếu cho nền kinh tế.
Các nhà kinh tế cũng lưu ý nhiều tác động tiêu cực của nợ công. Kumar
và Woo (2010) cho rằng nợ công nợ công có tác động tiêu cực lên tăng trưởng
ở các khía cạnh sau. Nợ công làm tăng lãi suất, theo đó làm giảm đầu tư của khu
vực tư nhân. Nợ công nói chung và ODA nói riêng làm gia tăng khả năng nhà
nước tăng thuế trong tương lai. Nợ công nói chung và ODA nói riêng làm tăng
lạm phát, tăng bất ổn kinh tế vĩ mô. Các yếu tố trên làm giảm đầu tư tư nhân.
Các tác động làm giảm đầu tư tư nhân gọi là tác động “chèn lấn” (crowding13


out). Nói cách khác là đầu tư công làm giảm các nguồn lực dành cho đầu tư tư
nhân, làm tăng chi phí đối vói đầu tư tư nhân. Blanchard (1998) cho rằng chi
tiêu công luôn luôn có tác dụng “chèn ép” (crowding-out) chi tiêu tư nhân.
Chính sách sử dụng việc mở rộng tài khoá để kích thích tổng cầu và tăng trưởng
có tác dụng hạn chế nhất là khi nền kinh tế gần với mức toàn dụng lao động.
Reinhart và Rogoff (2010) cho rằng ảnh hưởng tiêu cực nhất của nợ công lên
tăng trưởng là gánh nặng về thuế trong tương lai và sự bất ổn do gánh nặng này

điểm ở đây không phải là nhà nước càng nhỏ càng tốt mà là nhà nước hiệu quả,
đảm bảo cho thị trường hoạt động tốt. Thất bại thị trường là lý do phổ biến nhất
cho sự can thiệp của nhà nước, với các hình thức phổ biến sau đây của thất bại
thị trường (WB, 1997). Thứ nhất, có sự thất bại của cạnh tranh (độc quyền, bán
độc quyền). Nếu nhà nước không can thiệp thì nhà sản xuất độc quyền bán giá
cao hơn với sản lượng ít hơn. Thứ hai, có sự thất bại hàng hoá công, Nhiều hàng
hoá công thị trường không cung cấp, do đó nhà nước phải cung cấp. Thứ ba, có
sự tồn tại của ngoại tác. Khi tồn tại ngoại tác thì sản lượng của thị trường là
không hiệu quả. Với ngoại tác tiêu cực, người sản xuất có khuynh hướng sản
xuất quá mức. Với ngoại tác tích cực, người sản xuấ có khuynh hướng sản xuất
không đủ. Thứ tư, có sự tồn tại của thông tin bất cân xứng đẫn đến thị trường
không hoàn hảo. Thứ năm, sự mất cân bằng kính tế vi mô tạo ra sự bất ổn định
kinh tế vĩ mô. Thứ sáu, vì lý đo công bằng, nhà nước can thiệp để phân phối lại
thu nhập.
Trong kinh tế học vĩ mô, sự ra đời của lý thuyết Keynes cũng góp phần
vào việc tăng vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Trái với các nhà kinh tế cổ
điển, Keynes cho rằng có những lúc nền kinh tế rơi vào suy thoái hay khủng
hoảng mà không tự điều chỉnh được. Nếu để thị trường tự điều chỉnh thì tình
trạng suy thoái hay khủng hoảng sẽ kéo dài, giống như Cuộc đại suy thoái năm
1929-1933. Keynes chủ trương là nhà nước nên chủ động can thiệp vào nền
kinh tế đặc biệt là gia tăng tổng cầu để thúc đẩy nền kinh tế. Do ảnh hưởng của
Keynes, rất nhiều nước theo đuổi chính sách nhà nước tác động ngày càng nhiều
hơn vào nền kinh tế, dẫn đến sự gia tăng của nợ công. Ở các nước đang phát
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status